ĐHY Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã phát biểu với truyền thông Vatican nhân dịp kỷ niệm hai năm cuộc tấn công “xấu xa và vô nhân đạo” của Hamas nhằm vào Israel vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, dẫn đến việc Dải Gaza bị tàn phá. Ngài kêu gọi trả tự do cho các con tin và chấm dứt bạo lực. Ngài tuyên bố rằng hậu quả ở Gaza là “thảm hại và vô nhân đạo”.

Hai năm đã trôi qua kể từ ngày kinh hoàng đánh dấu cuộc tấn công khủng bố của Hamas vào Israel, và kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh toàn diện đã san phẳng Dải Gaza. Cùng nhìn lại những sự kiện đó và những gì diễn ra sau đó với Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh.
Trọng kính Đức Hồng y, chúng ta đang bước vào năm thứ ba kể từ vụ tấn công bi thảm ngày 7 tháng 10. Đức Hồng y có những kỷ niệm gì về khoảnh khắc đó và theo Đức Hồng y, khoảnh khắc đó có ý nghĩa gì đối với Nhà nước Israel và các cộng đồng Do Thái trên toàn thế giới?
Tôi xin nhắc lại những gì tôi đã có cơ hội nói vào thời điểm đó: vụ tấn công khủng bố do Hamas và các lực lượng dân quân khác thực hiện nhằm vào hàng ngàn người Israel và người di cư thường trú, nhiều người trong số họ là thường dân, đang chuẩn bị mừng lễ Simchat Torah, vào cuối tuần lễ Sukkot, là vô nhân đạo và không thể biện minh được. Bạo lực tàn bạo nhắm vào trẻ em, phụ nữ, thanh thiếu niên và người già không thể biện minh được. Đó là một vụ thảm sát xấu xa và, tôi xin nhắc lại, vô nhân đạo. Tòa Thánh đã ngay lập tức lên án mạnh mẽ và toàn diện, kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho các con tin và bày tỏ tình liên đới với gia đình các nạn nhân của vụ tấn công khủng bố. Chúng tôi đã và đang cầu nguyện, cũng như tiếp tục cầu xin chấm dứt vòng xoáy tai ác của hận thù và bạo lực đang có nguy cơ kéo chúng ta vào vực thẳm không thể quay lại này.
ĐHY muốn nói gì với các gia đình của những con tin người Israel vẫn đang bị Hamas giam giữ?
Thật bất hạnh, hai năm đã trôi qua; một số người trong số họ đã chết, những người khác đã được trả tự do sau những cuộc đàm phán kéo dài. Tôi vô cùng xúc động và đau buồn trước hình ảnh những người này bị giam cầm trong các đường hầm và bị bỏ đói. Chúng ta không thể và không được quên họ. Tôi nhớ rằng Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong 18 tháng cuối đời, đã phát động không dưới 21 lời kêu gọi công khai yêu cầu thả các con tin. Ngài cũng đã gặp gỡ một số gia đình của họ. Người kế nhiệm của ngài, Đức Giáo hoàng Lêô XIV, tiếp tục đưa ra những lời kêu gọi này. Tôi bày tỏ tình liên đới hoàn toàn với họ, trong lời cầu nguyện hàng ngày của tôi cho nỗi đau khổ của họ, tiếp tục đảm bảo với họ rằng chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng làm mọi thứ có thể để họ có thể đoàn tụ với những người thân yêu của họ một cách an toàn và khỏe mạnh, hoặc ít nhất là tìm thấy thi thể của những người đã thiệt mạng, để họ có thể được chôn cất một cách xứng đáng.
Khi tưởng nhớ một năm cuộc tấn công ngày 7/10, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về “sự bất lực đáng xấu hổ của cộng đồng quốc tế và các quốc gia hùng mạnh nhất trong việc làm cho im lặng tiếng súng và chấm dứt thảm kịch chiến tranh”. Phải là gì cho hòa bình gì?
