TÌM HIỂU VĂN KIỆN CHUNG KẾT THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC XVI
TÌM HIỂU VĂN KIỆN CHUNG KẾT THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC XVI
(Lm. Giuse Lê Công Đức biên soạn, toát lược)
I. THẨM QUYỀN CỦA VĂN KIỆN CHUNG KẾT THĐ 16
“VKCK làm nên một phần thuộc Huấn quyền thông thường của Người kế vị Thánh Phêrô, và với tư cách đó, tôi yêu cầu chấp nhận nó. Nó là một hình thức thực thi giáo huấn chân thực của Giám mục Rôma… Khi phê duyệt Văn kiện, vào ngày 26.10 vừa qua, tôi đã nói rằng nó không có tính chuẩn mực cách chặt chẽ và việc áp dụng nó sẽ đòi hỏi một số hình thức trung gian. Điều này không có nghĩa là nó không đòi các Giáo hội ngay từ bây giờ phải đưa ra các quyết định phù hợp với những chỉ dẫn của nó” (Ghi chú của ĐTC Phanxicô, 24.11.2024).
II. CÁC CÂU HỎI GỢI Ý TÌM HIỂU
- Cho đến nay chúng ta đã nghe và nói khá nhiều về ‘hiệp hành’. Bạn hiểu ‘hiệp hành’ là gì?
- Ba chiều kích ‘hiệp thông – tham gia – sứ mạng’ trong chủ đề của THĐ 16 được hiểu thế nào? (x. 31-32)
- Trình thuật Ngôi Mộ Trống ở Ga 20 minh họa tính hiệp hành như thế nào?
- Cùng nhau lắng nghe và phân định, đây là thực hành đặc trưng của tính hiệp hành. Tại sao?
- Dân Thiên Chúa không phải là tổng số những người đã lãnh Phép Rửa, nhưng là chủ thể của tính hiệp hành và của sứ mạng. Hãy giải thích! (x. 17).
- Bối cảnh thế giới và Giáo hội ngày nay có ‘cơn khủng hoảng về sự tham gia’. Hãy nêu vài dẫn chứng! (x. 20)
- Việc cử hành Thánh lễ thể hiện tính hiệp hành như thế nào?
- Toàn thể Dân Thiên Chúa tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội trong tinh thần ‘đồng trách nhiệm có phân biệt’. Đồng trách nhiệm có phân biệt nghĩa là gì?
- Nơi Đức Maria ta thấy những đặc điểm của một Giáo hội hiệp hành. Hãy giải thích! (x. 29)
- Sự hiệp nhất cần vun đắp trong Giáo hội là ‘sự hiệp nhất xét như hòa hợp’. Hãy giải thích? (x. 34-42)
- Tính hiệp hành không phải là một sách lược mang tính tổ chức. Tại sao? (x. 44)
- Tính hiệp hành như lời ngôn sứ cho xã hội. Hãy đưa ví dụ về thể chế quản lý xã hội cần nhận cảm hứng từ tính ‘hiệp hành’! (x. 47-48)
- Sự phân định trong Giáo hội / Các tiến trình đưa ra quyết định / Trách nhiệm giải trình và đánh giá – Đó là ba thực hành đáp lại LỜI hướng chỉ nẻo đường sứ mạng cho Giáo hội. Hãy nêu điều tương tự được ghi nhận trong thực hành của (các) Hội dòng! (x. 79)
- Việc đưa ra quyết định cần có qui trình. Hãy nêu một ví dụ về qui trình này! (x. 93-94)
- Tính hiệp hành được thể hiện trong toàn bộ tiến trình Khai tâm Kitô giáo. Bạn đánh giá thế nào về cách chúng ta thực hiện tiến trình này, nói chung tại các Giáo hội địa phương của chúng ta? (x. 24-26, và 142)
- Canh tân Hội Thánh trong tính hiệp hành và tính sứ mạng thừa sai, đây có phải là một bước hoàn toàn mới mẻ, vượt qua Công đồng Vatican II, để đáp ứng nhu cầu của Hội Thánh và của thế giới hôm nay không? Tại sao? (x. 5)
- Kinh nghiệm của bạn thế nào về sự cần thiết phải hoán cải các mối tương quan để xây dựng cộng đoàn Kitô hữu và định hình cho sứ mạng trong sự đan kết các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ? (x. 11, và Phần II)
- Đại dịch Covid-19 trong những năm trước gợi ý thế nào cho chúng ta nhận thức về tầm quan trọng của tính hiệp hành?
III. THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
- THĐGM là gì?
THĐGM là cơ chế tổ chức được thánh Giáo hoàng Phaolô VI thiết lập theo tinh thần Vat. II. (15.9.1965) nhằm giúp cố vấn cho Giáo hoàng trong việc cai quản Giáo hội (x. VKCK, 136). Các Hội nghị THĐGM có hai loại: thường kỳ và đặc biệt (tức ngoại thường).
- Qui trình của một Hội nghị THĐGM như thế nào?
Mỗi THĐGM có một chủ đề, với Bản Câu Hỏi (Lineamenta) được phổ biến trước cho các HĐGM. Các phản hồi được đúc kết và dựa vào đó một Tài liệu Làm việc (Instrumentum laboris) sẽ được soạn thảo. Các đại biểu giám mục (nghị phụ) sẽ họp Hội Nghị tại Rôma trong khoảng một tháng, và làm việc dựa trên IL ấy. Cuối cùng, các nghị phụ đúc kết một Bản Đề Nghị đệ trình Đức thánh cha. Tham khảo Bản Đề Nghị này, cũng như dựa vào các ý tưởng của chính mình, Đức thánh cha sẽ hoàn thành một văn kiện huấn quyền gọi là ‘Tông huấn hậu THĐGM’. Chính Đức thánh cha ký và ban hành Tông huấn.
IV. KHÁI QUÁT VỀ THĐGM LẦN THỨ 16
THĐGM 16 diễn tiến theo qui trình ấy, với một số nét riêng đáng lưu ý.
- Chủ đề về ‘hiệp hành’, tức đồng hành đồng nghị. Nghĩa là, đây là ‘một cuộc đồng nghị về tính đồng nghị’ (a synod on synodality)!
- Cuộc thỉnh ý dân Chúa, tức tham vấn mọi người cách rộng rãi tại các Giáo hội địa phương, là bước bắt đầu tiến trình THĐGM lần này. Mỗi giáo phận tổng hợp kết quả tham vấn này trong 10 trang A4 và đệ trình Tòa Thánh, qua HĐGM quốc qia.
