« Được hiến dâng cho Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Tối Cao, được sinh ra từ sứ mạng tông đồ của cha Jean-Jacques Olier, đấng sáng lập của mình, Hội Linh mục Xuân Bích là Hội các linh mục giáo phận, có ơn gọi phục vụ những ai hướng đến thừa tác vụ linh mục[1] ». Trong chừng mực thừa tác vụ này, tự nó là cần thiết, được ẩn chứa trong cốt lõi của mầu nhiệm Giáo hội, các linh mục Xuân Bích và phương pháp độc đáo của họ trong việc đào tạo linh mục ban đầu và thường huấn linh mục phần lớn vẫn không được biết đến. Tập sách nhỏ này có mục đích giới thiệu cho những ai muốn hiểu biết thêm đôi chút về các linh mục Xuân Bích và sứ vụ của họ.

NGUỒN GỐC HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH
Khi các chủng viện bắt đầu được thành lập ở Châu Âu để đáp ứng các yêu cầu của Công đồng Trentô (1545-1563), hầu hết đều được thành lập bởi các Giám mục giáo phận, muốn cải thiện việc đào tạo linh mục. Nhân vật nổi bật nhất trong số các Giám mục này là thánh Charles Borromeo (1538-1584). Các chủng viện này đã tham gia rất sớm vào việc cải cách hàng giáo sĩ.
Khi những cải cách do Công đồng Trentô thúc đẩy đã có thể bắt đầu được thực hiện ở Pháp, nhiều linh mục đã có sáng kiến thành lập các chủng viện. Trong số các linh mục đặc biệt nhiệt thành này có cha Jean-Jacques Olier (1608-1657), cha sở giáo xứ Saint-Sulpice ở Paris. Với sự giúp đỡ của một nhóm nhỏ cộng sự, ngài đã thành lập chủng viện đầu tiên của truyền thống Xuân Bích.
Các linh mục Xuân Bích đầu tiên này, được thúc đẩy bởi mong muốn sâu xa là cung cấp những hướng dẫn thiêng liêng cho việc canh tân đức tin tại Pháp, đã được một số Giám mục ủng hộ trong sự ra đời này của Hội. Mặc dù họ làm việc tại các chủng viện được coi như là những cộng đoàn tràn đầy tình bác ái huynh đệ, nhưng về cơ bản họ vẫn là những linh mục giáo phận. Sứ vụ và nền sư phạm đào tạo linh mục của họ ngày càng được công nhận, đến mức một số Giám mục Pháp đã sử dụng việc phục vụ của họ cho giáo phận của mình.
Giáo hội đã công nhận các linh mục Xuân Bích có ơn gọi đặc biệt, bằng cách nâng Hội thành một Hội đời sống tông đồ, theo luật giáo hoàng. Ngày nay, các linh mục Xuân Bích noi theo bước chân của đấng sáng lập là cha Jean-Jacques Olier, hiểu rằng: « Kế hoạch của Thiên Chúa dành cho Hội là lan tỏa tinh thần linh mục trong Giáo hội [2]».

PHỤC VỤ CÁC GIÁM MỤC
« Ơn gọi đặc biệt” này là gì? Công đồng Vatican II dạy rằng sứ vụ đào tạo linh mục là “công việc đầy hấp dẫn[3] ». Mặc dù trách nhiệm chính trong việc đào tạo linh mục thuộc về các Giám mục, nhưng các ngài thường giao phó sứ vụ này cho những linh mục khác có đủ tư cách. Trong bối cảnh này, các linh mục Xuân Bích đón nhận ơn gọi của mình như một biểu tượng đặc biệt của sứ vụ hấp dẫn này, đồng thời vẫn là những linh mục giáo phận được Giám mục của họ sai đi để dành trọn cuộc đời phục vụ chức linh mục giáo phận.
« Hội này đáp lại ơn gọi của mình bằng cách đặt mình phục vụ các Giám mục. Các ngài tin tưởng vào tinh thần của Hội và yêu cầu sự cộng tác của Hội. Những anh em mà Hội đặt vào tay các ngài nhận được từ các ngài sứ mạng cần thiết để hoàn thành sứ vụ của mình[4] ».
Hội Linh Mục Xuân Bích hiểu lòng trung thành với các Giám mục theo năm cách. Thứ nhất, các linh mục Xuân Bích vẫn nhập tịch vào giáo phận gốc của mình. Mỗi thành viên của Hội đều duy trì mối liên hệ với giáo phận của mình trong khi được Giám mục phái đi để phục vụ việc đào tạo linh mục trong một bối cảnh Giáo hội rộng lớn hơn. Như cha Jean-Jacques Olier đã lưu ý:
« Bất kể số lượng thành viên là bao nhiêu, Hội hiểu rõ đây không phải là một dòng tu, đến mức lòng bác ái và sự ưu tư của Hội hoàn toàn thuộc về Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô, và trên hết, dành cho toàn thể hàng giáo sĩ, vốn hoàn toàn là ánh sáng, lòng nhiệt thành, sự an bình, sự nên thánh và mẫu gương của Hội[5] ».
