Thuật ngữ này thường bị sử dụng như một lời miệt thị, nhưng khái niệm này lại có một lịch sử nghiêm túc - và các Kitô hữu cần phải hiểu nó.

Trong đời sống chính trị đương đại, hiếm có từ nào bị sử dụng một cách tùy tiện hơn từ “ý thức hệ”. Các chính trị gia dùng nó để gạt bỏ đối thủ. Các nhà bình luận dùng nó để giải thích những điều họ không hiểu. Người dân bình thường lại dùng nó để chỉ điều gì đó như những niềm tin mà tôi không đồng tình, hoặc các vấn đề chính trị bị coi trọng quá mức. Tất cả những điều này không phải là ý nghĩa thực sự của thuật ngữ đó, cũng không phải là lý do tại sao nó lại quan trọng.
Nguồn gốc của thuật ngữ
Thuật ngữ idéologie (ý thức hệ / hệ tư tưởng) được triết gia người Pháp Antoine Destutt de Tracy đặt ra vào năm 1796. Ông dùng từ này như một mô tả mang tính khoa học, trung lập: nghiên cứu về các ý tưởng và nguồn gốc của chúng, một dạng giải phẫu trí thức, chứ không nhất thiết hay hoàn toàn chính trị. Chính Napoleon Bonaparte, người ban đầu đã chào đón các idéologues (các nhà tư tưởng) như những nhà trí thức đầy năng lực, về sau đã biến thuật ngữ này thành một sự miệt thị - cáo buộc họ xây dựng nên những hệ thống trừu tượng, tách rời khỏi thực tế chính trị. Như vậy, nghĩa xấu của thuật ngữ này bắt nguồn từ một vị tướng - hoàng đế, người nhận thấy các triết gia thật phiền phức. Chẳng có gì mới mẻ dưới ánh mặt trời: Alexander Đại đế từng hành quyết sử gia và là triết gia chính thức của mình là Callisthenes xứ Olynthus, sau khi ông này phản đối việc Alexander áp dụng các nghi thức triều đình Ba Tư.
Dẫu vậy, khái niệm này chỉ thực sự có được đầy đủ trọng lượng vào thế kỷ 19, đặc biệt là thông qua Karl Marx. Đối với Marx, ý thức hệ không đơn thuần là một hệ thống các ý tưởng - nó là một hệ thống các ý tưởng che giấu điều gì đó cụ thể; tức là những lợi ích vật chất của giai cấp thống trị. Theo nghĩa này, ý thức hệ đồng nghĩa với “ý thức sai lầm”. Nó trình bày một cách sắp xếp quyền lực đặc thù như là điều tự nhiên, phổ quát hoặc do thần linh sắp xếp. Những người lao động tin rằng tình trạng nghèo khổ của mình là điều tất yếu, hoặc là hệ quả từ những khiếm khuyết của chính bản thân họ, thực ra đang sống trong một hệ tư tưởng phục vụ cho lợi ích của người khác.
Khung lý thuyết theo chủ nghĩa Marx này giải thích lý do tại sao thuật ngữ “ý thức hệ” vẫn mang phả hệ của khuynh hướng cánh tả trong tâm trí nhiều người bảo thủ, và tại sao các nhà tư tưởng cánh hữu đôi khi ngần ngại áp dụng khái niệm này cho chính quan điểm của mình. Nhưng cách phân tích này có thể áp dụng cho mọi phía. Một hệ thống các ý tưởng du nhập hệ thống phẩm trật, truyền thống hay bản sắc dân tộc, cũng chính là một ý thức hệ, giống như hệ thống các ý tưởng du nhập đấu tranh giai cấp hay sự bình đẳng triệt để. Công cụ này không mang tính đảng phái. Nó mô tả một cấu trúc, chứ không phải một nội dung.