- Tiến trình THĐGM kéo dài 3 năm (2021-2024). Sau giai đoạn ở địa phương, đến các giai đoạn cấp quốc gia và châu lục. Cuối cùng là hai khóa Hội Nghị tại Rôma vào tháng 10/2023 và tháng 10/2024, mỗi khóa đều có Tài liệu Làm việc riêng, được soạn thảo dựa vào các kết quả cập nhật của tiến trình.
- Thành phần tham dự tiến trình THĐGM, như thế, hiểu rộng rãi là toàn thể Dân Thiên Chúa. Hiểu chuyên biệt hơn, thành phần tham dự hai khóa Hội Nghị ở Rôma gồm các đại biểu giám mục như thông lệ, nhưng đặc biệt lần này có bao gồm các đại biểu không phải là giám mục (nhất là các phụ nữ).
- Phương pháp thảo luận được dùng trong các khóa Hội Nghị là ‘đàm thoại trong Thánh Thần’!
- Không có Bản Đề Nghị cuối cùng để đệ trình Đức thánh cha, cũng không có Tông huấn hậu THĐGM do Đức thánh cha biên soạn, ký tên và công bố. Thay vào đó, chính ‘Văn kiện Chung kết’ (VKCK) là Tài liệu huấn quyền chính thức, được ‘THĐGM’ đứng tên tác giả. Đức thánh cha Phanxicô công bố một ‘Ghi chú’ xác nhận thẩm quyền giáo huấn của VKCK này.
- Thực ra, THĐGM 16 chưa kết thúc với sự bế mạc khóa Hội Nghị thứ hai (27.10.2024), mà mở ra giai đoạn thực hiện… là chính thời gian hiện tại của chúng ta! (x. VKCK, 9).
- Cấu trúc VKCK: Gồm phần Giới Thiệu, 5 phần chính, và phần Kết Luận – tổng cộng 155 số.
V. PHẦN GIỚI THIỆU (1-12)
Phần này là nội dung khái quát về VKCK, cũng là giới thiệu toàn cảnh THĐGM 16 – về tinh thần và tiến trình của nó – cho tới nay, mở ra giai đoạn thực hiện phía trước.
(1) Giáo hội, trong Chúa Phục sinh và trong Thánh Thần, hướng đến sự hiệp nhất trong khác biệt.
(2) Bối cảnh: Những vấn đề và những đau khổ của con người hôm nay.
(3) THĐGM 16 với các giai đoạn trong tiến trình của nó.
(4) Hướng đến sự hiệp nhất của mọi người đã lãnh Phép Rửa, trong sứ mạng phục vụ cho sự hiệp nhất của toàn thế giới.
(5) Phong cách đồng hành đồng nghị (hiệp hành) là phát huy hạt giống của Công đồng Vatican II.
(6) Kinh nghiệm của các đại biểu (tham dự viên): mệt mỏi, sám hối, xấu hổ, gọi tên các tội lỗi của Giáo hội.
(7) Ghi nhận các hoa trái đầu tiên của con đường đồng hành đồng nghị từ năm 2021.
(8) Một số chủ đề được đặc biệt quan tâm trước mắt.
(9) Giai đoạn thực hiện: Phương pháp tham vấn và phân định; việc đào tạo; việc đánh giá; việc đồng hành; việc giám sát nghiên cứu.
(10) Xác nhận VKCK này là kết quả của toàn tiến trình THĐGM 16.
(11) VKCK là tiếng gọi hoán cải đối với các Giáo hội địa phương và Giáo hội phổ quát. Giới thiệu bố cục của VKCK…
(12) Các trình thuật Phục sinh là nguồn cảm hứng của việc biên soạn VKCK này.
VI. PHẦN I: TRỌNG TÂM CỦA TÍNH ĐỒNG HÀNH ĐỒNG NGHỊ (HIỆP HÀNH) – Được Chúa Thánh Thần Kêu Gọi Hoán Cải (13-48)
*Ý lực: Ga 20,1-2: Vào ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mácđala ra mộ vào sáng sớm, lúc trời vẫn còn tối, và thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến (Ga 20,1-2).
Mỗi người có đặc sủng riêng trong việc tìm kiếm chung. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa họ thể hiện trọng tâm của tính đồng hành đồng nghị (hiệp hành)… (13).
Quảng diễn đoạn Tin Mừng Ga 20: Sứ mạng của Giáo hội là làm chứng về biến cố Phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng mang lại bình an, tự do và hy vọng cho thế giới. Để làm chứng như vậy, cần nhận ra sự trống rỗng nội tâm của mình, nhận ra bóng tối của sự sợ hãi, sự nghi ngờ và tội lỗi. Ai ở trong bóng tối có can đảm ra đi tìm kiếm, sẽ khám phá rằng chính mình được tìm kiếm, được gọi đich danh, được tha thứ, và được sai đi cùng với anh chị em mình (14).
– Giáo hội Dân Thiên Chúa, Bí tích của sự hiệp nhất (15-20)
Chính từ Phép Rửa mà Giáo hội có tính sứ mạng thừa sai và đồng hành đồng nghị (hiệp hành) ra đời (15). Giáo hội là một Dân lữ hành, hiệp thông và hiệp nhất nhờ Thánh Thể, và được thiết lập như Thân Mình Chúa Kitô, với mỗi người là chi thể. Giáo hội là Đền thờ của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho tất cả chúng ta trở nên những viên đá sống động của một tòa nhà thiêng liêng (16). Dân Thiên Chúa, được qui tụ từ mọi bối cảnh xuất xứ, không phải là một tổng số những người đã lãnh Phép Rửa, nhưng là chủ thể (có tính tập thể và tính lịch sử) của tính đồng hành đồng nghị (hiệp hành) và của sứ mạng (17).
Trong Dân thánh của Thiên Chúa, sự hiệp thông của các tín hữu (communio Fidelium) cũng là sự hiệp thông của các Giáo hội (communio Ecclesiarum), được thể hiện trong sự hiệp thông của các Giám mục (communio Episcoporum). Giám mục Rôma là nguyên tắc và nền tảng hữu hình và vĩnh viễn của sự hiệp nhất (18).
