Mẫu gương của nhà thần học vĩ đại Henri de Lubac là nguồn cảm hứng cho những người Công giáo mong muốn trở thành những thừa sai trong một thế giới bị chủ nghĩa vô thần chi phối. Marie-Gabrielle Lemaire, thỉnh nguyện viên án phong thánh cho ngài và là tác giả cuốn “Henri de Lubac” (do CLD xuất bản), cho thấy vị Hồng y Dòng Tên này đã cống hiến cuộc đời và thần học của mình cho sứ mạng truyền giáo, bao gồm cả việc chịu đau khổ vì Giáo hội và cho Giáo hội.

Nếu sứ mạng là một sứ vụ tông đồ, một cuộc chiến đức tin để bảo vệ chân lý của Chúa Kitô và tình yêu của Giáo hội, trong sự trung thành vô vị lợi và trao hiến chính mình, thì đúng vậy, Đức Hồng y Dòng Tên, Henri de Lubac (1896-1991), là một nhà thừa sai vĩ đại.
Nhà Thần học về sứ mạng
Suy ngẫm về ơn gọi thừa sai của Giáo hội và nhiệm vụ mà ơn gọi này giao phó cho nhà thần học, Henri de Lubac tóm tắt: “Giáo hội có sứ mệnh duy nhất là làm cho Chúa Giêsu Kitô hiện diện với nhân loại. Giáo hội phải loan báo Người, cho thấy Người và trao ban Người cho tất cả mọi người” (Méditation sur l’Église, 1953, tr. 198-169). Là “thân thể của đức ái trên trần gian“, Giáo hội nhận được từ Chúa Kitô sứ mạng “lan tỏa khắp nơi” “ngọn lửa” của “đức ái thần linh” nhập thể nơi Chúa Giêsu Kitô. Từ đó, nguyên tắc về ơn gọi thừa sai của Giáo hội xuất phát: “Nếu tôi ngừng loan báo Tin Mừng, đó là vì đức ái đã rời xa tôi. Nếu tôi không còn cảm thấy nhu cầu phải truyền đạt ngọn lửa đức ái, đó là vì nó không còn cháy trong tôi nữa” (Le Fondement théologique des missions, 1941). Như vậy, Cha de Lubac đã diễn tả một đòi hỏi mà ngài áp dụng cho chính mình, ý thức rằng Giáo hội, đó là “mỗi người chúng ta“. “Bao lâu Giáo hội chưa ôm lấy và thấm nhập toàn thể nhân loại để làm cho nhân loại mang hình hài của Chúa Kitô, thì Giáo hội không thể an nghỉ” (Catholicisme, 1938, tr. 191). Vì vậy, ngài có thể nói: “Nếu chúng ta sống […] ít nhiều yên lặng giữa thế gian, thì đó có lẽ là vì chúng ta thờ ơ” (Méditation sur l’Église, tr. 153-155).
Luận chứng tốt nhất chống lại chủ nghĩa vô thần
Chính trong ngọn lửa đức ái tông đồ này mà ngài đã chống lại những luận chứng của chủ nghĩa vô thần, hết lòng yêu thương người vô thần mà Chúa Kitô muốn hiến mình cho họ, ý thức rằng luận chứng tốt nhất để bảo vệ đức tin, đó là “sự thánh thiện” của “chứng tá về Thiên Chúa hằng sống” (Athéisme et sens de l’homme, 1968, tr. 467). Chính trong nhiệt huyết truyền giáo này mà ngài đã đón nhận những khát vọng huyền bí hiện diện trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo, để dẫn dắt họ đến với đức ái vô song của Chúa Kitô. Cũng chính vì tình yêu Thiên Chúa và nhân loại mà trong những ngày cuối đời, khi bị liệt nửa người và bị á khẩu, ngài đã nở nụ cười lặng lẽ và vẻ giản dị rạng rỡ với những người đến thăm, như thể ngài đã hoàn toàn phó thác mình cho “sự hấp dẫn của Thiên Chúa“, “sự hấp dẫn của Tình Yêu của Ngài” mà toàn bộ tác phẩm của ngài nói đến.
Tuẫn đạo vì sứ mạng
Năm 1952, khi ngài bị coi là người khởi xướng một “nền thần học mới” với hơi hướng hiện đại – tất cả những gì ngài ghét! – và bị bề trên kỷ luật, ngài đã viết: “Tôi chưa bao giờ mong muốn điều gì khác […] hơn là phụng sự Chúa Kitô và Giáo hội của Người, theo đúng lời tuyên khấn của tôi với tư cách là một Kitô hữu và một tu sĩ Dòng Tên; hơn là cố gắng cho một số người thoáng thấy sự vĩ đại và vẻ đẹp của những mầu nhiệm của chúng ta, để cuối cùng, nếu tôi dám nói như vậy, cho họ hưởng nếm Thiên Chúa. Tôi không có ý định nào khác ngoài việc tiếp tục làm như vậy hôm nay, khi sự vâng phục cho phép làm điều đó.”