Khi ý thức hệ không phải là một điều xấu
Được sử dụng mà không mang hàm ý theo quan điểm Marxít, “ý thức hệ” đơn giản là một tập hợp các niềm tin nhất quán, có hệ thống về cách thức tổ chức xã hội – những gì nó coi trọng, những gì nó ưu tiên và những gì nó coi là công bằng. Theo nghĩa này, bất kỳ tác nhân chính trị nào cũng đều sở hữu một ý thức hệ. Vấn đề không nằm ở chỗ bạn có một ý thức hệ hay không, nhưng là liệu bạn có biết được bạn có một ý thức hệ hay không.
Một mức độ nhất quán về ý thức hệ nào đó không những là điều khó tránh khỏi, nhưng còn hữu ích. Con người không thể tiếp cận mọi vấn đề chính trị từ một vị thế của lý trí thuần túy, không qua trung gian. Chúng ta thừa hưởng những khuôn mẫu, truyền thống và trực giác vốn định hình tư duy của mình ngay cả trước khi chúng ta có cơ hội xem xét chúng. Việc làm rõ các khuôn mẫu đó - đặt tên cho chúng, kiểm chứng chúng bằng bằng chứng và lập luận - thực chất lại là cách tiếp cận hợp lý và trung thực hơn. Vấn đề không phải là có một thế giới quan. Vấn đề là nhầm lẫn thế giới quan của bạn với chính thực tại.
Khi ý thức hệ trở nên nguy hiểm
Ý thức hệ trở nên phá hoại tại thời điểm mà hệ thống trở nên khép kín. Một khuôn khổ lành mạnh là khuôn khổ có thể được thách thức, sửa đổi, và thậm chí bị từ bỏ khi nó không còn giải thích được những gì đang diễn ra trước mắt bạn. Theo nghĩa bệnh lý, một ý thức hệ đã trở nên miễn nhiễm với việc bị bác bỏ - trong đó, các bằng chứng trái ngược bị diễn giải lại để củng cố cho hệ thống; những người đưa ra phản đối bị hạ thấp uy tín thay vì nhận được lời giải đáp; và sự phức tạp của đời sống con người thực tế bị hy sinh cho các yêu cầu về sự thuần khiết của các khái niệm.
Hannah Arendt, khi viết về hậu quả của chủ nghĩa toàn trị, đã xác định đây chính là khả năng nguy hiểm nhất của ý thức hệ: khả năng đưa ra các kết luận với một kiểu tất yếu logic, không tùy thuộc vào kinh nghiệm. Người theo ý thức hệ toàn trị không cần phải quan sát những gì đang hiện diện trước mắt. Hệ thống đã cho họ biết điều gì đang tồn tại ở đó. Đây không phải là sự khiếm khuyết về trí tuệ - đó là một sự khiếm khuyết về sự chú tâm, một thái độ khước từ việc để thực tại làm gián đoạn lập luận của mình.
Tin Mừng không phải là một ý thức hệ
Đây là điểm mà vấn đề trở nên trực tiếp mang tính thần học. Trong suốt lịch sử của mình, Kitô giáo đã từng bị lôi kéo vào các dự án thuộc đủ mọi màu sắc ý thức hệ - đế quốc, cách mạng, bảo thủ, giải phóng. Kitô giáo từng được sử dụng để biện minh cho trật tự hiện hữu và để lật đổ trật tự đó. Sự hỗn tạp này không phải là ngẫu nhiên: Tin Mừng khá phong phú, và chứa đựng nhiều điều để nói về công lý, đau khổ, quyền lực, cùng nhân vị, đến nỗi hầu như bất kỳ khuynh hướng chính trị nào cũng có thể tìm thấy chỗ đứng trong đó.
Nhưng tự thân Tin Mừng không phải là một ý thức hệ. Một ý thức hệ, dù là một ý thức hệ tốt đẹp, cũng chỉ là một hệ thống khép kín - nó khởi đầu bằng các nguyên lý rồi từ đó suy ra những kết luận. Còn Tin Mừng lại khởi đầu bằng một con người và một sự kiện. Nhập thể, Thập giá, Phục sinh: đây không phải là những tiên đề để từ đó có thể suy diễn ra một chương trình xã hội. Đó là những khẳng định mang tính lịch sử, làm đảo lộn mọi hệ thống tính toán của con người, kể cả những hệ thống mà chúng ta xây dựng nhân danh những khẳng định này. Câu nói “Nước Ta không thuộc về thế gian này” không có nghĩa là thái độ rút lui khỏi chính trị theo kiểu thụ động - đó là một lời cảnh báo thường hằng, ngăn cản việc đồng nhất hoàn toàn bất kỳ tổ chức trần thế nào với Nước Thiên Chúa.