Giáo hội đặc biệt quan tâm người nghèo, trở nên nghèo với người nghèo, lắng nghe và nhận ra đặc sủng của họ, coi người nghèo là chủ thể của việc loan báo Tin Mừng (19). Giáo hội phản chiếu ánh sáng Chúa Kitô cho thế giới, vun đắp tình huynh đệ của gia đình nhân loại trong bối cảnh cơn khủng hoảng về sự tham gia (tức về cảm thức thuộc về và cảm thức trách nhiệm vận mệnh chung) và trong bối cảnh quan niệm đầy tính cá nhân chủ nghĩa về hạnh phúc và về sự cứu rỗi (20).
– Những gốc rễ có tính Bí tích của Dân Thiên Chúa (21-27)
Các ơn gọi, đặc sủng, tác vụ thì đa dạng, nhưng có cùng nguồn gốc: “Tất cả chúng ta đều được thanh tẩy bởi một Thánh Thần để làm nên một thân thể” (1Cr 12,13). Phép Rửa trao ban phẩm giá lớn nhất: trở thành con cái Thiên Chúa! Vì vậy, mọi người chúng ta đều bình đẳng, bước đi cùng nhau như anh chị em (21). Nhờ Phép Rửa, mọi tín hữu đều sở hữu cảm thức đức tin (sensus fidei) là nguyên tắc của tính đồng hành đồng nghị (hiệp hành). Cảm thức đức tin không được nhầm lẫn với công luận, bởi nó gắn liền với sự phân định của các mục tử (như được thể hiện qua các giai đoạn của THĐGM 16, nhằm đạt được sự đồng thuận của các tín hữu, consensus fidelium) (22). Cảm thức đức tin còn là nền tảng của đại kết – và đại kết trước hết là vấn đề canh tân linh đạo (23).
Phép Rửa chỉ được hiểu đầy đủ trong toàn cục Khai tâm Kitô giáo – là hành trình Chúa dẫn chúng ta đến với đức tin Phục sinh và đưa ta vào mối hiệp thông Giáo hội và Ba Ngôi. Việc khai tâm đưa ta vào tiếp xúc với nhiều ơn gọi và nhiều sứ vụ khác nhau trong Giáo hội – qua đó ta kinh nghiệm hình thức đầu tiên của tính hiệp hành (24). Trong hành trình Khai tâm này, Bí tích Thêm sức làm phong phú đời sống của các tín hữu bằng việc tuôn đổ Thánh Thần cách đặc biệt nhằm mục đích làm chứng (25). Trong khi đó, Bí tích Thánh Thể vừa biểu thị vừa thực hiện sự hiệp nhất của Giáo hội. Là Thân Thể Chúa Kitô, chúng ta học từ Bí tích Thánh Thể để diễn tả sự hiệp nhất và đa nguyên (26). Có một mối liên kết chặt chẽ giữa synaxis và synodos, giữa cuộc qui tụ cử hành Thánh Thể và cuộc qui tụ đồng nghị. Chính Thánh Thần là Đấng bảo đảm sự hiệp nhất trong cuộc qui tụ cử hành Thánh Thể cũng như trong cuộc qui tụ hiệp hành. Chúng ta cần nghiên cứu đào sâu mối liên kết giữa phụng vụ và tính hiệp hành, sao cho các cử hành phụng vụ có sức diễn tả tính hiệp hành nhiều hơn (27).
– Ý nghĩa và các chiều kích của tính hiệp hành (28-33)
‘Tính đồng hành đồng nghị’ (hiệp hành) liên quan tới việc tập hợp tại một công nghị. Trong truyền thống, nó qui chiếu đến các cơ chế và các sự kiện khác nhau, liên quan đến nhiều chủ thể – mà điểm chung là việc tập hợp lại với nhau để đối thoại, phân định và quyết định. Ngày nay, tính hiệp hành càng phản ánh mong muốn một Giáo hội gần gũi hơn với mọi người và có tính tương quan nhiều hơn, như một ngôi nhà và gia đình của Thiên Chúa. THĐ này đã đi đến đồng thuận rằng tính đồng hành đồng nghị (hiệp hành) là sự đồng hành của các Kitô hữu cùng với Chúa Kitô và hướng tới Vương quốc của Thiên Chúa, trong gắn kết với toàn thể nhân loại. Nó bao gồm việc qui tụ với nhau ở các cấp độ khác nhau, lắng nghe lẫn nhau, đối thoại, cùng phân định, hình thành sự đồng thuận như một cách diễn tả sự hiện diện của Chúa Kitô sống động trong Thánh Thần, và đạt tới một quyết định trong tinh thần đồng trách nhiệm có phân biệt – vì thế tính hiệp hành là một chiều kích cấu thành Giáo hội. Nói cách tổng hợp, tính hiệp hành là một con đường canh tân tâm linh và cải tổ cơ cấu để làm cho Giáo hội có tính tham gia và có tính sứ mạng nhiều hơn (28).
Đức Trinh Nữ Maria cho thấy những đặc điểm của một Giáo hội hiệp hành: lắng nghe, cầu nguyện, suy niệm, đối thoại, đồng hành, phân định, quyết định và hành động. Chúng ta học được từ nơi Mẹ nghệ thuật lắng nghe, sự chú tâm tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, vâng phục Lời Ngài, khả năng nắm hiểu nhu cầu của người nghèo, lòng can đảm lên đường, tình yêu ân cần giúp đỡ, bài ca ngợi khen và niềm hân hoan trong Thánh Thần. Thánh Phaolô VI khẳng định: “Hành động của Giáo hội trên thế giới này giống như sự mở rộng mối quan tâm của Đức Maria” (MC 28) (29).
Tính hiệp hành chỉ rõ ba khía cạnh đặc thù của đời sống Giáo hội: Thứ nhất, đó là modus vivendi et operandi (phong cách sống và hoạt động) của Giáo hội, qua cộng đoàn qui tụ lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể, qua tình huynh đệ hiệp thông, tính đồng trách nhiệm và sự tham gia của toàn Dân Thiên Chúa với các tác vụ và vai trò khác nhau. Thứ hai, tính hiệp hành xác định những cơ cấu và tiến trình qua đó bản chất hiệp hành của Giáo hội được thể hiện ở bình diện cơ chế. Thứ ba, tính hiệp hành xác định sự diễn ra đúng thời điểm của các sự kiện đồng nghị trong đó Giáo hội được triệu tập bởi cơ quan có thẩm quyền để phân định và quyết định các vấn đề cụ thể nhằm chu toàn sứ mạng (30).