Thứ hai, Hội Linh Mục Xuân Bích không nhập tịch các thành viên của mình. Mỗi thành viên đều được Giám mục của mình sai đi một cách thường hằng để phục vụ việc đào tạo linh mục. Với tư cách là một linh mục giáo phận, khi một linh mục Xuân Bích rời khỏi Hội hoặc bị sa thải, linh mục đó sẽ trở về giáo phận của mình mà không cần phải trải qua thủ tục giáo luật nào khác nữa[6]. Tuy nhiên, các linh mục Xuân Bích rất ý thức trong việc tham gia vào linh mục đoàn và các việc phục vụ khác nhau của giáo phận nơi họ thực hiện sứ vụ của mình, coi cam kết dấn thân này là cách tốt nhất để làm phong phú thêm ơn gọi đào tạo linh mục của họ[7].
Thứ ba, các linh mục Xuân Bích phải liên tục và rõ ràng đảm bảo sự hiệp thông lành mạnh với các Giám mục và Đức Thánh Cha.
« Sứ mạng mà họ đã nhận được sẽ dẫn dắt các thành viên của Hội củng cố và đào sâu sự hiệp nhất của họ với các Giám mục và Đức Giáo hoàng. Theo truyền thống lâu đời về lòng trung thành với đấng kế vị Thánh Phêrô, Hội nỗ lực thúc đẩy nơi các thành viên của mình và nơi các linh mục mà Hội đào tạo, một sự gắn bó mãi mãi với con người của ngài và một sự ngoan ngoãn hoàn toàn với các giáo huấn và chỉ thị của ngài[8] ».
Thứ tư, sứ vụ của linh mục Xuân Bích phải luôn được các Giám mục xác nhận. Trong khi các chủng viện do các tu sĩ điều hành được miễn bất kỳ sự xác nhận nào của Giám mục, ngoại trừ một số nơi rất hạn chế[9], thì « Hội thực hiện sứ mạng của mình trong sự trung thành hoàn toàn với các quyết định của Giáo hội hoàn vũ và các quyết định của các Hội đồng Giám mục[10] ». Theo nghĩa này, họ noi theo bước chân của cha Jean-Jacques Olier, người luôn coi Giám mục giáo phận là bề trên đầu tiên của chủng viện[11].
Thứ năm, các linh mục Xuân Bích hợp tác với các Giám mục bằng cách hỗ trợ các ngài thực hiện nhiệm vụ truyền giáo cho Giáo hội theo nghĩa rộng của thuật ngữ này. Họ đặc biệt chú ý đến giáo huấn của sắc lệnh Christus Dominus:
« Vì do Thiên Chúa thiết định và do bổn phận của tác vụ Tông đồ, mỗi vị, cùng với các Giám mục khác, phải là người chịu trách nhiệm về Giáo hội… Hơn nữa, các ngài còn phải chú tâm lo lắng để có những thừa tác viên có chức thánh xứng hợp … không chỉ cho những miền truyền giáo mà còn cho những nơi thiếu giáo sĩ[12] ».
Lúc khởi đầu, Hội đã được đánh dấu bằng mối ưu tư truyền giáo, được minh họa bằng việc thành lập đầu tiên tại lục địa Bắc Mỹ (năm 1657) và sau đó ở Châu Á (năm 1929), Châu Mỹ Latinh (năm 1949) và Châu Phi (năm 1955). Sứ vụ đặc biệt này vẫn là một trong những đặc điểm của Hội:
« Hợp tác với các Giám mục, Hội muốn hiệp thông với ưu tư của toàn thể Giáo hội và tham gia vào các cuộc trao đổi giữa các Giáo hội địa phương. Do đó, các thành viên của Hội có thể được kêu gọi thực hiện nhiệm vụ của mình ở các đất nước xa với nơi xuất xứ của họ. Bất cứ nơi nào họ ở, « họ sẽ sắp xếp mối quan tâm mục vụ của mình theo cách có thể hữu ích cho việc truyền bá Tin Mừng nơi những người không phải là Kitô hữu » (Ad Gentes 39)[13] ».

CÙNG MỘT CĂN TÍNH LINH MỤC
Các thành viên của Hội Linh Mục Xuân Bích khác với các nhóm linh mục giáo phận khác tham gia vào việc đào tạo linh mục vì ít nhất ba lý do. Thứ nhất, các linh mục Xuân Bích là một cộng đoàn thuộc đời sống tông đồ theo luật giáo hoàng[14]. Như thế, Hội có đời sống cộng đoàn và cơ cấu hoạt động riêng, làm cho Hội giống với một dòng tu. Ngay từ đầu, Hội đã muốn nhấn mạnh đến lối sống hợp đoàn nhằm hướng đến sứ mạng đào tạo linh mục.
« Các linh mục Xuân Bích sẽ xác tín rằng chính vì ơn gọi chung của mình, nên các chức năng khác nhau của họ bổ túc cho nhau. Chúng ta sẽ đảm bảo rằng công việc và kinh nghiệm của mỗi người đều có lợi cho công việc chung[15] ».
« Họ được liên kết với nhau bởi mối dây đức ái linh mục và bởi ước muốn phục vụ các linh mục, dưới quyền của bề trên [C.I.C. 738] và trong sự trung thành với Hiến pháp, với sự giúp đỡ và những đòi hỏi của đời sống chung [C.I.C. 731][16]».
Với tư cách là một cộng đoàn, các linh mục Xuân Bích theo dõi và bổ nhiệm[17] các thành viên của mình, bầu chọn hoặc chỉ định bề trên của mình, và cung cấp các dịch vụ theo dõi sức khỏe và chăm sóc cần thiết đi kèm thời gian nghỉ hưu.