Ngày nay, tình hình ở Gaza thậm chí còn nghiêm trọng và bi thảm hơn một năm trước, sau một cuộc chiến tàn khốc khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng. Cần phải khám phá lại ý thức của lý trí, cần từ bỏ lôgic mù quáng của hận thù và trả thù, cần từ chối bạo lực như một giải pháp. Người bị tấn công có quyền tự vệ, nhưng ngay cả việc tự vệ cũng phải tôn trọng nguyên tắc cân xứng. Thật không may, cuộc chiến sau đó đã gây ra những hậu quả tai hại và phi nhân… Tôi bị sốc và đau buồn trước con số người chết hàng ngày ở Palestine, hàng chục, thậm chí đôi khi hàng trăm người mỗi ngày, nhiều người trong số họ là trẻ em mà dường như lỗi duy nhất của chúng là chúng được sinh ra ở đó: chúng ta có nguy cơ hóa quen với cuộc tàn sát này! Người ta bị giết khi đang cố gắng để có được một mẩu bánh mì, người ta bị chôn dưới đống đổ nát của nhà họ, người ta bị đánh bom trong bệnh viện, trong lều trại, người dân di tản buộc phải đi từ đầu đến cuối lãnh thổ chật chội và đông dân này… Thật không thể chấp nhận được và không thể biện minh được khi biến con người thành những “nạn nhân thế chấp” đơn giản.
Làm thế nào chúng ta có thể đánh giá các vụ việc bài Do Thái đã gia tăng đáng kể ở các khu vực khác nhau trên thế giới trong những tháng gần đây?
Đây là một hậu quả đáng buồn và cũng hoàn toàn không được biện minh: chúng ta đang sống trong một thế giới của những thông tin sai lệch, của sự đơn giản hóa thực tại. Và điều này khiến những người được nuôi dưỡng từ những thông tin này quy trách nhiệm về những gì đang xảy ra ngày nay ở Gaza cho người Do Thái. Chúng ta biết rằng không phải như vậy: cũng có nhiều tiếng nói bất đồng quan điểm mạnh mẽ nổi lên trong thế giới Do Thái chống lại cách mà chính phủ Israel hiện tại đã và đang hành động ở Gaza và trong phần còn lại của Palestine, nơi mà chúng ta đừng quên chủ nghĩa bành trướng bạo lực thường xuyên của những thực dân đất mới nhằm mục đích làm cho sự ra đời của một nhà nước Palestine là điều không thể. Chúng ta thấy chứng tá công khai của các gia đình con tin. Chủ nghĩa bài Do Thái là một căn bệnh ung thư cần phải chiến đấu và loại bỏ: chúng ta cần những người nam và người nữ có thiện chí, những nhà giáo dục giúp hiểu và trên hết là phân biệt… Chúng ta không thể quên những gì đã xảy ra ở trung tâm Châu Âu với Shoah, chúng ta phải cam kết dấn thân với tất cả sức lực của mình để đảm bảo rằng tội ác này không tái diễn.
Đồng thời, chúng ta phải đảm bảo rằng các hành động vô nhân đạo và vi phạm luật nhân đạo không bao giờ được biện minh: không người Do Thái nào phải bị tấn công hoặc phân biệt đối xử vì là người Do Thái, không người Palestine nào phải bị tấn công hoặc phân biệt đối xử vì căn tính của mình bởi vì họ là, như chúng ta không may nghe người ta nói, “một kẻ khủng bố tiềm tàng”. Chuỗi hận thù tai hại chắc chắn sẽ tạo ra một vòng xoáy không mang lại điều gì tốt đẹp. Thật đáng tiếc khi chúng ta không học được những bài học từ lịch sử, thậm chí cả lịch sử gần đây, vốn vẫn là nguồn bài học cho cuộc sống.
ĐHY đã gợi lên một tình huống không thể giải quyết được và ám chỉ đến nhiều lợi ích đang được nói đến, ngăn cản sự kết thúc của chiến tranh. Đâu là những lợi ích này?
Có vẻ như rõ ràng là cuộc chiến do quân đội Israel tiến hành để đánh bại dân quân Hamas đã không tính đến thực tế là họ phải đối mặt với một dân số hầu hết không có khả năng tự vệ và kiệt sức, trong một khu vực rải rác những ngôi nhà và tòa nhà bị san bằng: chỉ cần nhìn thấy những hình ảnh trên không để nhận ra Gaza ngày nay là gì. Đối với tôi, điều hiển nhiên không kém là cộng đồng quốc tế không may bất lực và các quốc gia có ảnh hưởng thực sự cho đến nay vẫn chưa hành động để chấm dứt cuộc tàn sát đang diễn ra. Tôi chỉ có thể lặp lại những lời rất rõ ràng về chủ đề này của Đức Giáo hoàng Lêô XIV vào ngày 20/7: “Tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế tôn trọng luật nhân đạo và nghĩa vụ bảo vệ thường dân, cũng như cấm trừng phạt tập thể, sử dụng vũ lực bừa bãi và cưỡng bức di dời dân chúng”. Những lời vẫn đang chờ được nghe và hiểu.