Bị cấm xuất bản, đình chỉ giảng dạy, và bị loại khỏi học viện Fourvière, ngài thậm chí còn bị lưu đày sang Tunis mà không được giao cho sứ mạng nào. Các nhà thừa sai vĩ đại đôi khi phải đối mặt với thử thách khắc nghiệt này. Do đó, tình yêu của ngài dành cho Giáo hội được thể hiện với lòng trung thành anh hùng, gần như một hình thức tuẫn đạo. Thật vậy, những địch thủ của Cha de Lubac không thỏa mãn: nếu các biện pháp chống lại ngài rất phô trương và đủ sức đánh đổ một con người, thì chúng không kết án học thuyết của ngài. Và rõ ràng, ngài sẽ không bao giờ rút lời và sẽ không bao giờ bị lên án. Nhưng trong khi chờ đợi, ngài bị vu khống, và mỗi ngày lại mang đến những tiếng đồn mới, mỗi lần được đón nhận như một “vết dao đâm vào tim” mới. Tuy nhiên, giữa cuộc lưu đày ở Châu Phi, ngài vẫn kiên định tuyên xưng: “Tôi chỉ yêu mến đức tin của Giáo hội. Tôi đã luôn tuyên bố rằng sự vâng phục chân thành và tin tưởng đối với Huấn quyền của Giáo hội là điều kiện của mọi tư tưởng cũng như mọi đời sống Kitô giáo.” Trong một trong nhiều lá thư trình lên các bề trên, ngài viết vào năm 1951: “Trước mặt Chúa, con xin chứng thực: con hoàn toàn phục tùng mọi điều đến với con từ quyền bính của Hội Thánh.”
Sự phong nhiêu thừa sai
Vì vậy, ơn gọi thần học gia thừa sai của ngài dường như đã dừng lại. Ngược lại, ơn gọi này tiếp tục, trong những đau khổ ngài chịu đựng vì danh Chúa Kitô. “Chính trong lời cầu nguyện thâm sâu nhất, mà tôi đau khổ vì sự hiểu lầm như thế, vốn được nuôi dưỡng từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, nếu sự an ủi này phải bị từ chối đối với tôi cho đến cùng, thì tôi xin vâng theo Thánh Ý Chúa, Đấng tôi tôn thờ.” Ngài đã từng chấp nhận điều này trước, ngài là người đã viết một năm trước đó: “Giáo hội bao giờ cũng chỉ ban cho chúng ta Chúa Giêsu Kitô tốt nhất trong những dịp này mà Giáo hội ban cho chúng ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Cuộc Khổ Nạn của Người” (Méditation sur l’Église, trang 184-185). Ở đây, sự anh hùng của Cha de Lubac cũng chính là ở chỗ “không bao giờ từ bỏ chân lý”, mặc dù thật rất dễ dàng – và thật cám dỗ biết bao! – buông bỏ tất cả cho những địch thủ bám riết của mình. Điều này có thể bị coi là sự ngoan cố, nhưng trong vấn đề đức tin, chân lý không phải là một chi tiết. “Chính sức mạnh của tình yêu đòi hỏi sự ngay thẳng của đức tin” (Histoire et Esprit, 1950, tr. 62). Sự phong nhiêu thừa sai của cha Henri de Lubac có thể được đánh giá qua những hoa trái của nó. Bên cạnh những hoa trái rõ ràng trong việc đổi mới sự hiểu biết về đức tin, mà Công đồng Vatican II chứng minh, nơi ngài đã là một chuyên viên thần học, còn có những hoa trái thiêng liêng trong cuộc sống của nhiều tín hữu. Những cuộc hoán cải, những cuộc chữa lành tâm linh, những ơn phân định nhận được qua việc đọc các tác phẩm của ngài hoặc qua gương mẫu cuộc đời của ngài, khiến ngài trở thành một người hướng dẫn chắc chắn để suy tư và sống sứ mạng của Giáo hội ngày nay. “Tôi tin vào Tình yêu sáng tạo và thương xót, được thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng mà Giáo hội truyền đạt đức tin cho chúng ta. Tôi muốn sống và chết trong sự hiệp thông với tất cả mọi người cho đến tận cùng” (1986).
———————————–
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn: Marie-Gabrielle Lemaire, Aleteia)