Tính hiệp hành cho thấy bản chất hiệp thông của Giáo hội, diễn tả qua sự đồng hành với nhau và sự tham gia tích cực của mọi thành viên (31). Tính hiệp hành tự nó không phải là mục đích, nhưng nhắm đến sứ mạng mà Chúa Kitô ủy thác cho Giáo hội trong Thánh Thần, vốn là ơn gọi và căn tính thâm sâu của Giáo hội. Tính hiệp hành và sứ mạng có mối nối kết mật thiết với nhau: sứ mạng soi sáng cho tính hiệp hành và tính hiệp hành thúc đẩy sứ mạng (32). Tính hiệp hành cung cấp “cái khung diễn dịch phù hợp nhất để nhận hiểu chính thừa tác vụ có tính phẩm trật – do đó, nó mời gọi toàn thể Giáo hội, gồm cả những người thực thi quyền bính, phải hoán cải và đổi mới (33).
– Hiệp nhất xét như hòa hợp (34-42)
Con người được viên mãn trong các mối tương quan liên vị, trong liên hệ với người khác và với Thiên Chúa. Một Giáo hội hiệp hành là một không gian trong đó các mối tương quan có thể triển nở nhờ tình yêu thương lẫn nhau, đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Những khác biệt giữa người ta sẽ cung ứng cho cuộc gặp gỡ tính khác biệt mới mẻ vốn cần cho sự trưởng thành cá nhân (34). Sự phong phú của các mối tương quan được cảm nghiệm trước hết trong các gia đình, nơi người ta học biết mình có cùng phẩm giá, được dựng nên cho nhau, cần lắng nghe và được lắng nghe, để phân định và cùng quyết định (35).
THĐ nhấn mạnh sự tham gia của Dân Thiên Chúa trong nhiều đặc sủng và tác vụ khác nhau (36), đặc biệt nêu bật các di sản tinh thần khác nhau của các Giáo hội địa phương đóng góp vào sự thống nhất trong đa dạng của Giáo hội, nhờ thừa tác vụ của Đấng kế vị thánh Phêrô (37). Sự thống nhất của những đa dạng trong Giáo hội đạt được nhờ Chúa Kitô, viên đá góc, và nhờ Chúa Thánh Thần là thầy dạy sự hòa hợp… biểu đạt tính Công giáo của Giáo hội (38). Việc canh tân có tính hiệp hành đặc biệt trân trọng các bối cảnh văn hóa khác nhau, mở ra triển vọng trao đổi các ân ban và giúp tránh giản lược cách diễn đạt thông điệp cứu độ thành một cách hiểu duy nhất… (39). Theo đó, Giáo hội có tính hiệp hành cũng luôn hướng tới sự hiệp nhất các Kitô hữu, tức đại kết (40), và hướng tới mọi người chưa lãnh nhận Phép Rửa, mở ra những tương quan với các truyền thống tôn giáo khác (41).
Trong một Giáo hội có tính hiệp hành sống các mối tương quan như thế, mỗi người sẽ nhận ra và thừa nhận góc nhìn bị điều kiện hóa của mình và sẽ từ bỏ việc đòi đặt mình làm trung tâm. Có thể ví như một dàn nhạc rất hài hòa trong những đa dạng (42).
– Linh đạo hiệp hành (43-46)
Tính hiệp hành trước hết là một tâm thế thiêng liêng thấm nhuần vào đời sống hằng ngày của những người đã lãnh Phép Rửa và vào mọi khía cạnh của sứ mạng Giáo hội. Một linh đạo hiệp hành phát sinh từ tác động của Chúa Thánh Thần và đòi hỏi việc lắng nghe Lời Chúa, sự chiêm niệm, thinh lặng và hoán cải tâm hồn. Linh đạo hiệp hành cũng đòi hỏi sự khổ hạnh, khiêm tốn, kiên nhẫn, sẵn sàng tha thứ và đón nhận tha thứ. Hoa trái của linh đạo hiệp hành được nhận ra khi đời sống hằng ngày của Giáo hội in dấu hiệp nhất và hài hòa trong tính đa dạng. Ta cũng cần sự đồng hành và hỗ trợ (đào tạo, linh hướng) trong tư cách cá nhân và cộng đoàn (43). Nếu thiếu chiều sâu linh đạo cá nhân và cộng đoàn, tính hiệp hành sẽ bị giảm trừ thành một sách lược mang tính tổ chức. Nhãn quan hiệp hành, trong khi dựa vào di sản tâm linh phong phú của Truyền thống, sẽ góp phần đổi mới các hình thức của di sản ấy (44).
Đối thoại trong Thánh Thần là một công cụ hữu hiệu cho phép lắng nghe và phân định tiếng Chúa Thánh Thần. Từ ‘đối thoại’ không chỉ việc đối thoại đơn giản, mà đan kết hài hòa tư tưởng và cảm xúc, tạo ra một thế giới sống chung, vì thế sự hoán cải có tầm quyết định trong cuộc đối thoại. Ân sủng sẽ làm cho kinh nghiệm nhân bản này trở nên trọn vẹn (45). THĐ nhìn nhận nhu cầu chữa lành, hòa giải và xây dựng lại sự tin tưởng trong Giáo hội và trong xã hội; bước đi này là một sự dấn thân sứ mạng của Dân Chúa và là một ân huệ từ trời mà ta phải cầu xin (46).
– Tính hiệp hành như lời ngôn sứ cho xã hội (47-48)
Được thực hành với lòng khiêm tốn, phong cách hiệp hành có thể làm cho Giáo hội trở thành một tiếng nói ngôn sứ trong thế giới ngày nay, một thế giới in đậm dấu bất bình đẳng, sự vỡ mộng đối với các mẫu thức quản trị truyền thống, đối với sự vận hành của nền dân chủ, xu hướng độc tài toàn trị, mô hình thị trường gây tổn thương cho con người và công trình tạo dựng, sự giải quyết các xung đột bằng vũ lực thay vì đối thoại… Những thực hành hiệp hành sẽ đóng góp độc đáo vào việc tìm kiếm câu trả lời cho nhiều thách thức mà các xã hội ngày nay đang đối mặt (47).
Cách thức hiệp hành để sống các mối tương quan sẽ là một thách thức đối với sự cô lập cũng như đối với chủ nghĩa cá nhân về văn hóa, thách thức một chủ nghĩa tập thể xã hội quá mức làm người ta bị bóp nghẹt không cho phép họ trở thành chủ thể phát triển chính mình, thách thức sự tập trung quyền lực vứt bỏ người nghèo và vứt bỏ cả trái đất là ngôi nhà chung. Cả tính hiệp hành và mối quan tâm sinh thái đều có tầm nhìn về các mối tương quan, vì thế chúng tương hợp và hội nhập với nhau (48).
