BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC LÊÔ XIV, CHÚA NHẬT XXIX T.N NĂM C – LỄ TUYÊN THÁNH: CÁC THÁNH LUÔN GIỮ CHO NGỌN ĐÈN ĐỨC TIN LUÔN CHÁY SÁNG

Đức Lêô XIV cử hành Thánh lễ tuyên thánh cho bảy vị Chân phước, và nhắc nhở các Kitô hữu về sự cần thiết phải cầu nguyện với Thiên Chúa một cách nhiệt thành và tin tưởng, ngay cả khi chúng ta phải đối mặt với những thử thách và đau khổ. Đối với ngài, cần tránh hai cám dỗ: nghĩ rằng Thiên Chúa không nghe được tiếng kêu khóc của con người, và đòi hỏi Thiên Chúa phải hành động như chúng ta muốn. Đức Thánh Cha nhắc nhớ, bảy vị Thánh mới “giữ cho ngọn đèn đức tin luôn cháy sáng” và ước gì gương sáng của các ngài thôi thúc chúng ta trong ơn gọi chung là nên thánh.

Bảy vị Thánh mới là Vincenza Maria Poloni (Ý), María Rendiles Martínez (Venezuela), Maria Troncatti (Ý), Đức cha Ignace Choukrallah Maloyan (Thổ Nhĩ Kỳ), José Gregorio Hernández Cisneros (Venezuela), Peter To Rot (Papouasie-Nouvelle-Guinée) và Bartolo Longo (Ý).

Dưới đây là bài giảng của Đức Thánh Cha, ngày 19/10/2025:

Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy bắt đầu bài suy niệm với câu hỏi kết thúc Tin Mừng vừa được công bố: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Câu hỏi này cho chúng ta thấy đâu là điều quý giá nhất trong mắt của Chúa: đức tin, tức là, mối dây liên kết tình yêu giữa Thiên Chúa và con người. Hôm nay, chúng ta có bảy chứng nhân trước mắt mình, những vị Thánh mới, nhờ ơn Thiên Chúa, các ngài đã giữ ngọn đèn đức tin cháy sáng. Thật vậy, chính các ngài trở nên những ngọn đèn có thể lan tỏa ánh sáng của Chúa Kitô.

Khi chúng ta lưu tâm đến những kho tàng vật chất, văn hóa, khoa học và nghệ thuật, thì đức tin chiếu sáng không phải bởi bì những của cải này bị xem nhẹ, nhưng bởi vì nếu không có đức tin, chúng sẽ mất đi ý nghĩa. Mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa thật quan trọng vô cùng bởi vì ngay từ buổi đầu, Người tạo dựng mọi sự từ hư vô, và lúc cùng tận, Người sẽ cứu loài người phải chết cũng từ hư vô. Vậy nên, một thế giới không có đức tin sẽ đầy rẫy những đứa trẻ sống mà không có Cha, tức là những thụ tạo mà không có ơn cứu độ.

Vì lẽ đó, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, hỏi về đức tin: nếu nó biến mất khỏi thế giới, điều gì sẽ xảy ra? Trời đất vẫn sẽ không thay đổi, nhưng chẳng còn niềm hy vọng trong lòng chúng ta; sự tự do của mọi người sẽ bị tử thần đánh bại; khát vọng của chúng ta sẽ tan biến vào hư vô. Không có niềm tin vào Thiên Chúa, chúng ta chẳng thể hy vọng ơn cứu độ. Câu hỏi của Đức Giêsu có thể khiến chúng ta bối rối, nhưng chỉ khi chúng ta quên rằng chính Đức Giêsu đặt ra. Thật ra, những lời của Chúa luôn luôn là ‘Tin Mừng’, lời loan báo đầy vui mừng về ơn cứu độ. Ơn cứu độ này chính là ân ban sự sống đời đời mà chúng ta nhận lãnh từ Chúa Cha, qua Chúa Con, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.

Các bạn thân mến, đây chính là lý do vì sao Chúa Kitô nói với các môn đệ của Ngài phải ‘cầu nguyện luôn, không được nản chí’ (Lc 18, 1).  Cũng như chúng ta không bao giờ mệt mỏi khi thở, cũng thế chúng ta đừng mỏi mệt khi cầu nguyện! Cũng như hít thở duy trì sự sống của cơ thể, cũng thế cầu nguyện duy trì sự sống của tâm hồn: thật vậy, đức tin được diễn tả qua lời cầu nguyện, và lời cầu nguyện chân thật sống nhờ đức tin.