Thứ hai, trong khi các linh mục không phải là linh mục Xuân Bích có thể, trong một khoảng thời gian nào đó, đầu tư vào trách vụ đào tạo linh mục cùng với các dấn thân khác, thì linh mục Xuân Bích trước hết đầu tư vào việc đào tạo ban đầu và thường huấn linh mục trong suốt cuộc đời của họ. Điều này khiến họ trở thành những người có năng lực và chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo linh mục.
Thứ ba, Hội Linh Mục Xuân Bích có linh đạo và phương pháp riêng để đào tạo linh mục. Họ bén rễ trong truyền thống Trường phái Linh đạo Pháp, vốn mong muốn canh tân đời sống tâm linh vào đầu thế kỷ XVII tại Pháp, dưới sự truyền cảm hứng của Đức Hồng y Pierre de Bérulle. Linh đạo này được truyền bá rộng rãi nhờ những nhà thần bí như cha Charles de Condren, cha Jean-Jacques Olier, thánh Jean Eudes, thánh Jean-Baptiste de la Salle và thánh Louis Grignon de Montfort[18].
Khi các linh mục Xuân Bích chấp nhận trách nhiệm điều hành một chủng viện, lập tức họ sẽ ở trong mối liên hệ với Đức Giám mục hữu trách, ngài phải quan tâm tôn trọng đời sống cộng đoàn, linh đạo và phương pháp đào tạo linh mục của họ[19]. Sự chấp nhận này nhất thiết dẫn đến những mối tương quan phải được coi là sự hợp tác với các quyền lợi và trách nhiệm vốn có của cả hai bên, và phải được xác định rõ ràng. Một mặt, Đức Giám mục hoặc các Đức Giám mục giữ thẩm quyền đảm bảo rằng việc điều hành đào tạo linh mục tuân thủ các chuẩn mực hiện hành của Giáo hội. Mặt khác, các linh mục Xuân Bích vẫn được tự do theo đuổi đời sống cộng đoàn của mình và cung cấp lối đào tạo này theo trực giác của đấng sáng lập về linh đạo và phương pháp sư phạm của họ. Để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất, sự tin tưởng lẫn nhau này đòi hỏi sự trao đổi thường xuyên, tin tưởng và trung thực từ cả hai bên.

MỘT PHƯƠNG PHÁP ĐỘC ĐÁO ĐÀO TẠO LINH MỤC
Kể từ sắc lệnh Optatam totius Ecclesiae của Công đồng Vatican II, Giáo hội đã phải làm việc cách cương quyết để đảm bảo chất lượng tối ưu trong quá trình đào tạo ban đầu và thường huấn linh mục[20]. Công việc này đã dẫn đến việc làm nổi bật một số điểm quan trọng xác định vai trò của một chủng viện ngày nay: bốn chiều kích đào tạo (nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ), một nhịp cầu nguyện hàng ngày bao gồm việc cử hành Phụng vụ Các Giờ Kinh, Thánh lễ, những ngày tĩnh tâm, việc nhấn mạnh đến Lectio Divina, khuyến khích các hoạt động sùng kính cá nhân hoặc nhóm, đặc biệt là việc Chầu Thánh Thể, tôn kính Đức Maria và các thánh, đào tạo có chất lượng về sự độc thân và khiết tịnh, đóng góp chất lượng cho sự trưởng thành tình cảm. Mặc dù kế hoạch của Hội Xuân Bích chứa đựng tất cả các yếu tố này, nhưng chúng thường được điều chỉnh theo di sản của truyền thống của chúng tôi. Do đó, chúng tôi có thể đưa ra mười đặc điểm của phương pháp Xuân Bích liên quan đến việc đào tạo linh mục[21].
Điểm nhấn Kitô học trong việc tôn thờ Chúa Ba Ngôi
Trong suốt các tác phẩm của mình, cha Jean-Jacques Olier nhắc nhở làm mọi sự « để tôn vinh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, nguồn mạch vô tận của mọi ân huệ[22] ». Ngài liên tục nhắc nhở các linh mục phải tuân theo nguồn mạch này, tấm gương tối cao của tình yêu và trao hiến chính mình.
Họ được mời gọi làm điều này bằng cách thực hành « nhân đức thờ phượng », một nhân đức mời gọi mỗi Kitô hữu, trong Chúa Kitô Giêsu, tham dự vào sự tự hiến liên tục như là sự thờ phượng để trao lại cho Chúa Cha tất cả những gì đến từ Ngài. Phương châm của các linh mục Xuân Bích, Vivere summe Deo in Christo Jesu (Sống hết mình cho Thiên Chúa trong Chúa Kitô Giêsu), minh họa điều này rất rõ ràng, nhắc nhở mỗi người rằng họ phải liên tục chết đi cho chính mình để được hoàn toàn tràn đầy sự sống thần linh trong Chúa Giêsu Kitô, thể hiện cuộc sống và các nhân đức của Chúa trong tất cả những gì họ thực hiện. Theo gương những gì Thánh Phaolô nói, họ phải liên lỉ ra sức chọn theo chân lý: « Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi[23] ».
Việc trở nên đồng hình đồng dạng như vậy với Chúa Kitô chỉ có thể được dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng mà mỗi linh mục được kêu gọi buông mình. Một trong những câu nói ưa thích của cha Olier, « buông mình cho Chúa Thánh Thần », diễn đạt điều đó một cách hoàn hảo. Sự buông mình như vậy cho phép các linh mục Xuân Bích ơn phân định, và hướng dẫn họ trong nhiệm vụ đào tạo linh mục. Như cha Jean-Jacques Olier nhắc nhở chúng tôi, ân huệ của Chúa Thánh Thần làm cho linh mục trở nên cao quý và làm cho họ nên đồng hình dạng theo hình ảnh của Chúa Ba Ngôi, như tình yêu thường hằng và được trao ban cho người khác.
