“Nhiều người di cư, tị nạn và tản cư là những chứng nhân đặc biệt của niềm hy vọng”. Đây là những gì Đức Lêô XIV lưu ý. Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 111 sẽ được cử hành vào ngày 4-5/10/2025. Trong một sứ điệp này, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng các cộng đồng chào đón họ có thể là một chứng từ sống động về niềm hy vọng, được hiểu như một lời hứa về hiện tại và tương lai trong đó phẩm giá của tất cả mọi người là con cái Thiên Chúa được công nhận.

Người di cư Venezuela bị giam ở El Salvador xuống máy bay tại Sân bay quốc tế Simon Bolivar ở Maiquetia, Venezuela, ngày 18 tháng 7 năm 2025 (AFP).
Dưới đây là Sứ điệp của Đức Thánh Cha:
Anh chị em thân mến!
Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 111 này, mà vị tiền nhiệm của tôi đã chọn để trùng với Năm Thánh của Người Di cư và các Nhà Thừa sai, mang lại cho chúng ta cơ hội để suy tư về sự nối kết giữa niềm hy vọng, di cư và sứ mạng.
Bối cảnh toàn cầu hiện nay, đáng buồn thay, được ghi dấu bởi chiến tranh, bạo lưc, bất công và những hậu quả thời tiết cực đoan, vốn làm cho hàng triệu người phải rời bỏ quê hương để kiếm tìm nơi cư trú khác. Xu hướng lan rộng để tìm kiếm những lợi ích của các cộng đồng giới hạn đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng với việc sẻ chia trách nhiệm, hợp tác đa phương, theo đuổi công ích và sự liên đới toàn cầu vì lợi ích của toàn thể gia đình nhân loại. Viễn cảnh của cuộc chạy đua vũ trang mới và sự phát triển của các loại vũ khí mới, bao gồm vũ khí hạt nhân, sự thiếu cân nhắc đến những tác hại của cuộc khủng hoảng khí hậu đang diễn ra, và tác động của sự bất bình đẳng kinh tế sâu sắc làm cho những thách đố của hiện tại và tương lai trở nên khó khăn hơn.
Đối mặt với viễn cảnh đáng sợ và khả năng tàn phá toàn cầu, thật quan trọng khi có được ước vọng không ngừng lớn lên trong lòng con người vì một tương lai hòa bình và sự tôn trọng phẩm giá của tất cả mọi người. Một tương lai như thế là cần thiết với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại và phần còn lại của công trình tạo dựng. Đây là tương lai được các ngôn sứ tiên báo trước: “Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Trên những quảng trường Giêrusalem các cụ ông cụ bà ra ngồi nghỉ. Ai nấy tay chống gậy vì tuổi thọ đã cao. Tại các quảng trường trong thành phố, đông đảo thiếu nhi nam nữ tới vui đùa…Đây là hạt giống bình an: cây nho sẽ cho quả, đất sẽ sinh hoa lợi và trời sẽ đổ sương. Ta sẽ cho số dân còn sót lại tất cả những thứ ấy làm phần sản nghiệp” (Dc 8, 4-5; 12). Tương lai này đã bắt đầu rồi, bởi nó được khai mở bởi Chúa Giêsu Kitô (x. Mc 1, 15; Lc 17, 21), và chúng ta tin cũng như hy vọng vào sự hoàn tất trọn vẹn của nó, vì Chúa luôn tín trung với lời hứa của Người.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng: “Đức cậy đáp ứng khát vọng hưởng vinh phúc mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim mỗi người; đảm nhận những sự mong đợi đang gợi hứng cho các hoạt động của con người” (số 1818). Không những thế, việc kiếm tìm hạnh phúc, và hy vọng tìm thấy nó ở một nơi nào khác ngoài quê hương của mình, chắc chắn là một trong những động lực chính thúc đẩy hoạt động của con người hôm nay.
Mối liên kết này giữa di cư và niềm hy vọng rõ ràng hiển nhiên trong nhiều kinh nghiệm di cư đương thời. Nhiều người di cư, tị nạn và tản cư là những chứng nhân đặc biệt của niềm hy vọng. Thật vậy, họ chứng minh điều này hằng ngày qua sự kiên cường và lòng tin thác vào Thiên Chúa, khi họ đối mặt với nghịch cảnh đang khi kiếm tìm một tương lai mà họ thoáng thấy rằng sự hạnh phúc và phát triển con người toàn diện là điều có thể. Hơn nữa, chúng ta có thể thấy được kinh nghiệm lữ hành của dân Israen lặp đi lặp lại trong cuộc sống của họ: “Lạy Thiên Chúa, thuở Ngài lãnh đạo đoàn dân riêng xuất trận, thuở Ngài tiến bước trong sa mạc hoang vu, đất đã chuyển rung, trời cũng tan chảy, trước mặt Thiên Chúa, Đấng xuất trận tại núi Xinai, trước mặt Thiên Chúa là Thiên Chúa của Israen. Lạy Thiên Chúa, Ngài đổ mưa ân hậu, gia nghiệp Ngài tiêu hao mòn mỏi, Ngài đã bổ sức cho. Lạy Thiên Chúa, đàn chiên của Ngài đến ở nơi đâu, Ngài cũng luôn nâng đỡ, bởi vì Ngài nhân hậu đối với kẻ khó nghèo” (Tv 68, 7-10).
