DIỄN VĂN CỦA ĐỨC LÊÔ XIV CHO CÁC THAM DỰ VIÊN NĂM THÁNH CỦA NHỮNG NGƯỜI CỔ VÕ VÀ BẢO VỆ CÔNG LÝ

Đức Lêô XIV đã có bài phát biểu vào sáng thứ Bảy, 20/9/2025, trước hàng ngàn người hành hương từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có hơn 15.000 người tham gia vào việc thực thi Công lý, đã tụ tập tại Rôma để dự Năm Thánh của họ. “Còn cơ hội nào tốt hơn để suy ngẫm kỹ hơn về công lý và chức năng của nó, mà chúng ta biết là không thể thiếu cả cho sự phát triển có trật tự của xã hội lẫn như một nhân đức bản lề truyền cảm hứng và hướng dẫn lương tâm của mỗi người nam và mỗi người nữ!”, Đức Thánh Cha tuyên bố và đồng thời nhắc lại làm thế nào công lý được kêu gọi “để hoàn thành một chức năng trỗi vượt trong sự chung sống của con người, vốn không thể bị thu gọn vào việc áp dụng luật pháp đơn giản hoặc hành động của các thẩm phán, cũng như không bị giới hạn ở các khía cạnh thủ tục”.

Đức Lêô XIV đặc biệt nhắc nhớ công lý của Tin Mừng và công lý của con người kết hợp với nhau như thế nào, và “công lý Tin Mừng không lấy đi công lý con người, nhưng chất vấn và tinh luyện nó: công lý Tin Mừng kích thích công lý con người tiến xa hơn nữa, bởi vì công lý Tin Mừng thúc đẩy nó tìm kiếm sự hòa giải”. Đối với ngài, công lý phải được sinh động bởi sự khôn ngoan, tình yêu và lòng thương xót. Ngài cũng mời gọi suy ngẫm về thực tế của nhiều dân tộc “đói khát công lý”.

Dưới đây là diễn văn của Đức Thánh Cha :

Xin chào mọi người, xin chào và chào mừng mọi người đã đến !

Anh chị em thân mến!

Tôi vui mừng chào đón anh chị em nhân dịp Năm Thánh dành riêng cho tất cả những người, với nhiều danh nghĩa khác nhau, đang hoạt động trong lĩnh vực công lý rộng lớn. Tôi xin chào các nhà chức trách hiện diện, đến từ nhiều quốc gia, đại diện cho các Tòa án khác nhau, và tất cả anh chị em, những người hàng ngày thực hiện một công việc cần thiết cho trật tự mối quan hệ giữa những con người, các cộng đồng và các quốc gia. Tôi cũng chào những người hành hương khác đã tham gia Năm Thánh này! Năm Thánh làm cho tất cả chúng ta trở thành những người hành hương mà, bằng cách khám phá lại những dấu chỉ của một niềm hy vọng không làm thất vọng, muốn “tái khám phá niềm tin tưởng cần thiết vào Giáo hội cũng như vào xã hội, vào các mối quan hệ liên vị, vào các mối quan hệ quốc tế, vào việc thăng tiến phẩm giá của mỗi người và tôn trọng công trình tạo dựng” (Tông sắc Spes non confundit, số 25).

Còn cơ hội nào tốt hơn để suy ngẫm kỹ hơn về công lý và chức năng của nó, mà chúng ta biết là cần thiết cả cho sự phát triển có trật tự của xã hội lẫn như một nhân đức bản lề truyền cảm hứng và hướng dẫn lương tâm của mỗi người nam và mỗi người nữ! Thực vậy, công lý được mời gọi thực hiện một chức năng trỗi vượt trong sự chung sống giữa con người với nhau, vốn không thể bị giản lược vào việc áp dụng luật pháp hay hành động của các thẩm phán, cũng như không bị giới hạn vào các khía cạnh thủ tục.

Lối diễn đạt Thánh Kinh, “Ngài ưa thích công lý, ghét điều gian ác” (Tv 45, 8), nhắc nhở chúng ta và khuyên nhủ mỗi người chúng ta làm lành lánh dữ. Quả thực, biết bao sự khôn ngoan ẩn chứa trong câu châm ngôn “Hãy trả cho mỗi người cái thuộc về họ”! Tuy nhiên, tất cả những điều này không làm cạn kiệt lòng khao khát công lý sâu xa hiện diện trong mỗi người chúng ta, niềm khao khát công lý này vốn là khí cụ thiết yếu để xây dựng công ích trong bất kỳ xã hội loài người nào. Thật vậy, công lý kết hợp phẩm giá của con người, mối quan hệ của họ với người khác và chiều kích của cộng đồng được tạo nên từ sự chung sống, các cơ cấu và các quy tắc chung. Nó thiết lập một vòng tuần hoàn các mối quan hệ xã hội, vốn đặt giá trị của mỗi con người ở trung tâm và tìm cách bảo tồn giá trị đó thông qua công lý, đặc biệt khi đối mặt với những xung đột có thể nảy sinh từ hành động cá nhân hoặc từ sự mất đi ý thức chung vốn cũng ảnh hưởng đến các thể chế và cơ cấu.