Kết hiệp với Chúa Kitô, Linh Mục Đời Đời và Tối Cao
Trong các đặc điểm của việc đào tạo linh mục, truyền thống Xuân Bích nhấn mạnh đến nhu cầu về mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Tối Cao. Tất cả các linh mục đều tham dự một cách độc nhất vào chức tư tế duy nhất của Chúa Giêsu Kitô, nguồn gốc của mọi chức tư tế, Mục Tử Nhân Lành, Đấng kêu gọi những người khác noi theo bước chân của Người để dẫn dắt đoàn chiên của Người (Ga 21, 15-19). Việc đào tạo do Hội Linh Mục Xuân Bích đề ra cố gắng giúp các tân linh mục bước vào sự đồng hình đồng dạng này với Chúa Kitô, là Tư Tế, Ngôn Sứ và Vua, để họ thực thi đúng đắn và đầy đủ thừa tác vụ Lời Chúa, các Bí tích và Đức ái mục tử của linh mục[24].

Nhấn mạnh đến Lời Chúa và các Bí tích
Từ lâu trước Công đồng Vatican II, cha Jean-Jacques Olier đã định nghĩa thừa tác vụ đầu tiên của linh mục là thừa tác vụ Lời Chúa và các Bí tích[25]. Ngài đã viết:
« Thiên Chúa có hai kho tàng mà Người ký thác cho Giáo hội; kho tàng thứ nhất là Mình và Máu châu báu của Người; kho tàng thứ hai là Lời Chúa hay Thánh Kinh của Người, di chúc thiêng liêng của Người, là nơi lưu giữ những bí mật và ý muốn thần linh của Người… Tuy nhiên, kho tàng Thánh Kinh thánh thiêng này đã được lòng nhân từ của Thiên Chúa tin tưởng giao phó trong tay Giáo hội, sau đó Giáo hội đã giao phó cho linh mục để linh mục làm cho Thánh Kinh được lắng nghe và giải thích cho dân chúng, điều mà linh mục phải làm với lòng tôn kính tuyệt vời… “cư xử” Lời Chúa một cách thánh thiện, trân trọng và tôn kính Lời Chúa như Lời Chúa đáng được và càng cẩn thận hơn nữa vì cần phải có đức tin nhiều hơn nữa để tôn kính Lời Chúa và dành cho Lời Chúa sự tôn kính mà Lời Chúa đáng được, như thánh Augustinô đã nhận xét, khi muốn chúng ta dành cùng chính sự kính trọng đó đối với những âm tiết nhỏ nhất của văn tự như đối với các phần nhỏ của Thánh Thể, bởi vì chúng giống như những chiếc phong bì, những tấm màn và những bí tích chứa đựng Chúa Thánh Thần, là công cụ thông thường qua đó Ngài hoạt động trong Giáo hội…»[26].
Bản thân cha Olier là một người nhiệt thành đối với lòng sùng kính kép này. Để tôn vinh Lời Chúa, ngài đã làm đẹp cho cuốn Thánh Kinh cá nhân của mình, bảo quản nó trong một chiếc hộp trong phòng và khuyến khích các linh mục Xuân Bích làm như vậy. Chính ngài đọc Thánh Kinh một giờ mỗi ngày và tha thiết mời gọi các linh mục Xuân Bích và chủng sinh thực hành Lectio divina. Ngài đặc biệt thích thuyết trình về Thánh Kinh cho các chủng sinh, cho thấy kiến thức sâu xa của ngài về Thánh Kinh, đặc biệt là các Thư của Thánh Phaolô và Tin Mừng theo Thánh Gioan, và ngài đã giảng dạy giáo huấn của Thánh Kinh ở chủng viện trong suốt cuộc đời mình.
Về việc tôn kính các Bí tích, cha Olier cũng nhấn mạnh đến vai trò thánh hóa của các Bí tích đối với linh mục và giáo dân, đặc biệt là trong việc thực hành thường xuyên và đều đặn Bí tích Thánh Thể[27], mà Công đồng Vatican II gọi là « nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu[28] ». Sự sùng kính như vậy phải dẫn đến sự biến đổi nội tâm thông qua việc đồng hình đồng dạng với hy tế của Chúa Kitô trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần vì vinh quang và danh dự của Chúa Cha. Nhấn mạnh đến mối liên hệ nội tại giữa chức linh mục và Bí tích Thánh Thể, cha Olier nhấn mạnh đến sức mạnh hoán cải của Bí tích Thánh Thể:
« Theo lời Thánh Phaolô nói, trở thành của lễ sống động, hostiam viventem, không có nghĩa là chúng ta phải dùng đến vẻ bề ngoài của sự chết, nhưng là đến những tâm tình bên trong, để đời sống nội tâm của chúng ta trở thành lễ vật trên bàn thờ… nhờ đó, chúng ta đạt được sự sống thần linh, sự sống được thánh hóa, sự sống thiêng liêng trong sự kết hợp với Thiên Chúa[29] ».
Lòng sùng kính đan xen giữa Lời Chúa và các Bí tích này vẫn thiết yếu trong phương thức đào tạo linh mục của Hội Xuân Bích.