Trong một thế giới ngày càng tăm tối bởi chiến tranh và bất công, ngay cả khi mọi thứ dường như mất đi, thì người di cư và tị nạn đứng vững như những sứ giả của niềm hy vọng. Lòng can đảm và sự kiên trì của họ chính là chứng tá anh dũng cho một đức tin vượt lên trên những gì mà mắt chúng ta có thể thấy và trao cho họ sức mạnh để coi thường cái chết trên những hành trình di cư đương thời khác nhau. Cũng ở đây, chúng ta có thể thấy được sự giống nhau rõ rệt với kinh nghiệm của dân Israen đang lưu lạc trong sa mạc, đối mặt với mọi hiểm nguy trong khi vẫn tin tưởng vào sự chở che của Chúa: “Chính Chúa giữ gìn bạn khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc. Chúa phù trì che chở, dưới cánh Người, bạn có chỗ ẩn thân: lòng Chúa tín trung là khiên che thuẫn đỡ. Bạn không sợ cảnh hãi hùng đêm vắng, hay mũi tên bay giữa ban ngày, cả dịch khí hoành hành tỏng đêm tối, cả ôn thần sát hại lúc ban trưa” (Tv 91, 3-6).
Những người di cư và tị nạn nhắc nhớ Giáo Hội về chiều kích lữ hành của mình, không ngừng lên đường tiến về quê hương cuối cùng, được giữ vững bởi niềm hy vọng vốn là nhân đức đối thần. Mỗi khi Giáo Hội đầu hàng trước cám dỗ ‘định cư’ và ngừng là civitas peregrine – dân Thiên Chúa tiến bước về quê hương trên trời (x. Augustinô, De Civitate Dei, Books XIV-XVI), Giáo Hội không còn ‘ở giữa thế gian’ và trở nên ‘thuộc về thế gian’ (x. Ga 15, 19). Cám dỗ này đã xuất hiện trong các cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, nhiều đến nỗi Thánh Phaolô phải nhắc nhở Giáo đoàn Philiphê rằng “Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3, 20-21).
Cách riêng, những người di cư và tị nan Công giáo có thể trở thành những nhà thừa sai của niềm hy vọng tại những quốc gia tiếp nhận họ, tạo ra những con đường đức tin mới nơi mà sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô vẫn chưa đến được hoặc khởi xướng cuộc đối thoại liên tôn đặt nền trên đời sống thường ngày và sự tìm kiếm những giá trị chung. Với lòng nhiệt thành và sức sống thiêng liêng, họ có thể giúp tái sinh các cộng đoàn giáo hội vốn đã nên cứng nhắc và nặng nề, nơi mà tình trạng sa mạc hóa đời sống thiêng liêng đang gia tăng với tốc độ đáng báo động. Và rồi, sự hiện diện của họ nên được công nhận và đánh giá đúng mức như là một phúc lành thiêng liêng thật sự, một cơ hội để mở lòng ra với ân sủng của Thiên Chúa, Đấng trao ban năng lượng và niềm hy vọng mới cho Giáo Hội: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết” (Dt 13, 2).
Yếu tố đầu tiên của việc loan báo Tin Mừng, như Thánh Phaolô VI đã nhấn mạnh, chính là chứng tá: “Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi làm chứng tá, và bằng cách này họ có thể trở nên những người loan báo Tin Mừng đích thực. Cách đặc biệt, chúng ta đang nghĩ đến trách nhiệm đè lên những người di cư tại quốc gia tiếp nhận họ” (Evangelii Nuntiandi, 21). Đây là một missio migrantium (sứ mạng người di dân) đích thực, sứ mạng được những người di cư thực hiện, một sứ mạng mà sự chuẩn bị tương xứng và hỗ trợ liên tục phải được bảo đảm thông qua sự hợp tác hiệu quả giữa các giáo hội.
Đồng thời, các cộng đồng đón tiếp họ cũng có thể trở thành chứng tá sống động của niềm hy vọng, được hiểu như là lời hứa về một hiện tại và tương lai nơi mà phẩm giá của tất cả mọi người trong tư cách là con cái của Thiên Chúa được công nhận. Bằng cách này, những người di cư và tị nạn được công nhận là anh chị em, một phần của gia đình, là nơi mà họ có thể biểu lộ những khả năng của mình và dự phần cách trọn vẹn vào đời sống cộng đồng.
Vào Năm Thánh này, khi Giáo Hội cầu nguyện cho hết mọi người di cư và tị nạn, tôi ước mong phó dâng tất cả những ai đang trên cuộc hành trình, cũng như những ai đang đồng hành với họ, cho sự che chở đầy từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, niềm ủi an của những người di cư, hầu Mẹ có thể giữ niềm hy vọng sống mãi trong lòng họ và giữ gìn họ luôn dấn thân dựng xây một thế giới ngày càng giống với Nước Thiên Chúa, quê hương đích thực đang chờ đợi chúng ta ở cuối cuộc hành trình.
————————————
Cồ Ngọc Hải dịch
(nguồn: Vatican.va)