Đức Giêsu cho chúng ta thấy sự kết nối này bằng một dụ ngôn: ông quan tòa vẫn làm ngơ trước lời cầu xin khẩn thiết của một bà góa, mà sự kiên nhẫn của bà cuối cùng cũng khiến ông hành động. Thoạt nhìn, sự kiên trì như thế để lại cho chúng ta một mẫu gương thật đẹp về niềm hy vọng, đặc biệt trong những lúc thử thách và khổ đau. Tuy nhiên, sự kiên nhẫn của người phụ nữ ấy và viên quan tòa với hành động miễn cưỡng, tạo tiền đề cho một câu hỏi đầy gợi hứng từ Đức Giêsu: liệu Thiên Chúa, là Cha nhân từ, “lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao” (Lc 18, 7).

Chúng ta hãy để những lời này vang lên trong lòng mình: Chúa đang hỏi chúng ta liệu chúng ta có tin rằng Thiên Chúa là Vị Thẩm phán công bình đối với mọi người không. Người Con hỏi chúng ta rằng liệu chúng ta có tin rằng Chúa Cha luôn muốn điều tốt lành cho chúng ta và ơn cứ độ cho hết mọi người không. Về điểm này, hai cám dỗ thử thách đức tin của chúng ta: cám dỗ đầu tiên lấy sức mạnh từ cớ vấp phạm của sự dữ, khiến chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa không nghe được tiếng kêu khóc của người bị áp bức cũng như không thương xót những người vô tội đang chịu đau khổ. Cám dỗ thứ hai chính là đòi hỏi Thiên Chúa phải hành động như chúng ta muốn: khi đó, lời cầu nguyện bị biến thành một mệnh lệnh cho Thiên Chúa, để dạy Người biết thế nào là công bằng và hiệu quả.

Đức Giêsu, chứng tá trọn hảo của niềm tin con thảo, giải thoát chúng ta khỏi hai cám dỗ ấy. Ngài là Đấng vô tội, đặc biệt trong cuộc Khổ Nạn của mình, đã cầu nguyện như sau: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được thực hiện” (x. Lc 22, 42). Vị Tôn Sư ban cho chúng ta những lời tương tự trong Kinh Lạy Cha. Chúng ta hãy nhớ rằng dẫu bất cứ điều gì xảy đến với mình, với tư cách là Con, Đức Giêsu vẫn trao phó chính bản thân cho Chúa Cha. Vì vậy, chúng ta là anh chị em nhờ danh Ngài, nên chúng ta có thể tuyên xưng: Lạy Cha chí thánh, nhờ Con yêu quý của Cha là Chúa Giêsu Kitô, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II, Kinh Tiền tụng).

Lời cầu nguyện của Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa ban ơn công chính cho tất cả mọi người, trao ban sự sống của Người cho hết mọi người. Vì thế, khi chúng ta kêu lên cùng Chúa, Chúa ở đâu?”, chúng ta hãy biến lời cầu khẩn này thành lời cầu nguyện, và rồi chúng ta sẽ nhận ra rằng Thiên Chúa hiện diện ở nơi mà những người vô tội đang đau khổ. Thập giá của Chúa Kitô biểu lộ công lý của Thiên Chúa, và công lý ấy chính là sự tha thứ. Người nhìn thấy sự dữ và chuộc lấy nó bằng cách mang lên mình. Khi chúng ta bị ‘đóng đinh’ bởi đau khổ và bạo lực, hận thù và chiến tranh, Chúa Kitô đã ở đó rồi, trên thập giá vì chúng ta và với chúng ta. Chẳng có tiếng khóc than nào mà Thiên Chúa không ủi an; chẳng có giọt lệ nào xa khỏi trái tim Người. Chúa lắng nghe, ôm lấy chúng ta như chúng ta là, và biến đổi chúng ta nên giống Người. Tuy nhiên, những ai chối từ lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn không có khả năng thương xót người thân cận. Những ai không đón nhận sự bình an như là một món quà sẽ không biết cách trao ban bình an.