Truyền thống dạy chúng ta rằng công lý trước hết là một nhân đức, nghĩa là một thái độ cương quyết và ổn định, định hướng hành xử của chúng ta theo lý trí và đức tin. [1] Nhân đức công bằng đặc biệt hệ tại ở “mong muốn thường xuyên và cương quyết trao cho Thiên Chúa và tha nhân những gì thuộc về họ”. [2] Theo quan điểm này, đối với người có đức tin, công lý thúc đẩy “tôn trọng quyền của mỗi người và thiết lập trong các mối quan hệ giữa con người với nhau sự hòa hợp nhằm thúc đẩy sự công bằng đối với con người và công ích” [3]. Nó nhắm mục tiêu bảo đảm một trật tự bảo vệ những người yếu đuối, những người đòi công lý vì họ là nạn nhân của sự áp bức, bị loại trừ hoặc bị phớt lờ.

Có rất nhiều tình tiết Tin Mừng trong đó hành động của con người được đánh giá bởi một công lý có khả năng chiến thắng sự dữ lạm dụng, như được nhắc lại bởi lời nài nỉ của bà góa, người thúc đẩy quan tòa tìm lại ý thức về công lý (x. Lc 18, 1-8). Nhưng cũng bởi một công lý trỗi vượt vốn trả lương cho người làm giờ cuối cùng giống như người làm việc cả ngày (x. Mt 20, 1-16); hoặc một công lý biến lòng thương xót thành chìa khóa để giải thích mối quan hệ và khuyến khích tha thứ bằng cách chào đón người con lạc mất và được tìm thấy (x. Lc 15, 11-32), hoặc thậm chí tha thứ không phải bảy lần, mà là bảy mươi lần bảy (x. Mt 18, 21-35). Đó là sức mạnh của sự tha thứ, đặc trưng của giới răn yêu thương, vốn xuất hiện như một yếu tố cấu thành của một công lý có khả năng kết hợp giữa siêu nhiên và con người.

Do đó, công lý Tin Mừng không lấy đi công lý con người, nhưng chất vấn và tinh luyện nó: công lý Tin Mừng kích thích công lý con người tiến xa hơn nữa, bởi vì công lý Tin Mừng thúc đẩy nó tìm kiếm sự hòa giải. Quả thực, sự dữ không chỉ phải bị trừng phạt, mà còn phải được sửa chữa. Để làm được điều này, cần phải có cái nhìn sâu sắc về thiện ích của con người và thiện ích chung. Đó là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng không phải là không thể đối với những ai ý thức được việc thực hiện một sự phục vụ đòi hỏi hơn những việc khác và cam kết sống một cuộc sống không thể chê trách.

Như chúng ta biết, công lý được cụ thể hóa khi nó hướng tới người khác, khi mỗi người đều nhận được những gì thuộc về mình, cho đến khi đạt được sự bình đẳng về phẩm giá và cơ hội giữa con người với nhau. Tuy nhiên, chúng ta ý thức rằng sự bình đẳng thực sự không phải là sự bình đẳng hình thức trước pháp luật. Sự bình đẳng này, mặc dù là một điều kiện thiết yếu để quản lý tốt công lý, nhưng không loại bỏ được thực tế về sự phân biệt kỳ thị ngày càng gia tăng, mà hậu quả đầu tiên của nó chính là việc thiếu khả năng tiếp cận công lý. Trái lại, sự bình đẳng thực sự là khả năng được trao cho mỗi người thực hiện nguyện vọng của mình và thấy các quyền vốn có đối với phẩm giá của họ được đảm bảo bởi một hệ thống các giá trị chung và được chia sẻ, có khả năng truyền cảm hứng cho các chuẩn mực và luật lệ làm nền tảng cho hoạt động của các thể chế.

