Nhân lễ trọng kính hai thánh Phêrô và Phaolô, Đức Lêô XIV đã cử hành thánh lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Bài giảng của ngài cho thấy hai thánh Tông đồ là gương sáng về “sự hiệp thông của Giáo hội” cũng như về “sức sống của đức tin”. “Được cảm hóa bởi chứng từ của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta hãy cùng nhau bước đi trong đức tin và trong sự hiệp thông,” Đức Thánh Cha khẳng định như thế, trước khi trao dây pallium cho 54 tân Tổng Giám mục. Ngài đặc biệt mời gọi các Kitô hữu “hãy cam kết dấn thân biến những khác biệt của chúng ta thành một phòng xét nghiệm của sự hiệp nhất và hiệp thông, tình huynh đệ và hòa giải, để mỗi người trong Giáo hội, với lịch sử cá nhân của mình, học cách bước đi với người khác”, hầu góp phần vào việc loan báo Tin Mừng.

Dưới đây là bài giảng của Đức Thánh Cha :
Anh chị em thân mến,
Hôm nay chúng ta mừng hai người anh trong đức tin, thánh Phêrô và thánh Phaolô, mà chúng ta nhìn nhận là trụ cột của Giáo hội và chúng ta tôn kính như những vị quan thầy của giáo phận và thành phố Rôma.
Câu chuyện về hai thánh Tông đồ này cũng chất vấn chúng ta cách sâu xa, chúng ta, những người hình thành nên cộng đoàn các môn đệ của Chúa đang lữ hành trong thời đại này. Nhìn vào chứng tá của các ngài, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh hai khía cạnh: sự hiệp thông trong Giáo hội và sức sống của đức tin.

Trước hết, sự hiệp thông trong Giáo hội. Quả thật, Phụng vụ của lễ trọng này cho chúng ta thấy thánh Phêrô và thánh Phaolô được mời gọi sống một số phận duy nhất, đó là tử đạo, một số phận dứt khoát kết hợp các ngài với Chúa Kitô. Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta thấy thánh Phêrô ở trong tù đang chờ thi hành án (x. Cv 12,1-11); trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô Tông đồ, ngài cũng bị xiềng xích, đã khẳng định như một loại di chúc rằng máu của ngài sẽ đổ ra và được dâng lên Thiên Chúa (x. 2 Tm 4, 6-8.17-18). Cả thánh Phêrô và thánh Phaolô đều hiến mạng sống mình vì Tin Mừng.
Tuy nhiên, sự hiệp thông trong lời tuyên xưng đức tin duy nhất này không phải là một cuộc chinh phục bình yên. Hai thánh Tông đồ đã đạt tới điều đó như một mục đích sau một cuộc hành trình dài, trong đó mỗi người đã đón nhận đức tin và sống sứ vụ tông đồ một cách khác nhau. Tình huynh đệ trong Thánh Thần của các ngài không xóa bỏ được những khác biệt của các ngài ngay từ đầu: Simon là một ngư phủ xứ Galilêa, Saun là một trí thức nhiệm nhặt thuộc phe Pharisêu; Simon đã lập tức bỏ tất cả để theo Chúa; Saun đã bách hại các Kitô hữu cho đến khi ông được Chúa Kitô phục sinh biến đổi; thánh Phêrô rao giảng đặc biệt cho người Do Thái; thánh Phaolô được thúc đẩy để mang Tin Mừng đến cho mọi dân tộc.

Giữa hai đấng, như chúng ta biết, không thiếu những xung đột liên quan đến mối quan hệ với dân ngoại, đến mức thánh Phaolô khẳng định: “Khi ông Kêpha đến Antiôkia, tôi đã cự lại ông ngay trước mặt, vì ông đã làm điều đáng trách” (Gl 2,11). Và vấn đề này, như chúng ta biết, sẽ được Công đồng Giêrusalem giải quyết, nơi hai Tông đồ sẽ lại đụng độ nhau.
Các bạn rất thân mến, câu chuyện của thánh Phêrô và thánh Phaolô dạy chúng ta rằng sự hiệp thông mà Chúa mời gọi chúng ta là sự hòa hợp giữa tiếng nói và khuôn mặt vốn không hủy bỏ sự tự do của mỗi người. Các thánh quan thầy của chúng ta đi theo những con đường khác nhau, có những ý tưởng khác nhau, đôi khi họ đối chất với nhau và đương đầu với sự thẳng thắn của Tin Mừng. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản họ sống concordia apostolorum, nghĩa là sự hiệp thông sống động trong Thánh Thần, một sự hòa hợp phong nhiêu trong tính đa dạng. Như thánh Augustinô nói: “Một ngày lễ chung kính hai vị Tông đồ. Nhưng hai vị xưa kia cũng chỉ là một. Mặc dù các ngài đã chịu tử đạo vào những ngày khác nhau, nhưng các ngài chỉ là một” (Bài giảng 295, 7.7).