Vậy cộng đồng quốc tế có thể làm gì?
Họ chắc chắn có thể làm được nhiều hơn những gì họ đang làm. Sẽ chưa đủ nếu nói rằng những gì đang xảy ra là không thể chấp nhận được và tiếp tục để nó xảy ra. Những câu hỏi nghiêm túc phải được đặt ra về tính hợp pháp, chẳng hạn như việc tiếp tục cung cấp vũ khí được sử dụng để gây bất lợi cho dân thường. Thật không may, như chúng ta đã thấy, Liên Hợp Quốc cho đến nay vẫn chưa thể ngăn chặn những gì đang xảy ra. Nhưng có những tác nhân quốc tế có khả năng gây ảnh hưởng lớn hơn để chấm dứt thảm kịch này, và phải tìm ra cách để trao cho Liên Hợp Quốc một vai trò hiệu quả hơn trong việc chấm dứt nhiều cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn đang hoành hành trên thế giới.
ĐHY nghĩ gì về kế hoạch do Tổng thống Donald Trump trình bày nhằm đạt được lệnh ngừng bắn và chấm dứt chiến tranh?
Bất kỳ kế hoạch nào bao hàm người dân Palestine trong các quyết định về tương lai của họ và cho phép chấm dứt vụ thảm sát này, giải phóng con tin và chấm dứt việc giết hại hàng trăm người mỗi ngày, đều phải được hoan nghênh và ủng hộ. Đức Thánh Cha cũng bày tỏ hy vọng rằng các bên sẽ chấp nhận kế hoạch này và cuối cùng chúng ta có thể dấn thân vào con đường hòa bình.
Làm thế nào đánh giá quan điểm của các xã hội dân sự đang được biểu lộ, kể cả ở Israel, chống lại các chính sách chiến tranh của chính phủ Israel và ủng hộ hòa bình?
Ngay cả đôi khi những sáng kiến này, do bạo lực của một số kẻ gây rối, có nguy cơ gửi đi một thông điệp sai lầm trên các phương tiện truyền thông, tôi vẫn rất ấn tượng trước sự tham gia vào các cuộc biểu tình và sự dấn thân của nhiều người trẻ. Đó là dấu hiệu cho thấy chúng ta không bị kết án là thờ ơ. Chúng ta phải nghiêm túc xem xét mong muốn hòa bình này, mong muốn cam kết này… Đó là về tương lai của chúng ta, về tương lai của thế giới chúng ta.
Ngay cả trong Giáo hội, một số người cho rằng đối mặt với tất cả những điều này, trên hết cần phải cầu nguyện, không xuống đường để không trở thành trò chơi của những kẻ bạo lực…
Tôi đã được rửa tội, tôi là một tín hữu, tôi là một linh mục: đối với tôi, việc không ngừng cầu nguyện trước Thiên Chúa để Ngài trợ giúp chúng ta, giúp đỡ chúng ta và can thiệp nhằm chấm dứt tất cả những điều này bằng cách hỗ trợ những nỗ lực của những người nam và người nữ có thiện chí là cần thiết, hàng ngày, căn bản. Đức Giáo hoàng Lêô XIV một lần nữa đã mời gọi chúng ta đọc kinh Mân Côi cầu nguyện cho hòa bình vào ngày 11/10. Nhưng tôi cũng muốn nhắc nhở rằng đức tin Kitô giáo là nhập thể hoặc không… Chúng ta là môn đệ của một Thiên Chúa đã trở thành con người bằng cách mặc lấy nhân tính của chúng ta và là Đấng đã cho chúng ta thấy rằng chúng ta không thể thờ ơ với những gì xảy ra xung quanh và thậm chí ở rất xa chúng ta. Đây là lý do tại sao cầu nguyện không bao giờ là đủ, nhưng sự dấn thân cụ thể, việc huy động các lương tâm, các sáng kiến hòa bình, nâng cao nhận thức cũng sẽ không bao giờ là đủ, ngay cả với cái giá xuất hiện “ngoài thế giới”, thậm chí phải trả giá bằng việc chấp nhận rủi ro: có một đa số thầm lặng – cũng bao gồm nhiều người trẻ – không thể cam chịu trước sự vô nhân đạo này. Họ cũng được mời gọi cầu nguyện. Tôi thấy thật sai lầm khi nghĩ rằng vai trò của chúng ta, với tư cách là những Kitô hữu, là nhốt mình trong phòng áo. Cầu nguyện cũng kêu gọi sự dấn thân, chứng tá, những lựa chọn cụ thể.