Ngày nay, điều chất vấn những người tham gia vào công lý chính là việc tìm kiếm hoặc phục hồi những giá trị bị lãng quên trong đời sống cộng đồng, việc bảo tồn và tôn trọng chúng. Đây là một tiến trình hữu ích và cần thiết, khi đối mặt với việc khẳng định những hành vi và chiến lược vốn thể hiện sự coi thường sự sống con người ngay từ khi nó xuất hiện, phủ nhận những quyền cơ bản của cuộc sống cá nhân và không tôn trọng lương tâm mà các quyền tự do phát sinh từ đó. Chính thông qua những giá trị làm nền tảng cho đời sống xã hội mà công lý đảm nhận vai trò trung tâm của nó đối vối sự chung sống của con người và cộng đồng nhân loại. Như Thánh Augustinô đã viết: “Công lý không phải là công lý nếu nó không khôn ngoan, mạnh mẽ và ôn hòa”. [4] Điều này đòi hỏi khả năng luôn suy nghĩ dưới ánh sáng của sự thật và sự khôn ngoan, giải thích luật một cách sâu xa, vượt ra ngoài chiều kích thuần túy hình thức, để nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của sự thật mà chúng ta phục vụ. Do đó, việc hướng tới công lý đòi hỏi phải có khả năng yêu mến nó như một thực tại mà chỉ có thể đạt được bằng cách kết hợp sự chú ý liên tục, tính vô vị lợi triệt để và sự phân định đều đặn. Thật vậy, khi thực thi công lý, chúng ta đặt mình phục vụ con người, dân tộc và Nhà nước với sự tận tụy hoàn toàn và liên tục. Sự cao cả của công lý không suy giảm khi nó được thực hiện trong những việc nhỏ bé, nhưng nó luôn được biểu lộ khi nó được áp dụng một cách trung thành với luật pháp và tôn trọng con người, dù họ ở đâu trên thế giới. [5]

“Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng” (Mt 5, 6). Qua mối phúc này, Chúa Giêsu muốn diễn tả sự hướng tới thiêng liêng mà chúng ta phải mở ra, không chỉ để đạt được công lý đích thực, mà trên hết là tìm kiếm nó từ phía những người được mời gọi thực hiện nó trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. “Đói khát” công lý tương đương với việc ý thức rằng nó đòi hỏi nỗ lực cá nhân để giải thích luật theo cách nhân bản nhất có thể, nhưng trên hết nó đòi hỏi hướng tới một “sự thỏa lòng” chỉ có thể tìm thấy sự viên mãn của nó trong một công lý lớn hơn, vượt lên trên những hoàn cảnh cụ thể.

Các bạn thân mến, Năm Thánh cũng mời gọi chúng ta suy ngẫm về một khía cạnh của công lý thường không được nêu bật đầy đủ: cụ thể là thực tế của nhiều quốc gia và nhiều dân tộc “đói khát công lý”, bởi vì những điều kiện sống của họ quá bất công và phi nhân đến mức chúng trở nên không thể chấp nhận được. Do đó, cần phải áp dụng những câu có giá trị vĩnh viễn này vào toàn cảnh quốc tế hiện nay: “Nền cộng hòa không thể được cai trị mà không có công lý; do đó, nơi nào không có công lý đích thực thì không thể có luật pháp. Vì những gì được thực hiện theo luật pháp sẽ được thực hiện theo công lý, và những gì được thực hiện mà không có công lý thì không thể được thực hiện theo luật pháp. […] Chắc chắn là ở đâu không có công lý thì không có nền cộng hòa. Nhưng công lý là nhân đức trả cho mỗi người những gì thuộc về họ. Do đó, đâu là công lý của con người, khi tách rời chính con người khỏi Thiên Chúa chân thật.” [6] Chớ gì những lời đòi hỏi của thánh Augustinô truyền cảm hứng cho mỗi người chúng ta luôn thể hiện tốt nhất việc thực thi công lý trong việc phục vụ người dân, với cái nhìn hướng về Thiên Chúa, để tôn trọng trọn vẹn công lý, quyền lợi và phẩm giá của con người.

Với lời chúc này, tôi cảm ơn các bạn và hết lòng chúc lành cho mỗi người trong các bạn, cho gia đình và công việc của các bạn.

—————————————————–

[1] Cf. Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, số 1804.

[2] Id., số 1807.

[3] Ibid.

[4] S. Augustin, Lettres 167, 2, 5.

[5] Cf. Id., De doctrina christiana IV, 18, 35.

[6] Id., De civitate Dei, XIX, 21, 1.

———————————–

Tý Linh chuyển ngữ

(nguồn: vatican.va)