Tất cả những điều này chất vấn chúng ta về con đường hiệp thông trong Giáo hội, được phát sinh từ sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Đấng kết hợp những sự đa dạng và tạo ra những nhịp cầu hiệp nhất trong sự đa dạng của các đặc sủng, các ân huệ và các thừa tác vụ. Điều quan trọng là học cách sống hiệp thông như thế, như sự hiệp nhất trong sự đa dạng, để sự đa dạng của các ân huệ, được liên kết trong việc tuyên xưng cùng một đức tin, góp phần vào việc loan báo Tin Mừng. Chính trên con đường này mà chúng ta được mời gọi bước đi, bằng cách nhìn thẳng vào thánh Phêrô và thánh Phaolô, bởi vì tất cả chúng ta đều cần đến tình huynh đệ này. Giáo hội cần nó, các mối tương quan giữa giáo dân và linh mục, giữa linh mục và giám mục, giữa giám mục và Giáo hoàng đều cần nó; cũng thế đời sống mục vụ, đối thoại đại kết và các mối tương quan tình bạn mà Giáo hội mong muốn duy trì với thế giới đều cần đến nó. Chúng ta hãy cam kết dấn thân biến những khác biệt của chúng ta thành một phòng xét nghiệm của sự hiệp nhất và hiệp thông, tình huynh đệ và hòa giải, để mỗi người trong Giáo hội, với lịch sử cá nhân của mình, học cách bước đi với người khác.
Thánh Phêrô và thánh Phaolô cũng chất vấn chúng ta về sức sống của đức tin chúng ta. Thật vậy, trong kinh nghiệm của người môn đệ, luôn có nguy cơ rơi vào thói quen, vào chủ nghĩa nghi thức, vào các sơ đồ mục vụ lặp đi lặp lại mà không được đổi mới và không đáp ứng được những thách đố của hiện tại. Trái lại, trong câu chuyện của hai thánh Tông Đồ, chúng ta được truyền cảm hứng từ ước muốn của các ngài mở ra cho những thay đổi, để cho mình được chất vấn bởi những biến cố, những cuộc gặp gỡ và những hoàn cảnh cụ thể của các cộng đồng, tìm kiếm những con đường mới cho việc loan báo Tin Mừng khởi từ những vấn đề và những vấn nạn được đặt ra bởi anh chị em của chúng ta trong đức tin.

Ở trọng tâm của bài Tin Mừng mà chúng ta đã nghe, chính là câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ của Người, và Người cũng ngỏ với chúng ta ngày nay, để chúng ta có thể phân định liệu hành trình đức tin của chúng ta có còn năng động và sức sống hay không, liệu ngọn lửa tương quan với Chúa vẫn còn thắp sáng hay không: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16, 15).
Mỗi ngày, ở mỗi giờ của lịch sử, chúng ta phải luôn chú ý đến vấn đề này. Nếu chúng ta không muốn con người Kitô hữu của mình bị biến thành di sản của quá khứ, như Đức Thánh Cha Phanxicô thường nhắc nhở chúng ta, thì điều quan trọng là phải ra khỏi nguy cơ của một đức tin mệt mỏi và tĩnh tại, để tự hỏi: Chúa Giêsu Kitô là ai đối với chúng ta ngày nay? Người chiếm vị trí nào trong đời sống chúng ta và trong hoạt động của Giáo hội? Làm thế nào chúng ta có thể làm chứng cho niềm hy vọng này trong đời sống hằng ngày của mình và loan báo niềm hy vọng đó cho những người chúng ta gặp gỡ?

Thưa anh chị em, việc thực thi sự phân định, vốn nảy sinh từ những câu hỏi này, cho phép đức tin của chúng ta và Giáo hội liên tục đổi mới chính mình và trải nghiệm những nẻo đường mới và những thực hành mới để loan báo Tin Mừng. Điều này, với sự hiệp thông, phải là ước muốn đầu tiên của chúng ta. Hôm nay tôi muốn nói riêng với Giáo hội ở Rôma, vì hơn bất kỳ nơi nào khác, Giáo hội này được kêu gọi trở thành dấu chỉ của sự hiệp nhất và hiệp thông, một Giáo hội nhiệt thành với một đức tin sống động, một cộng đồng các môn đệ làm chứng cho niềm vui và niềm an ủi của Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh của con người.

Trong niềm vui về sự hiệp thông mà hành trình của thánh Phêrô và thánh Phaolô mời gọi chúng ta vun trồng, tôi xin chào các anh em Tổng Giám mục sẽ nhận dây pallium hôm nay. Anh em rất thân mến, dấu hiệu này, trong khi nhắc nhở nhiệm vụ mục vụ được giao phó cho anh em, diễn tả sự hiệp thông với Giám mục Rôma, để, trong sự hiệp nhất của đức tin Công giáo, mỗi người trong anh em có thể nuôi dưỡng sự hiệp nhất đó trong các Giáo hội địa phương được giao phó cho anh em.
Tiếp đến, tôi muốn chào mừng các thành viên của Thượng Hội đồng Giáo hội Công giáo Hy Lạp Ucraina: cám ơn sự hiện diện của anh em ở đây và lòng nhiệt thành mục vụ của anh em. Xin Chúa ban hòa bình cho dân tộc của anh em!

Và với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chào phái đoàn của Tòa Thượng phụ đại kết, được Đức Bartôlômêô, người anh em rất thân yêu của tôi, cử đến đây.
Anh chị em thân mến, được cảm hóa bởi chứng từ của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta hãy cùng nhau bước đi trong đức tin và trong sự hiệp thông, và chúng ta hãy cầu xin các ngài chuyển cầu cho tất cả chúng ta, cho thành phố Rôma, cho Giáo hội và cho toàn thế giới.
——————————
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn : vatican.va)