VII. PHẦN II: CÙNG NHAU TRÊN THUYỀN: Hoán Cải Các Mối Tương Quan (49-78)
*Ý lực: Ga 21,2-3: Simon Phêrô, Tôma gọi là Điđimô, Nathanael người Cana xứ Galilê, các con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác cũng ở cùng nhau. Simon Phêrô nói với họ: “Tôi đi đánh cá đây.” Họ nói: “Chúng tôi cũng đi với anh”.
“Tôi đi đánh cá đây”. “Chúng tôi cùng đi với anh.” Hành trình THĐ cũng bắt đầu như thế: chúng ta đã nghe lời mời của Đấng kế vị thánh Phêrô và chúng ta đã chấp nhận. Chúng ta đã kinh nghiệm rằng chính các mối tương quan nâng đỡ sức sống của Giáo hội, làm sinh động các cơ cấu của Giáo hội. Một Giáo hội có tính hiệp hành và sứ mạng cần đổi mới cả hai (49).
– Những mối tương quan (được đổi) mới (50-52)
Giáo hội được yêu cầu phải có khả năng nuôi dưỡng các mối tương quan tốt hơn. Tiến trình THĐ ghi nhận nhiều người ngạc nhiên và vui mừng khi được nói lên tiếng nói của mình trong cộng đoàn. Các mối tương quan được đổi mới nhờ ân sủng và lòng hiếu khách dành cho những người hèn mọn nhất, đó là dấu chỉ hùng hồn nhất về hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn các môn đệ. Do đó, để trở thành một Giáo hội hiệp hành, cần thiết phải có một sự hoán cải thực sự trong mối tương quan. Việc chăm sóc các mối tương quan không phải là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mạc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần (50).
Chính dựa vào Chúa Giêsu trong Tin Mừng mà chúng ta phải phác họa bản đồ hoán cải cần thiết cho chúng ta trong các mối tương quan. Chúa Giêsu là Đấng Mêsia đã “làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được” (Mc 7,37). Người yêu cầu chúng ta cư xử theo cách tương tự, và Người ban cho chúng ta khả năng đó, bằng cách khuôn đúc trái tim chúng ta theo Người: chỉ có “trái tim mới có thể làm ra các mối gắn kết đích thực, bởi vì một mối tương quan không được xây dựng với trái tim thì sẽ không có sức vượt qua sự phân mảnh của chủ nghĩa cá nhân” (DN 17) (51). Nhu cầu hoán cải trong các mối tương quan chắc chắn liên quan đến những mối tương quan giữa nam và nữ. Chúng ta làm chứng cho Tin Mừng khi chúng ta cố gắng sống những mối tương quan tôn trọng phẩm giá bình đẳng và hỗ tương giữa nam và nữ (52).
– Trong sự đa dạng của các bối cảnh (53-56)
Việc đổi mới các mối tương quan sẽ diễn ra trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. Trong dòng lịch sử, những sự đóng kín tương quan đã tăng cường và trở thành những cơ cấu tội lỗi thật sự (53). Rất nhiều hình thức sự dữ đang hành hạ trong thế giới chúng ta bắt nguồn từ các cơ cấu tội lỗi ấy (54). Những sự dữ ấy bộc lộ cả trong Giáo hội, nhất là qua các hình thức lạm dụng. Giáo hội phải nhìn nhận những khuyết điểm của mình, khiêm tốn cầu xin sự tha thứ, chăm sóc các nạn nhân, trang bị các công cụ phòng ngừa và cố gắng xây dựng lại niềm tin tưởng lẫn nhau trong Chúa (55). Sứ mạng của Giáo hội bao gồm việc mang lấy gánh nặng của những mối tương quan bị tổn thương, để Chúa sẽ chữa lành cho họ. Các hạt giống của Chúa Thánh Thần gieo vãi nơi mọi nhóm người sẽ sinh hoa trái theo khả năng sống các mối tương quan lành mạnh, vun đắp sự tin tưởng và tha thứ lẫn nhau, tạo ra những cộng đồng thân thiện (56).
– Các đặc sủng, ơn gọi, và tác vụ phục vụ cho sứ mạng (57-67)
Nhiều đặc sủng, nhưng chỉ một Thần Khí (x. 1Cr 12,4-7). Các ơn gọi khác nhau trong Giáo hội diễn tả tiếng gọi duy nhất do Phép Rửa: là tiếng gọi nên thánh và thi hành sứ mạng. Các ơn ban không phải là tài sản độc quyền của bất cứ ai, cũng không là lý do để đòi truy nhận cho mình hay cho nhóm mình, nhưng để đóng góp cho cộng đoàn Kitô hữu và cho xã hội (57). Chúa Thánh Thần tự do trong việc ban tặng các ân huệ, vì thế, trong khi lắng nghe thực tế bối cảnh của mình, dân Thiên Chúa có thể khám phá ra những lĩnh vực dấn thân mới và những cách thức mới để thi hành sứ mạng (58). Sự dấn thân của các Kitô hữu trong các lĩnh vực khác nhau phải được nhìn nhận vì chính bản chất của nó: đó là hành động của Giáo hội dựa theo Tin Mừng, chứ không phải một hành động riêng tư. Trong một Giáo hội có tính hiệp hành và sứ mạng, dưới sự hướng dẫn của các mục tử, các cộng đoàn sẽ có thể sai đi và hỗ trợ những người mình đã sai đi. Các tín hữu đảm nhận sứ mạng cả trong các lãnh vực xã hội, chứ không chỉ tập trung vào các hoạt động nội bộ và các nhu cầu có tính cơ chế của Giáo hội (59).
Có những quan tâm đặc biệt để thúc đẩy vai trò của các thành phần khác nhau trong một Giáo hội có tính hiệp hành và sứ mạng. Các thành phần đáng kể là: phụ nữ (60), trẻ em (61), giới trẻ (62), những người khuyết tật (63), các đôi vợ chồng và những người đơn thân (64), những người trong đời sống thánh hiến (65), và nói chung các giáo dân nam nữ sống tính cách trần thế (x. LG 31). Cần phân định để nhận diện các đặc sủng nào của giáo dân nên mang hình thức thừa tác vụ, theo đó sẽ trang bị các tiêu chí, công cụ và thủ tục phù hợp (66). Các nhà thần học giúp Dân Thiên Chúa phát triển sự hiểu biết về thực tại dưới ánh sáng mặc khải, mở ra những câu trả lời phù hợp và ngôn ngữ thích đáng cho sứ mạng. Sứ vụ của các nhà thần học không chỉ có tính cá nhân, mà còn mang tính cộng đoàn và tập thể (67).