Khi Tin Mừng bước vào lịch sử, điều Tin Mừng tạo ra không phải là một ý thức hệ duy nhất, nhưng là một tập hợp những căng thẳng thường hẳng: giữa công lý và lòng thương xót, giữa phổ quát và địa phương, giữa những đòi hỏi của hiện tại và niềm hy vọng vào những gì đang đến. Những căng thẳng này không phải là các vấn đề cần được giải quyết. Chúng chính là diện mạo của đời sống Kitô giáo trên các phương diện trí tuệ, tâm linh, kinh tế, xã hội và chính trị.
Mọi lối diễn nghĩa (hermeneutic) đều là một rủi ro
Mối nguy tinh vi hơn nằm ở chỗ: bất kỳ lối đọc Tin Mừng nào cũng chỉ là một lối đọc - nghĩa là nó luôn bị định hình bởi những giả định, mối quan tâm và cả những điểm mù của chính người đọc. Thần học giải phóng đọc biến cố Xuất Hành như một mô hình cho sự giải phóng chính trị. Thuyết toàn diện (integralism) đọc mầu nhiệm Nhập Thể như một mệnh lệnh phải sắp đặt quyền lực trần thế hướng tới những mục đích vĩnh cửu. Nền thần học thịnh vượng lại đọc các lời hứa trong Kinh Thánh qua lăng kính của sự thành công về mặt vật chất. Mỗi lối đọc này đều là một lối thông giải, một khung giải thích. Và mỗi lối diễn nghĩa, nếu nó trở thành một hệ thống cứng nhắc qua đó nơi mọi lối đọc khác đều bị sàng lọc rồi loại bỏ, đều có thể trở thành một ý thức hệ.
Đây không phải là lập luận ủng hộ chủ nghĩa hư vô trong diễn nghĩa học – ý tưởng cho rằng mọi lối đọc đều có giá trị ngang nhau hoặc đều tùy tiện như nhau. Một số lối đọc trung thành hơn với văn bản, chú tâm hơn đến truyền thống, trung thực hơn về những hạn chế của chính mình và, như thế, trung thành với sự thật hơn. Nhưng đây là lập luận ủng hộ một kiểu khiêm nhường trí tuệ đặc thù: sự thừa nhận rằng Tin Mừng luôn vượt xa những gì mà bất kỳ cá nhân người đọc, cộng đồng, hay thời điểm lịch sử nào đều có thể khai thác từ đó.
Giáo hội có một Huấn quyền chính là vì không một lối đọc cá nhân nào có giá trị cao nhất. Truyền thống tồn tại chính là vì sự thấu hiểu sâu xa của mỗi thế hệ cũng đồng thời là điểm mù của mỗi thế hệ. Và quy điển Thánh Kinh chứa đựng những căng thẳng và bất đồng, vốn không chịu bị cào bằng thành một hệ thống nhất quán duy nhất – bao gồm cả những hệ thống mà chúng ta cảm thấy phù hợp với mình nhất.
Đọc Tin Mừng mà không có ý thức hệ nào có lẽ là điều không thể. Đọc Tin Mừng trong khi vẫn luôn tỉnh táo nhận thức về ý thức hệ mà chính mình đang áp đặt lên Tin Mừng - đó là một nhiệm vụ thường xuyên. Điều này đòi hỏi điều mà thánh Tôma Aquinô gọi là một loại nghèo khó trí thức: sẵn sàng được ngạc nhiên, được điều chỉnh, và được vượt xa bởi chính những gì văn bản thực sự nói.
Tý Linh chuyển ngữ
(theo Daniel Esparza, Aleteia)
