Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Jürgen Habermas, Triết Gia Về Đạo Đức Học Diễn Ngôn Tìm Kiếm Chân Lý

Nhà triết học vĩ đại về "đạo đức học diễn ngôn" đã qua đời vào ngày 14 tháng 3 tại Bavaria ở tuổi 96. Nhà lý luận về nền dân chủ hiện đại này đã tìm cách thúc đẩy ý thức về một nền tảng chung trong một thế giới tương đối chủ nghĩa. Cha Clément Barré, một linh mục của Giáo phận Bordeaux, nhớ lại cuộc trao đổi đáng nhớ mà Habermas đã có với Đức Hồng y Joseph Ratzinger vào năm 2004 về việc tìm kiếm chân lý trong một xã hội đa nguyên.

Nhà triết học người Đức Jürgen Habermas được biết đến nhiều nhất trong giới Kitô giáo là một trong những người đối thoại sắc sảo nhất của ĐHY Joseph Ratzinger. Cái chết của ông vào ngày 14 tháng Ba đã lấy đi của chúng ta không chỉ một nhà triết học vĩ đại, mà còn là một trong những người đối thoại vĩ đại cuối cùng của châu Âu Kitô giáo. Habermas không phải là một tín đồ, cũng không phải là một đồng minh, hay một người bạn đường. Ông không chia sẻ đức tin của Giáo hội, cũng không chia sẻ siêu hình học, hay niềm hy vọng của Giáo hội. Nhưng ông thuộc về một nhóm đối thủ hiếm hoi, đủ nghiêm túc để buộc người khác phải suy nghĩ tốt hơn.

Sự vĩ đại của Jürgen Habermas

Để tưởng nhớ ông, việc xem lại cuộc đối thoại giữa ông và ĐHY Joseph Ratzinger là điều hữu ích. Cuộc đối thoại này được cô đọng lại trong cuộc tranh luận lớn của họ tại Munich năm 2004, nhưng những dư âm của nó vẫn còn được tìm thấy trong các tác phẩm của cả hai người. Chủ đề có vẻ khắc khổ: "Những nền tảng luân lý tiền chính trị của Nhà nước tự do". Tuy nhiên, ẩn dưới cách diễn đạt mang tính học thuật này là một vấn đề nóng bỏng: điều gì vẫn cho phép một xã hội tự do đứng vững? Điều gì ngăn cản nền dân chủ trở thành một thủ tục vô hồn, một cỗ máy hoạt động mà không biết tại sao?

Jürgen Habermas là triết gia có một trực giác rất hiện đại: trong một xã hội đa nguyên, người ta không thể xây dựng đời sống chung trên một chân lý được mặc khải mà không phải ai cũng công nhận. Do đó, cần phải tìm kiếm những gì là công lý theo một cách khác. Không còn bằng cách nhận lấy nó từ trên cao, mà bằng cách thách thức nó thông qua thảo luận. Câu hỏi lớn không còn là: ai nắm giữ chân lý? Nó trở thành: làm thế nào những người tự do có thể thảo luận một cách khá trung thực, khá hợp lý, khá cởi mở, để một quyết định được coi là hợp pháp? Công lý không còn bắt nguồn từ một trật tự thánh thiêng; nó được tìm kiếm trong đối thoại có lý lẽ và được chia sẻ. Tất cả sự vĩ đại của Habermas nằm ở đó: tin rằng phẩm chất của sự thảo luận có thể bảo vệ đời sống cộng đồng chống lại sự độc đoán, bạo lực và thống trị.

Tạo dựng một nền tảng chung

Niềm tin vào đạo đức học diễn ngôn nảy sinh từ một nhu cầu lịch sử: đó là tạo dựng một nền tảng chung trong một thế giới không còn chia sẻ cùng những điểm tham chiếu tối hậu. Khi luật pháp không còn có thể được suy diễn từ một chân lý siêu việt được tất cả mọi người công nhận, thì còn phải đặt luật pháp dưới sự kiểm chứng của lời nói, lập luận và thảo luận. Habermas là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại về tình trạng hiện đại này: làm thế nào để tiếp tục xây dựng một thế giới chung khi thế giới đó đã trở nên câm điếc trước tiếng nói của trời cao.