– Các thừa tác vụ chức thánh để phục vụ cho sự hòa hợp (68-74)
Các thừa tác vụ chức thánh liên quan đến các giám mục, linh mục, và phó tế (68).
# Thừa tác vụ của giám mục: Hội nhập các ân ban của Chúa Thánh Thần trong sự hiệp nhất:
Giám mục chủ trì cộng đoàn Giáo hội địa phương, là nguyên lý hữu hình của sự hiệp nhất, và là mối dây hiệp thông với tất cả các Giáo hội. Giám mục không một mình hành xử các quyền và nhiệm vụ của mình, đúng hơn, ngài làm việc với các linh mục và phó tế trong mối liên kết bí tích chung (69). THĐ ước mong Dân Thiên Chúa sẽ có tiếng nói lớn hơn trong việc lựa chọn các giám mục, cũng như ước mong việc tấn phong được xếp đặt về nơi chốn và vị chủ phong sao cho có ý nghĩa (70). Các giám mục cũng cần được đồng hành và được hỗ trợ trong sứ vụ của mình – như các khóa thường huấn… Các tín hữu không nên kỳ vọng quá mức và phi thực tế đối với giám mục; ngược lại, họ có thể nâng đỡ giám mục bằng sự tham gia tích cực của mình trong một Giáo hội thực sự có tính hiệp hành (71).
# Cùng với giám mục: Các linh mục và phó tế
Trong một Giáo hội hiệp hành, các linh mục thi hành sứ vụ trong thái độ gần gũi dân chúng, tiếp đón và cởi mở lắng nghe mọi người. Cùng với linh mục đoàn, cộng tác với giám mục trong việc đồng hành và hướng dẫn Giáo hội địa phương. Khuyến khích việc trao đổi các ân ban giữa các linh mục sở tại và các linh mục đến từ những nơi khác, để phục vụ cho sứ mạng Giáo hội. Các linh mục cũng cần được đồng hành và hỗ trợ, nhất là trong những giai đoạn đầu của sứ vụ, cũng như trong những lúc yếu đuối và mỏng manh (72).
Các phó tế được truyền chức cho sứ vụ phục vụ. Họ cũng thúc đẩy trong toàn Giáo hội một ý thức phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ nhất (73).
# Sự cộng tác giữa các thừa tác viên chức thánh trong một Giáo hội hiệp hành
Thường có những đề cập về những khó khăn mà các mục tử gặp phải trong sứ vụ – như cảm giác cô lập, cô đơn, hay choáng ngợp trước sự kỳ vọng quá mức của mọi người. Câu trả lời có thể là cần khám phá lại tính đồng trách nhiệm trong việc thực thi sứ vụ, và việc phân phối rộng rãi hơn các nhiệm vụ, cũng như cần phân định dũng cảm hơn về những gì thuộc riêng sứ vụ chức thánh và những gì có thể phải được ủy thác cho người khác. Quan điểm này sẽ có hiệu ứng trên các tiến trình đưa ra quyết định, làm cho chúng có tính hiệp hành rõ hơn. Nó cũng giúp vượt qua xu hướng giáo sĩ trị, vốn bộc lộ trước hết trong các hình thức lạm dụng bởi các thừa tác viên của Giáo hội… (74).
– Cùng nhau vì sứ mạng (75-78)
Giáo hội có các thừa tác vụ khác (ngoài các tác vụ chức thánh). Những thừa tác vụ này phục vụ cho sứ mạng một cách ổn định và nhất quán. Một số thừa tác vụ trong đó nhằm phục vụ cộng đoàn Kitô hữu.
Đặc biệt quan trọng là các thừa tác vụ được chính thức thiết lập, sẽ hình thành con người và xác lập cách họ tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội (như Đọc sách, Giúp lễ, Giáo lý viên)… (75). Cũng có những thừa tác vụ không được thiết lập theo nghi thức, nhưng được thi hành một cách ổn định… Ngòai ra, còn có các thừa tác vụ ngoại thường… Cuối cùng, có các việc phục vụ tự phát… Tất cả cho thấy rằng các tín hữu, bằng nhiều cách khác nhau, đều tham gia vào sứ mạng thông qua các ân ban và các đặc sủng của mình (76).
Các tín hữu giáo dân nam nữ cần được tạo cơ hội tham gia nhiều hơn, cũng như cần khám phá các sứ vụ mới nhằm đáp ứng các nhu cầu của thời đại. THĐ nêu một số các nhu cầu cụ thể về việc tham gia rộng rãi hơn của giáo dân vào các tiến trình đưa ra quyết định, các vị trí có trách nhiệm trong giáo phận và các tổ chức Giáo hội, đặc biệt đối với các người thánh hiến… (77). Đáng ghi nhận, tiến trình THĐ có đề cập về khả năng thiết lập một tác vụ ‘Lắng nghe và Đồng hành’, nhưng vấn đề này cần được nghiên cứu sâu hơn (78).
VIII. PHẦN III: THẢ LƯỚI: Hóan Cải Các Tiến Trình (79-108)
* Ý lực: Ga 21,5-6: Đức Giêsu nói với các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không.” Người bảo các ông: “Hãy thả lưới xuống bên phải mạn thuyền, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.
“Hãy thả lưới xuống bên phải mạn thuyền, thì sẽ bắt được cá.” Hành trình Thượng Hội đồng đã tìm cách lắng nghe và đón nhận Tiếng Nói này. THĐ đã nhận ra rằng sự phân định của Giáo hội, sự quan tâm đến các tiến trình đưa ra quyết định, trách nhiệm giải trình và sự đánh giá các quyết định của chúng ta là những thực hành mà qua đó chúng ta đáp lại Lời hướng chỉ cho mình những nẻo đường sứ mạng (79). Ba thực hành ấy đan kết chặt chẽ nhau: Các tiến trình đưa ra quyết định cần sự phân định của Giáo hội, đòi hỏi việc lắng nghe trong một bầu khí tin tưởng được hỗ trợ bởi sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cần sự tin tưởng của cả hai bên: những người ra quyết định và Dân Thiên Chúa. Và rất cần sự đào tạo để tham gia vào các tiến trình đưa ra quyết định dựa trên sự phân định của Giáo hội và phản ánh một văn hóa minh bạch, có trách nhiệm giải trình và có lượng giá. Mọi người đã lãnh Phép Rửa đều cần sự đào tạo này, nhưng những người ở các vai trò hữu trách sẽ cần sự đào tạo này ở dạng thức đặc biệt hơn (80).