Tình yêu đối với Giáo hội và chức linh mục
Ngay từ khởi đầu, Hội đã được ghi dấu bằng tình yêu sâu xa đối với Giáo hội và chức linh mục. Cha Olier hiểu rằng chức linh mục là yếu tố then chốt trong cuộc cải cách của Giáo hội. Nếu những người loan báo Tin Mừng hoán cải, thì khi đó giáo dân sẽ theo sau. Ngài hiểu rằng việc đào tạo các linh mục “thánh thiện” có thể đảm bảo sự phát triển liên tục của Giáo hội về sự thánh thiện trong chừng mực họ dâng hiến cuộc sống của mình trong thừa tác vụ mục vụ. Ngài viết:
« Thiên Chúa mong muốn tôi đổi mới Giáo hội của Ngài bằng cách hướng dẫn nhiều linh mục về tinh thần giáo sĩ để họ trở nên mạnh mẽ hơn trong việc phục vụ Thiên Chúa bất cứ nơi nào Ngài muốn sai họ đến… Kế hoạch của Thiên Chúa cho Hội là truyền bá tinh thần linh mục này trong Giáo hội[30]».
Hội luôn duy trì mối liên kết rất chặt chẽ này giữa chức linh mục và Giáo hội, cả hai đều là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa.

Linh hướng
« Thừa tác vụ linh hướng giữ vị trí hàng đầu trong truyền thống Xuân Bích[31] ». So với các loại hình đào tạo linh mục khác, nét đặc thù của Xuân Bích nằm ở chỗ các linh mục thuộc nhóm đào tạo – ngoại trừ bề trên – phải sẵn sàng để các chủng sinh chọn làm cha linh hướng, trong sự tôn trọng quyền tự do. Họ phải lưu ý canh chừng vững vàng trong việc phân biệt giữa tòa trong và tòa ngoài, đặc biệt trong các cuộc họp hội đồng, đồng thời duy trì sự kín đáo tuyệt đối đối với các chủng sinh mà họ đồng hành. Hơn nữa, các cha linh hướng quá khứ hoặc hiện tại của chủng sinh không bao giờ được can thiệp vào các vấn đề liên quan đến các con linh hướng của mình, dù là tại chủng viện hay thông qua bất kỳ khuyến nghị nào với Đức Giám mục. Họ cũng không được cung cấp bất kỳ thông tin nào về đời sống thiêng liêng của các chủng sinh. Ở mỗi giai đoạn trong quá trình phát triển thiêng liêng của một chủng sinh, cha linh hướng của họ sẽ nỗ lực làm gia tăng « sự tự do nội tâm » của họ nhằm đáp ứng tốt nhất có thể ý muốn của Thiên Chúa dành cho họ[32].
Một cộng đoàn giáo dục
Hội Linh Mục Xuân Bích xác tín rằng việc đào tạo là một quá trình thống nhất trong đó mọi khía cạnh phải phục vụ cho sự phát triển hài hòa của ứng viên linh mục. Tất nhiên, bản thân cộng đoàn đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển này:
« Xác tín rằng việc chia sẻ đời sống linh mục của mình là giáo huấn sâu xa và hiệu quả nhất, các linh mục Xuân Bích sẽ sống thành cộng đồng chặt chẽ với các ứng viên linh mục. Họ sẽ thúc đẩy một cuộc đối thoại thực sự cho phép mọi người cảm thấy có trách nhiệm về một cộng đồng duy nhất. Qua đó, các điều kiện cụ thể để thực hiện thừa tác vụ trong Giáo hội sẽ được khám phá và trải nghiệm rồi, dưới khía cạnh kép của đời sống huynh đệ và sự tham gia vào một sứ mạng chung. Chính trong bối cảnh này, các khả năng cho sứ vụ sẽ được thể hiện rõ ràng hơn[33] ».
Qua chứng tá về lòng trung thành của linh mục xuất phát từ những lợi ích của đời sống chung, các linh mục Xuân Bích ra sức làm sao để mỗi thành viên trong cộng đoàn, trong vai trò của mình, ở mức độ trách nhiệm của mình, có thể cùng với những người khác đảm nhận những thách đố trong việc đào tạo chủng sinh[34].

Tính hợp đoàn
Hội Linh Mục Xuân Bích có cấu trúc riêng được xác định bởi sứ mạng của mình. Các linh mục Xuân Bích được tổ chức theo nguyên tắc hợp đoàn (collégialité) nhằm khuyến khích sự liên đới về trách nhiệm của họ. Ngay từ đầu, «Hội đồng các Cha giáo» (Asssemblée des Directeurs) đã đảm nhận một cách hợp đoàn trách nhiệm đào tạo tại các chủng viện; quyết định phải tuân theo biểu quyết đa số[35].
Ngay cả khi Bề trên địa phương của một chủng viện được ủy thác cho Hội Xuân Bích thực thi thẩm quyền thiêng liêng và trách nhiệm liên quan đến các khía cạnh hành chính, thì tất cả các quyết định quan trọng đối với đời sống cộng đoàn, cũng như việc kêu gọi truyền chức, phải là đối tượng của đa số phiếu của Ban Giám đốc.