« Điều làm cho cuộc trao đổi này trở nên quý giá, đó là nó không phải là một cuộc đọ sức nực cười, cũng không phải là một sự hòa giải nhu nhược ».

Nhưng ông quá sáng suốt để không nhận ra sự mong manh của một dự án như thế. Một xã hội có thể tổ chức thảo luận một cách đáng ngưỡng mộ, nhưng lại thiếu nền tảng luân lý làm cho cuộc thảo luận đó khả thi. Nó có thể biết tranh luận, bỏ phiếu, phân xử, nhưng lại không còn biết tại sao việc sống chung lại đáng giá. Nó có thể có những thủ tục công bằng, nhưng tâm hồn lại kiệt quệ. Hơn nữa, chính Habermas cũng không giảm thiểu chính trị thành một cơ chế thảo luận đơn thuần: Đức Bênêđíctô XVI đã ghi nhận nơi ông ý tưởng rằng tranh luận công khai phải luôn là một "quá trình lập luận nhạy cảm với sự thật" (Bài phát biểu tại Đại học La Sapienza, Rôma, ngày 17 tháng 1 năm 2008). Điều này còn hơn cả vấn đề phương pháp. Nó có nghĩa là một thành quốc không tồn tại chỉ đơn giản vì nó lên tiếng, nhưng vì nó vẫn đang tìm kiếm điều gì đó xứng đáng được công nhận là chân lý, công bằng và tốt đẹp.

Một vấn đề triệt để

Đây là lúc cuộc đối thoại với Ratzinger đạt đến chiều sâu thực sự. Đức Bênêđíctô XVI tương lai không đáp lại Habermas bằng nỗi hoài niệm về một Kitô giới đã mất. Ngài đặt ra một vấn đề triệt để hơn: liệu một lý trí, không còn muốn tiếp nhận bất cứ điều gì ngoài những gì nó tự tạo ra, có thể xây dựng bền vững một đời sống chung hay không? Hay nó sống, mà thường không biết, dựa vào một di sản cũ mà nó tiếp tục sử dụng sau khi đã ngừng công nhận nó?

« Đọc lại cuộc trao đổi này ngày nay, người ta có cảm giác về một cuộc tranh luận gần như khó tìm thấy. Các xã hội chúng ta vẫn biết quản lý, điều tiết và tạo ra các chuẩn mực. Nhưng họ ngày càng khó nói thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, thế nào là một chân lý ràng buộc ».

Điều làm cho cuộc trao đổi này trở nên quý giá, đó là nó không phải là một cuộc đọ sức nực cười, cũng không phải là một sự hòa giải nhu nhược. Jürgen Habermas đã buộc Kitô giáo phải chấp nhận thách thức của việc thể hiện, phải lên tiếng công khai mà không ngay lập tức viện dẫn một thẩm quyền mà không phải ai cũng chia sẻ. Về phần mình, Joseph Ratzinger đã buộc nền hiện đại thế tục phải thừa nhận rằng nhân quyền, ngay cả ý niệm về tự do và liên đới, không trôi nổi trên mây trời. Chúng có một lịch sử. Chúng mang một di sản Thánh Kinh và Kitô giáo mà châu Âu hiện đại đôi khi thích sử dụng trong khi giả vờ đã vượt qua nó.

Một cuộc tranh luận trở nên khó tìm thấy

Đọc lại cuộc trao đổi này ngày nay, người ta có cảm giác về một cuộc tranh luận gần như khó tìm thấy. Các xã hội chúng ta vẫn biết quản lý, điều tiết và tạo ra các chuẩn mực. Nhưng họ ngày càng khó nói thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, thế nào là một chân lý ràng buộc, những gì một nền văn minh muốn truyền tải và tại sao nó muốn truyền tải điều đó. Đây chắc chắn là lý do tại sao cuộc đối thoại giữa Habermas và Đức Bênêđíctô XVI vẫn giữ được sức mạnh như vậy. Nó không chỉ liên quan đến tôn giáo hay tính thế tục. Sâu sắc hơn, nó liên quan đến chính khả năng về một thế giới chung.

------------------------------------------------

Tý Linh chuyển ngữ

(nguồn: Clément Barré, Aleteia)

-----------------------------------------------------------------

Xem thêm cuộc tranh luận khác của ĐHY Ratzinger với một triết gia vô thần về đề tài "Đức tin có tương thích với lý trí không?" ở đây.