– Sự phân định của Giáo hội cho sứ mạng (81-86)
Sự phân định mà Dân Thiên Chúa làm trong định hướng sứ mạng thì có thể gọi là sự phân định của Giáo hội. Sự phân định này dựa trên tất cả các ân ban khôn ngoan mà Chúa ban cho Giáo hội, và dựa trên cảm thức đức tin được ban cho tất cả những người đã lãnh Phép Rửa bởi Thánh Thần. Chính trong Thánh Thần, đời sống của một Giáo hội có tính hiệp hành và sứ mạng phải được hình dung lại và định hướng lại (81). Sự phân định của Giáo hội không phải là một kỹ thuật tổ chức mà là một thực hành thiêng liêng, nó đòi hỏi sự tự do nội tâm, sự khiêm nhường, cầu nguyện, sự tin tưởng lẫn nhau, sự cởi mở với điều mới mẻ và sự qui phục thánh ý Thiên Chúa. Nó không bao giờ chỉ là việc đưa ra quan điểm của cá nhân hay của nhóm, cũng không phải là việc cộng gộp các ý kiến cá nhân khác nhau. Vì việc phân định này đòi hỏi sự đóng góp của mọi người, nên sự phân định của Giáo hội vừa là điều kiện vừa là diễn tả ưu tiên của tính hiệp hành (82).
Việc lắng nghe lời Chúa là khởi điểm và là tiêu chuẩn cho toàn thể việc phân định của Giáo hội. Thiên Chúa nói với chúng ta qua rất nhiều nơi: Lời Chúa trong phụng vụ; Truyền thống; huấn quyền; suy niệm cá nhân và cộng đoàn; các thực hành đạo đức bình dân. Thiên Chúa cũng nói qua người nghèo, qua các biến cố của lịch sử nhân loại, qua lương tâm cá nhân mỗi người… (83). Nói chung, các yếu tố của sự phân định là: nêu rõ và hiểu mục tiêu / dành thời gian lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện, suy tư / có thái độ tự do bên trong / ân cần lắng nghe nhau / tìm kiếm sự đồng thuận rộng rãi nhất / diễn đạt sự đồng thuận sao cho những người tham gia có thể góp tiếng trong đó, dù họ có nhìn nhận mình trong đó hay không. Tiến trình này cũng phải dành thời gian cho sự đón nhận của cộng đoàn, sự xem xét và đánh giá thêm (84). Để việc phân định thực sự mang tính Giáo hội, nó phải dùng các phương tiện thích hợp (Thánh Kinh, Truyền thống, giáo phụ, huấn quyền, thần học) và các khoa học nhân văn, lịch sử, xã hội, quản trị… (85). Cuối cùng, có nhiều cách tiếp cận đa dạng và nhiều phương pháp tốt, nên cần xem xét. Việc đào tạo phân định rất cần thiết, đặc biệt đối với người lãnh đạo và người điều phối (86).
– Cấu trúc của tiến trình đưa ra quyết định (87-94)
Cách để thúc đẩy một Giáo hội hiệp hành là cổ vũ sự tham gia lớn hớn của toàn Dân Thiên Chúa vào các tiến trình đưa ra quyết định (87). Cộng đoàn các môn đệ thừa sai của Chúa đa dạng chứ không đồng nhất, vì thế ‘bản chất cộng đồng’ của sứ mạng dựa vào ba nguyên tắc: Không gì mà không có giám mục; không gì mà không có hội đồng linh mục; không gì mà không có sự đồng thuận của dân chúng! (88). Sự tham gia của mọi người sẽ dựa trên tính đồng trách nhiệm có phân biệt; cần có các sắp xếp thể chế để tạo điều kiện cho tiến trình này (89). Tiến trình đưa ra quyết định cần bao gồm một giai đoạn khảo sát và chuẩn bị, thông qua việc cùng nhau phân định, tham vấn và hợp tác – việc này sẽ thông tin và đặt cơ sở cho việc đưa ra quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Khi đã đạt được quyết định, cần có một quá trình thực hiện và đánh giá (90). Trong một số trường hợp, những người có thẩm quyền phải tiến hành tham vấn trước khi đưa ra quyết định; không được hành động như thể cuộc thỉnh ý chưa hề diễn ra, bởi việc thực thi quyền bính trong Giáo hội không cốt ở sự áp đặt ý chí một cách tùy tiện (91).
Trong một Giáo hội hiệp hành, quyền bính của giám mục, của Tập đoàn Giám mục, và của Giám mục Rôma liên quan đến việc đưa ra quyết định là quyền bất khả xâm phạm… Tuy nhiên, việc thực thi quyền bính như thế không phải là không có giới hạn. Trong Giáo hội, yếu tố thảo luận đạt được với sự trợ giúp của tất cả mọi người, và bao giờ cũng có những người mà việc quản trị mục vụ của họ cho phép họ đưa ra quyết định dựa trên chức vụ của mình – không được đặt hai yếu tố này ở thế đối lập nhau. Công thức ‘biểu quyết chỉ có giá trị tham vấn’ (tantum consultivum) trong Bộ Giáo Luật cần được xem xét lại để loại bỏ khả năng mơ hồ (92).
Việc đưa ra quyết định cần tiến hành có qui trình, và những người liên quan phải đảm nhận trách nhiệm của mình:
a) thẩm quyền liên quan phải: xác định rõ ràng mục đích của các yếu tố tham vấn và thảo luận, cũng như làm rõ ai là người có trách nhiệm cuối cùng đối với việc đưa ra quyết định. Cần nhận diện những người cần được tham vấn, cũng cần bảo đảm rằng mọi người liên hệ đều có quyền tiếp cận các dữ liệu có liên quan;
b) những người được tham vấn có trách nhiệm: cung cấp dữ liệu của mình một cách trung thực, chân thành, với lương tâm sáng suốt và hành động theo lương tâm trong sáng, tôn trọng tính bảo mật của thông tin nhận được, đưa ra những suy nghĩ được trình bày rõ ràng cho thấy những điểm chính của mình;
c) cuối cùng, khi thẩm quyền hợp pháp đã nêu ra quyết định, sau khi tôn trọng quá trình tham vấn và nêu rõ các lý do, tất cả những người đã lãnh Phép Rửa cần phải tôn trọng và thực thi quyết định ấy. Họ nên làm thế ngay cả khi quyết định ấy khác với ý kiến riêng của mình, nhưng họ cũng nên được tự do tham gia một cách trung thực vào giai đoạn đánh giá. Và luôn có khả năng thượng cầu đến thẩm quyền cao hơn theo quy định của luật (93).