Sự mở ra mang tính hợp đoàn này cho tác động của Chúa Thánh Thần trong việc đưa ra quyết định đã cho thấy sự khôn ngoan của nó qua các thế kỷ. Nó cho phép sự phân định chín chắn về quyết định trước khi nó được đưa ra; nó tránh những quyết định giảm nhẹ hoặc thiên vị do ảnh hưởng của người này hoặc người kia; nó thúc đẩy sự hiệp nhất của Ban Giám đốc bằng cách mời gọi mỗi thành viên đảm nhận trách nhiệm cá nhân vì lợi ích cộng đoàn. Hơn nữa, việc thực hành tính hợp đoàn còn cung cấp một mẫu gương tốt về sự hợp tác cho các chủng sinh trong công việc mục vụ của họ, cả trước và sau khi chịu chức.
Tinh thần truyền giáo và tông đồ
Cha Olier coi chủng viện như « hiện thân » của thời gian giữa Lễ Chúa Thăng Thiên và Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, một thời gian đặc ân trong đó các Tông đồ đọc lại kinh nghiệm và sự hiểu biết về cuộc đời của họ với Chúa Kitô, qua cầu nguyện, học tập và đời sống chung. Ngài cũng rất sùng kính Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Ngài đã nhờ đại họa sĩ Charles Le Brun (1619-1690) vẽ cảnh Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống để trang trí nhà nguyện của chủng viện mới của Hội Xuân Bích. Do đó, khi cộng đoàn tụ tập cầu nguyện trước bàn thờ, mỗi thành viên đều có thể nhìn thấy ở đó những vấn đề trong việc đào tạo tông đồ của mình. Cha Jean-Jacques Olier, sau đó ít lâu, đã khuyến khích các chủng sinh cầu xin tinh thần tông đồ mỗi ngày trong khi cầu nguyện.
« Tinh thần tông đồ » này đã khiến ngài muốn gửi các nhà thừa sai đến Montréal trong suốt cuộc đời mình, ngay cả khi bản thân ngài không thể thực hiện được ước mơ này:
« Tôi có một ước muốn bao la là cứu cả thế giới, truyền bá nhiệt huyết tình yêu và vinh quang của Thiên Chúa trong trái tim của mọi dân tộc. Tôi nghĩ rất nhiều về việc có thể quy tụ một ngàn người mà tôi có thể sai đi khắp nơi để đón nhận tình yêu của Chúa Giêsu Kitô…»[36]
Tinh thần tông đồ này đã hướng dẫn cha Olier trong những trình bày đầu tiên của ngài về chương trình đào tạo linh mục, được trình lên các Giám mục Pháp:
« Nếu trong chủng viện có ba người tông đồ khiêm tốn, tử tế, kiên nhẫn, nhiệt huyết, bác ái và sẵn có ý thức về sự nghèo khó, với kiến thức và sự khôn ngoan cần thiết cho sứ mạng thần linh, thì họ sẽ đủ để thánh hóa cả một giáo phận… »[37]
Ý thức sâu xa về định hướng truyền giáo này của chức linh mục[38], các linh mục Xuân Bích mong muốn sống theo tinh thần tông đồ và truyền giáo này, cũng như ưu tư đào tạo các linh mục nhằm thực hiện mệnh lệnh của Chúa: « Các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ[39] ». Ngày nay, tinh thần truyền giáo này tiếp tục ước muốn đó của các linh mục Xuân Bích trong việc phát triển công cuộc « tân Phúc Âm hóa » ở trung tâm của Giáo hội, như đã được Đức Thánh Cha Phanxicô và hai vị tiền nhiệm của ngài đề ra[40].
Một phương pháp đào tạo tiệm tiến và thống nhất
Từ những ngày đầu tiên cho đến ngày được thụ phong linh mục, Hội Linh mục Xuân Bích quan tâm đến việc đào tạo tiệm tiến và thống nhất[41]. Phương pháp này cho phép liên kết sự dấn thân cá nhân của chủng sinh với sự phát triển tương tác của bốn chiều kích đào tạo: nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ. Điều đó cũng thúc đẩy cách thức cá nhân trở thành linh mục theo trái tim của Chúa Kitô, Mục Tử Nhân Lành và Linh Mục Tối Cao. Thời gian khởi đầu và hội nhập này đòi hỏi mỗi chủng sinh phải phát triển khả năng của mình để có tinh thần trách nhiệm và trung thực. Tôn trọng và xem xét các ứng viên linh mục như là những người trưởng thành, các linh mục Xuân Bích đặt họ vào thách thức trở thành những người tham gia tích cực vào việc đào tạo của chính họ[42].
Đối với Hội Linh Mục Xuân Bích, quá trình đào tạo hình thành một tổng thể hữu cơ nhằm đồng hình đồng dạng các linh mục và chủng sinh với Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Đời Đời và Tối Cao, và do đó trở thành những cộng tác viên của các Giám mục trong việc thực hiện sứ mạng của Giáo hội[43].

Lòng sùng kính Đức Maria
Mặc dù người ta thường nói rằng Đức Trinh Nữ Maria là mẫu gương cho các linh mục[44], nhưng hình ảnh này còn khá mới mẻ vào thời cha Jean-Jacques Olier và những người sáng lập khác của Trường phái Linh đạo Pháp. Khi chọn lễ Đức Trinh Nữ Maria dâng mình vào Đền Thờ làm lễ quan thầy (21/11), cha Jean-Jacques Olier hiểu rằng Đức Maria là mẫu gương hoàn hảo của linh mục, không chỉ vì Mẹ đã nghe Lời Chúa và ghi nhớ Lời Chúa trong lòng, mà còn vì cả cuộc đời Mẹ đã được đánh dấu bằng mối dây lệ thuộc chặt chẽ vào Ngôi Lời Thiên Chúa mà Mẹ có đặc ân cưu mang trong lòng. Luôn vâng phục Lời Chúa mà Mẹ đã nghe, Đức Maria luôn giữ Lời Chúa trong lòng và đón nhận Lời Chúa để sinh ra Lời Chúa trong đời sống của mình.