Các bạn thân mến, bây giờ chúng ta hiểu rằng những câu hỏi của Đức Giêsu chính là lời mời gọi hy vọng và hành động đầy mạnh mẽ: khi Con Người đến, liệu còn thấy đức tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa không? Thật vậy, chính đức tin này nâng đỡ lời cam kết dấn thân của chúng ta cho công lý, chính bởi chúng ta tin rằng Thiên Chúa cứu độ trần gian vì tình yêu, giải thoát chúng ta khỏi chủ nghĩa định mệnh. Khi chúng ta nghe tiếng kêu khóc của những ai đang gặp khó khăn, chúng ta hãy tự hỏi, liệu mỗi người có trở thành chứng nhân cho tình yêu của Chúa Cha, như Chúa Kitô đã là chứng nhân cho mọi người không? Ngài là Đấng khiêm nhường kêu gọi kẻ kiêu căng hoán cải, Đấng công chính làm cho chúng ta nên công chính. Chúng ta nhìn thấy tất cả điều này trong đời sống của những vị Thánh mới: các ngài không phải là những anh hùng hoặc nhà vô địch của một lý tưởng nào đó, nhưng là những con người chân thực.

Những bạn hữu tín trung của Chúa Kitô là những vị tuẫn đạo vì đức tin của mình, như Giám mục Ignazio Choukrallah Maloyan và giáo lý viên Peter To Rot; các ngài là những người loan báo Tin Mừng và những nhà thừa sai, như Sơ Maria Troncatti; các ngài là những vị sáng lập đầy đặc sủng, như Sơ Vicenza Maria Poloni và Sơ Maria del Monte Carmelo Rendiles Martínez; với cõi lòng bừng cháy sự hiến dâng, các ngài là những ân nhân của nhân loại, như Bartolo Longo và José Gregorio Hernández Cisneros. Ước gì sự chuyển cầu của các ngài nâng đỡ chúng ta trong những cơn thử thách và gương sáng của các ngài thôi thúc chúng ta trong ơn gọi chung là nên thánh. Khi bước đi hướng đến mục tiêu này, chúng ta hãy cầu nguyện không ngừng, và tiếp tục nơi những gì chúng ta đã học biết và xác tín (x. 2Tm 3,14). Vì thế, đức tin trên trần gian nâng đỡ niềm hy vọng về quê trời.

————————————

KINH TRUYỀN TIN

Anh chị em thân mến,

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến tất cả anh chị em đã tham dự buổi cử hành này — một đại lễ của sự thánh thiện!

Tôi cảm ơn các Hồng y, Thượng phụ và Giám mục đang hiện diện. Tôi cũng trân trọng gửi lời chào tới Tổng thống Cộng hòa Ý, Tổng thống Liban và các phái đoàn chính thức, đặc biệt là từ Armenia và Venezuela.

Tôi vui mừng chào đón những người con thiêng liêng của các Đấng Sáng lập vừa được tuyên thánh hôm nay, cùng các cộng đoàn và hiệp hội được linh hứng bởi đặc sủng của các vị Thánh mới. Xin cảm ơn tất cả vì sự tham dự sốt sắng của anh chị em!

Tôi cũng gửi lời chào đến các khách hành hương khác đang hiện diện, cách riêng là Huynh đoàn Chúa của các Phép Lạ (Hermandad del Señor de los Milagros), đã cử hành cuộc rước truyền thống.

Hôm nay là Ngày Thế giới Truyền giáo. Trong khi toàn thể Giáo hội đều mang tính truyền giáo, hôm nay chúng ta đặc biệt cầu nguyện cho những người nam và người nữ đã bỏ lại mọi sự để mang Tin Mừng đến cho những ai chưa biết đến. Họ là những thừa sai của niềm hy vọng giữa muôn dân. Xin Chúa chúc lành cho họ!

Những tin tức đến từ Myanmar thật đáng buồn và đau đớn: có những báo cáo về các cuộc xung đột vũ trang và không kích vẫn đang tiếp diễn, bao gồm cả việc nhắm vào dân thường và cơ sở hạ tầng dân sự. Tôi gần gũi cách thiêng liêng với tất cả những ai đang chịu đau khổ vì bạo lực, bất an và muôn vàn gian khổ. Tôi tha thiết kêu gọi một lệnh ngừng bắn ngay lập tức và hiệu quả. Xin cho những công cụ chiến tranh được thay thế bằng khí cụ của hòa bình, qua cuộc đối thoại bao dung và xây dựng.

Chúng ta hãy phó dâng cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh mới lời cầu nguyện không ngừng cho hòa bình tại Đất Thánh, Ukraina và các nơi khác đang bị chiến tranh tàn phá. Xin Thiên Chúa ban cho các nhà lãnh đạo của họ ơn khôn ngoan và kiên trì để tiến bước trên con đường tìm kiếm một nền hòa bình công bằng và lâu bền.

——————————-

Cồ Ngọc Hải dịch

(nguồn: Vatican.va)