Mỗi vùng miền đều có nỗi khổ riêng mà chỉ người trong cuộc mới hiểu. Nơi vùng núi, người ta phải đối diện với sạt lở, lũ ống và lũ quyét trong đêm. Nơi miền biển, người ta nơm nớp lo sợ trước cơn sóng dữ và bão giông đổ về. Còn ở vùng lũ, nỗi khổ ấy cũng lớn lắm, âm thầm mà day dứt.

Trước đây, tôi nghe nói: “Người vùng lũ khổ lắm”. Tôi biết. Tôi hiểu. Nhưng tôi chưa từng “cảm” được. Chỉ đến khi vào học tại Đại Chủng viện Huế, tôi mới phần nào thấu hiểu. Nỗi khổ ấy không chỉ đến, rồi đi. Nó kéo dài, triền miên và nhiều khi tuyệt vọng. Sự tuyệt vọng ấy có thể được chia thành ba giai đoạn.
Giai đoạn đầu tiên là đón lũ. Với biết bao lo lắng, vội vàng, tất bật, họ dời đồ đạc lên cao, chuyển gia súc đến nơi an toàn. Nhưng rồi, họ tuyệt vọng, khi nước lũ dâng cao hơn dự tính.
Giai đoạn thứ hai là sống với lũ. Đây là sự tuyệt vọng kéo dài nhiều ngày, trong sự cô lập, trong cái đói và cái rét.
Giai đoạn cuối cùng là “chạy theo lũ”. Trực chờ dòng nước xuống trong vô vọng để kịp dọn bùn theo lũ.

Lũ về lặng lẽ. Ban đầu chỉ là cơn mưa nhỏ, rả rích, dai dẳng, nhỏ thôi, tưởng chừng vô hại. Nhưng rồi, nước trên núi tràn xuống, nước ngoài sông dâng lên, đục ngầu, lầm lì, mà cuồn cuộn. Rồi thêm nước do thủy điện xả lũ. Con đường làng biến mất. Ruộng đồng hóa biển trắng. Những mái nhà thấp dần. Người ta hối hả gọi nhau, bồng bế, khiêng vác, chạy đua với dòng nước. Tiếng mưa hoà trong tiếng khóc, tiếng gọi, tiếng chân người hối hả. Người già, trẻ con co cụm trên gác nhỏ.
Những nỗi đau ấy, nhiều người đã viết, đã hiểu. Tôi chẳng kể lại. Nhưng tôi muốn viết đôi điều về việc “chạy theo lũ”.

Giờ đây, tôi mới hiểu “chạy theo lũ” là gì. “Chạy theo lũ” là việc tận dụng dòng lũ đã mang bùn về để cuốn bùn đi. Bởi khi lũ về, mang theo bùn sình, rơm rác và mọi thứ nó cuốn theo. Có thể, đó là nguồn sống của biết bao thế hệ, khi chúng làm cho đất đai tươi tốt, mùa màng bội thu. Nhưng đối với những người trong lũ, khi đã quá mệt mỏi chiến đấu nhiều ngày, thì lớp bùn ấy trở thành gánh nặng. Lớp bùn ấy có khi dày cả gang tay, phủ kín khắp nơi: ngoài sân, trong nhà, trên giường, dưới tủ… Nếu chậm tay, bùn đọng lại, đóng thành mảng, khô cứng, mất hàng tuần mới dọn xong. Vì vậy, người vùng lũ phải trực, phải chạy theo từng đợt nước rút để dọn cho kịp.
Trong Chủng viện, khi đã xác định sống chung với lũ nhiều ngày, từng khu nhà vẫn luôn có các thầy ngồi giữa đêm tối, không điện, không đèn. Giữa cái rét của mưa miền trung, cái lạnh của việc dìm lâu trong nước lũ, có người lần chuỗi, người suy niệm, cầu nguyện, người tâm sự về nỗi lo nơi quê nhà khi lũ về. Nhưng dù làm gì, mắt họ vẫn dõi theo dòng nước đang dâng lên, rút xuống.

Chỉ cần lũ rút nhẹ, công việc lại bắt đầu. Các thầy có phiên trực khuấy nước, đánh tan bùn, để chúng âm thầm trôi theo dòng nước. Nhưng khi lũ rút nhanh, tiếng chuông gấp gáp vang lên, báo hiệu cuộc “chạy theo lũ” bắt đầu.
Khi chuông báo động vang lên, các thầy nhanh chóng tập trung theo khu vực đã được phân chia. Giữa đêm tối, không ai bảo ai, mỗi người tự tìm cho mình những gì có thể được tận dụng được: chổi, thau, chậu, xô…, thậm chí cả thùng rác, xô lau sàn… cũng hoá thành công cụ dội bùn. Người khuấy, người đẩy, người dội, người quét. Dưới ánh đèn le lói, từng bóng người lướt qua nhau trong im lặng, chỉ còn tiếng chổi, tiếng bước chân và hơi thở dồn dập trong đêm mưa. Công việc này có khi kéo dài cả đêm hoặc nhiều giờ tuỳ theo mức độ lũ rút.

Đến khi trời ửng sáng, những gương mặt tái đi vì thiếu ngủ và ngâm nước lâu giờ. Ai nấy đều bơ phờ, mệt mỏi nhưng ánh lên niềm vui: Lũ đã qua, bùn đã đi, người còn ở lại.

Tôi biết, đôi dòng cảm nhận này chẳng thể diễn tả hết nỗi lòng của những con người từng đi qua mùa nước nổi. Nhưng hy vọng, những người miền núi giống như tôi có cái nhìn mới về việc “chạy theo lũ”.
Giuse Nguyễn Duy Thế