Lòng sùng kính Đức Maria của các linh mục Xuân Bích được thể hiện đặc biệt trong lời cầu nguyện của họ, của chính họ và của các chủng sinh. Lời cầu nguyện của cha Olier, Ôi Chúa Giêsu sống trong Mẹ Maria, được đưa vào ở cuối tài liệu này[45].
HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH NGÀY NAY
Vẫn còn hạn chế về số lượng, Hội Linh Mục Xuân Bích ngày nay bao gồm hai trăm sáu mươi thành viên tiếp tục sống[46] cho việc đào tạo linh mục ban đầu và thường huấn linh mục[47]. Họ phục vụ ở mười tám quốc gia trên năm châu lục.
Hội được tổ chức thành ba Tỉnh: Pháp (1641), Canada (1657) và Hoa Kỳ (1791) với các trụ sở Tỉnh đặt tại Paris, Montréal và Baltimore. Mỗi Tỉnh được hướng dẫn bởi một Hội đồng tỉnh gồm có một bề trên và bốn cố vấn. Họ được bầu chọn sáu năm một lần bởi Hội nghị tỉnh, cấp quản trị cao nhất ở cấp này.
Hội cũng được lãnh đạo bởi một Tổng Hội đồng có thẩm quyền đối với toàn bộ Hội. Hội đồng này được Tổng Hội nghị, cấp quản trị cao nhất, bầu ra trong sáu năm, bao gồm Bề trên Tổng quyền và bốn cố vấn. Với tính chất quốc tế, ba trong số bốn thành viên của Hội đồng này là đại diện của ba Tỉnh của Hội. Thành viên thứ tư đảm bảo sự đại diện của các khu vực xa hơn với các trung tâm chính của Hội.
Kể từ năm 1864, Hội đã thiết lập mối liên lạc thường xuyên với Tòa Thánh, nhờ Trụ sở Quản lý hiện tọa lạc tại Chủng viện Giáo hoàng Canada ở Rôma. Vị đại diện cho phép thiết lập mối liên hệ với các Bộ khác nhau, đặc biệt trong các chuyến thăm Rôma của Tổng Hội đồng và các Hội đồng tỉnh. Hiện tại, Hội đặc trách 20 chủng viện tại các nước sau: Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Ý, Colombia, Brazil, Nhật Bản, Việt Nam, Malawi và Zambia. Cũng có các “nhà” Xuân Bích và các chương trình thường huấn do Hội Xuân Bích điều hành như ở Hoa Kỳ và Cộng hòa Dân chủ Congo. Một số giáo xứ cũng được giao cho các linh mục Xuân Bích ở mỗi Tỉnh. Hội Linh Mục Xuân Bích cũng phục vụ ở Bénin, Burkina Faso, Cameroon, Togo, Trung Quốc, Cộng hòa Congo (Brazzaville) và Tahiti.
MỘT TRUYỀN THỐNG SỐNG ĐỘNG
Kế thừa lòng nhiệt thành tông đồ của các bậc tiền bối, phương pháp sư phạm đào tạo linh mục của Hội Xuân Bích tiếp tục cho thấy khả năng thích ứng của nó ngày nay. Ngọn lửa khôn ngoan của cha Jean-Jacques Olier, được tiếp nối bởi một nhóm linh mục hoàn toàn tận tâm phục vụ thừa tác vụ linh mục, tiếp tục tỏa sáng trước những thách thức liên quan đến việc đào tạo linh mục vào buổi bình minh của thiên niên kỷ thứ ba này. Tràn đầy tình yêu sâu xa đối với Chúa Giêsu Kitô và Giáo hội của Người, các linh mục Xuân Bích đi theo bước chân của nhà thần bí vĩ đại này – cha Jean-Jacques Olier – lưu ý đến điều ngài đã nói: Sống hết mình cho Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô – Vivere summe Deo in Christo Jesu[48].
Noi gương ngài, chúng tôi tiếp tục cầu nguyện để Chúa gửi đến cho chúng tôi những nhà đào tạo, nhằm cho phép có đủ thợ cho mùa gặt ơn gọi linh mục (x. Mt 9, 38).

Lời cầu nguyện của cha Jean-Jacques Olier
O Jésus, vivant en Marie,
Venez et vivez en vos serviteurs,
Dans votre esprit de sainteté,
Dans la plénitude de votre force,
Dans la perfection de vos voies,
Dans la vérité de vos vertus,
Dans la communion de vos mystères,
Dominez sur toute puissance ennemie
En votre Esprit
Pour la Gloire du Père. Amen
*
* *
Ôi Chúa Giêsu sống trong Mẹ Maria,
xin ngự đến và sống trong tôi tớ Ngài,
trong tinh thần thánh thiện,
trong sung mãn quyền năng,
trong hoàn hảo đường lối,
trong chân thật nhân đức,
trong hiệp thông mầu nhiệm Chúa.
Xin Chúa thống trị mọi quyền lực quân thù,
nhờ Thánh Linh Ngài,
cho Vinh Danh Chúa Cha muôn đời. Amen
Để biết thêm thông tin:
Hãy ghé thăm các trang web của chúng tôi:
http://generalsaintsulpice.org, https://www.saintsulpicefrance.fr/, www.sulpc.org, và www.sulpicians.org, https://xuanbichvietnam.net , tất cả đều có liên kết đến các trang tài liệu khác.