Đức Giáo hoàng Lêô XIV không bao giờ mệt mỏi cầu xin hòa bình. Tòa Thánh có thể làm gì trong hoàn cảnh này? Sự đóng góp của Tòa Thánh và của toàn thể Giáo hội có thể là gì?
Tòa Thánh, đôi khi bị hiểu lầm, vẫn tiếp tục cầu xin hòa bình, mời gọi đối thoại, sử dụng các từ “thương lượng” và “đàm phán”, và làm như vậy trên cơ sở một tính hiện thực sâu sắc: giải pháp thay thế cho ngoại giao là chiến tranh vĩnh viễn, đó là vực thẳm của hận thù và sự tự hủy diệt của thế giới. Chúng ta phải hét to và rõ ràng: hãy dừng lại trước khi quá muộn. Và chúng ta phải hành động, làm mọi thứ có thể để không quá muộn. Hết sức có thể của chúng ta.
Tại sao việc công nhận Nhà nước Palestine lại quan trọng vào thời điểm này?
Tòa Thánh đã chính thức công nhận Nhà nước Palestine cách đây mười năm, với Thỏa thuận toàn diện giữa Tòa Thánh và Nhà nước Palestine. Lời mở đầu của thỏa thuận quốc tế này hoàn toàn ủng hộ một giải pháp công bằng, toàn diện và hòa bình cho vấn đề Palestine, về mọi mặt, phù hợp với luật pháp quốc tế và tất cả các nghị quyết liên quan của Liên Hợp quốc. Đồng thời, nó hỗ trợ một nhà nước Palestine độc lập, có chủ quyền, dân chủ và đứng vững được, bao gồm Bờ Tây, Đông Giêrusalem và Gaza. Cũng chính Thỏa thuận này xác định Quốc gia này không đối lập với các quốc gia khác, nhưng có khả năng cùng tồn tại với các nước láng giềng trong hòa bình và an ninh. Chúng ta rất vui mừng khi một số quốc gia trên thế giới đã công nhận Nhà nước Palestine. Nhưng chúng ta không thể không lưu ý với sự quan ngại rằng các tuyên bố và quyết định của Israel đi theo hướng ngược lại, tức là chúng nhằm mục đích ngăn chặn mãi mãi sự ra đời của một nhà nước Palestine thực sự. Giải pháp này – sự ra đời của một nhà nước Palestine – dường như càng có giá trị hơn đối với tôi sau những gì đã xảy ra trong hai năm qua. Đây là con đường của hai dân tộc ở hai quốc gia mà Tòa Thánh đã đi theo ngay từ đầu. Vận mệnh của hai dân tộc, hai quốc gia gắn liền với nhau.
Tình trạng cộng đồng Kitô giáo ở thực địa như thế nào sau vụ tấn công bạo lực vào Giáo xứ Thánh Gia, và tại sao vai trò của cộng đồng này trong bối cảnh Trung Đông lại quan trọng?
Các Kitô hữu ở Gaza, như chúng ta đã thấy, cũng đã bị tấn công… Tôi cảm động khi nghĩ đến những người này quyết tâm ở lại, những người hàng ngày cầu nguyện cho hòa bình và cho các nạn nhân. Tình hình ngày càng nguy cấp. Chúng tôi cố gắng ở bên cạnh họ bằng mọi cách có thể, nhờ vào các hoạt động của Tòa Thượng Phụ Latinh tại Giêrusalem và Caritas. Chúng tôi cảm ơn các chính phủ và tất cả các tổ chức đã cam kết cung cấp viện trợ và giúp những người bị thương nặng được giải cứu. Vai trò của các Kitô hữu ở Trung Đông đã và vẫn là nền tảng, ngay cả khi số lượng của họ đang giảm dần. Tôi muốn nhắc nhở rằng họ tham gia trọn vẹn vào các sự kiện ảnh hưởng đến người dân Palestine bị hành hạ của họ, những người mà họ cùng chia sẻ nỗi đau khổ.
———————————–
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn: Andrea Tornielli và Roberto Paglialonga – Vatican News)