Hoặc viết thư cho:
Supérieur Général des Prêtres de Saint-Sulpice
6, rue du Regard
75006 PARIS, FRANCE
Email: psssuperiorgeneral@gmail.com hoặc generalat@sulpc.org
——————————————————————————————————–
[1] Hiến pháp Hội Linh Mục Xuân Bích (2003), điều 1.
[2] Hồi ký, 7.23.
[3] Optatam totius ecclesiae, 22 : « fidenter concredunt munus ».
[4] Hiến pháp, điều 2.
[5] Divers écrits, 1, 87.
[6] Hiến pháp, điều 55.
[7] Hiến pháp, điều 6.
[8] Hiến pháp, điều 5.
[9] x. Gl 259.
[10] Hiến pháp, điều 9.
[11] Hiến pháp, điều 142.
[12] Christus Dominus, số 6.
[13] Hiến pháp, điều 3.
[14] x. GL 731.1.
[15] Hiến pháp, điều 7.
[16] Hiến pháp, điều 4.
[17] Việc bổ nhiệm các linh mục Xuân Bích trong các chủng viện phải được Bản quyền địa phương phê chuẩn. Xem Hiến pháp, điều 110 ORA.
[18] Xem R. DEVINE, L’École Française de spiritualité, 2e éd. (Paris, Desclée de Brouwer, 2008). Xem thêm Y. KRUMENACKER, L’École Française de spiritualité (Paris, Cerf, 1998).
[19] Hiến pháp, điều 9.
[20] Rõ ràng tài liệu quan trọng nhất là Pastores dabo vobis (PDV), Tông huấn hậu Thượng hội đồng năm 1992 của Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II. Tài liệu này đặt nền tảng cho chương trình đào tạo linh mục của Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis mới (2016).
[21] Điều 14 của Hiến pháp đề nghị năm trong số các đặc điểm này, năm đặc điểm còn lại nằm rải rác trong toàn bộ tài liệu.
[22] Chẳng hạn xem Hồi ký tự thuật của ngài, vol. 1, tr. 1 hoặc Pietas Seminarii, 2.
[23] Gl 2, 20 ; Pietas seminarii, 1.
[24] x. PDV 46.
[25] Xem Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis 4-5. Xem thêm PDV 26 và Hiến pháp, điều 33 ORA.
[26] JEAN-JACQUES OLIER, Le Traité des Saints Ordres, 125-26.
[27] Chẳng hạn, La Journée chrétienne (Paris, Jacques Langlois, 1655), passim, và Pietas seminarii 2. Xem thêm những trang của cha Olier viết về sự phục vụ của linh mục trong Le Traité des Saints Ordres, những trang trong đó mối liên hệ nội tại giữa linh mục và Bí tích Thánh Thể được thể hiện.
[28] Hiến chế Lumen gentium, 11.
[29] Divers écrits, 1, 19.
[30] Hồi ký 3, 83 và 7, 23.
[31] Hiến pháp, điều 18.
[32] Một tài liệu của Tỉnh Pháp, Une pédagogie de la liberté : Notes pédagogiques sur la formation des prêtres aujourd’hui (Paris: Compagnie des Prêtres de Saint Sulpice, 2009), đào sâu những chủ đề này.
[33] Hiến pháp, điều 25.
[34] Xem thêm PDV 60, nói về chủng viện như là sự tiếp nối cộng đoàn tông đồ của Chúa Giêsu.
[35] Hiến pháp, Phần III, Dẫn nhập.
[36] Hồi ký 2, 279.
[37] Projet de 1652, 728-289.
[38] Xem PDV 16, 23 và Ratio 33.
[39] Mt 28, 19.
[40] Xem Tông huấn Evangelii Gaudium (2013).
[41] Hiến pháp, điều 14.
[42] Pastores dabo vobis và Ratio mới nói rõ ràng rằng mỗi chủng sinh, một cách nào đó, là tác nhân của việc đào tạo chính mình (PDV 69; Ratio 53).
[43] Xem PDV 70-81 và Ratio 79-87.
[44] Xem PDV 82 ; Hiến pháp, điều 34.
[45] Phỏng theo phiên bản đầu tiên do cha Charles de Condren đưa ra, cha Olier đã sáng tác nhiều phiên bản của lời cầu nguyện này, từ đó đã trở thành lời cầu nguyện của cha Olier. Xem B. Pitaud, Petite vie de Jean-Jacques Olier, (Paris, Desclée de Brouwer, 1996) và Prier quinze jours avec Monsieur Olier (Bruyères-le-Chatel, Nouvelle Cité, 2007, tr. 49-54); Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói rằng lời cầu nguyện này chứa đựng một bản tóm tắt toàn bộ thần học về Đức Maria. Xem Hồng y J. Hickey, Mary at the Foot of the Cross: Teacher and Example of Holiness of Life for Us (San Francisco: Ignatius Press, 1988).
[46] Xem 1Cr 5, 6.
[47] Kể từ năm 2014, tên viết tắt của các thành viên của Hội là “PSS”, “P.S.S”, hoặc đôi khi là “p.s.s”.
[48] Xem Rm 6, 11.
——————————————————–
Tìm hiểu thêm Hội Xuân Bích tại Việt Nam ở đây.