Việc thực hiện tiến trình trên cách dứt khoát và chính xác sẽ thúc đẩy sự tham gia của Dân Thiên Chúa. Lưu ý: Nếu không có những thay đổi cụ thể trong ngắn hạn, tầm nhìn về một Giáo hội hiệp hành sẽ không đáng tin cậy, và điều này sẽ làm nản lòng những thành viên của Dân Thiên Chúa đã rút ra sức mạnh và hy vọng từ hành trình THĐ. Các Giáo hội địa phương cần tìm cách thực hiện những thay đổi này (94).
– Tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự đánh giá (95-102)
Việc đưa ra quyết định xong rồi, cần phải được đi kèm và nối tiếp bởi việc thực thi trách nhiệm giải trình và đánh giá trong tinh thần minh bạch lấy cảm hứng theo các tiêu chuẩn của Tin Mừng (x. Cv 11,2-3)… (95).
Minh bạch là ý niệm được kết nối với những từ như: sự thật, sự trung thành, sự rõ ràng, sự trung thực, sự chính trực, sự nhất quán; loại trừ sự mơ hồ, sự giả hình và sự hàm hồ; và không có những động cơ thầm kín. Tin Mừng chúc phúc cho những ai “có lòng trong sạch” và truyền “phải đơn sơ như chim bồ câu”. Chúng ta nói về minh bạch như một thái độ căn bản dựa trên Thánh Kinh, chứ không phải một loạt các yêu cầu có tính thủ tục hay hành chính. Sự minh bạch theo Tin Mừng không hề làm tổn hại đến sự tôn trọng quyền riêng tư và sự cẩn mật, sự bảo vệ con người, phẩm giá và quyền của họ (96).
Việc thực hành tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự đánh giá sẽ giúp củng cố uy tín của Giáo hội, nhất là khi uy tín của Giáo hội cần được xây dựng lại. Chúng đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ trẻ vị thành niên và người lớn dễ bị tổn thương (97). Việc thiếu thực hành này là một trong những hậu quả của xu hướng giáo sĩ trị, do đó càng thúc đẩy xu hướng này. Sự minh bạch và trách nhiệm giải trình không chỉ liên quan đến các hình thức lạm dụng, mà cũng liên quan đến lối sống của các mục tử, đến việc lập kế hoạch mục vụ, các phương pháp loan báo Tin Mừng, và cách Giáo hội tôn trọng phẩm giá con người, ví dụ, liên quan đến các điều kiện làm việc trong các tổ chức của Giáo hội (98).
Việc thực hành trách nhiệm giải trình phải định hình hành động của Giáo hội ở mọi cấp độ, không chỉ giải trình cho cấp trên, mà còn giải trình cho cộng đoàn. Kinh nghiệm giải trình của đời sống thánh hiến có thể giúp làm nguồn cảm hứng về khía cạnh này (99).
Cũng cần phải có các cấu trúc và các phương pháp để thường xuyên đánh giá việc thực thi sứ vụ này. Đây không phải là sự xét đoán trên cá nhân, mà là việc hỗ trợ người làm sứ vụ nhận ra những khía cạnh tích cực và các lãnh vực cần cải thiện (100). Các Giáo hội địa phương và các nhóm ở đó có trách nhiệm phát triển các hình thức và quy trình hữu hiệu cho trách nhiệm giải trình và cho việc đánh giá theo một cách thức hiệp hành. Cách thức thực hiện các quy trình báo cáo và đánh giá ở cấp địa phương nên được đưa vào báo cáo đệ trình trong các chuyến viếng thăm ad limina. (101).
Ít nhất, ở mọi nơi, cần lưu tâm về những điều sau đây:
a) hoạt động hiệu quả của các hội đồng tài chính;
b) sự tham gia hiệu quả của Dân Thiên Chúa, đặc biệt là các thành viên có năng lực hơn, vào việc lập kế hoạch mục vụ và tài chính;
c) chuẩn bị và công bố một báo cáo tài chính hàng năm, theo mức có thể được kiểm toán bên ngoài, thể hiện tính minh bạch về cách quản lý tài sản vật chất và các nguồn tài chính của Giáo hội và các tổ chức của Giáo hội;
d) chuẩn bị và công bố một báo cáo hàng năm về việc thực hiện sứ mạng của Giáo hội địa phương, bao gồm cả các sáng kiến bảo vệ (như việc bảo vệ trẻ vị thành niên và người lớn dễ bị tổn thương), và tiến độ thúc đẩy người giáo dân tiếp cận các vị trí có thẩm quyền và các tiến trình đưa ra quyết định, nêu rõ tỷ lệ nam và nữ;
e) những đánh giá định kỳ tất cả các sứ vụ và vai trò trong Giáo hội. (102).
– Tính hiệp hành và các cơ quan tham gia (103-108)
Các cơ quan tham gia biểu hiện một trong những lĩnh vực triển vọng nhất để hành động nhằm mau mắn triển khai các hướng dẫn của Thượng Hội đồng, mang lại những thay đổi rõ ràng và nhanh chóng (103). Một Giáo hội hiệp hành dựa trên sự tồn tại, sức sống đầy hiệu năng của các cơ quan tham gia này, chứ không phải dựa trên sự tồn tại chỉ theo danh nghĩa của chúng (104). Cần đặc biệt chú ý đến cách lựa chọn thành viên cho các cơ quan này (105). Cần khuyến khích sự tham gia của phụ nữ, giới trẻ, những người sống trong cảnh nghèo đói hoặc ở bên lề (106). Nên lập ra các mạng lưới hội đồng mục vụ trong các cộng đoàn, các giáo xứ, các khu vực mục vụ, và giữa các hội đồng mục vụ giáo phận (107). Công nghị giáo phận nên được đánh giá cao hơn nữa, trong tư cách là cơ quan tham vấn thường xuyên giữa giám mục và phần Dân Chúa được giao phó cho ngài. Công nghị giáo phận có thể cung cấp phạm vi cho việc thực thi trách nhiệm giải trình và đánh giá, theo đó giám mục đưa ra báo cáo về hoạt động mục vụ trong các lĩnh vực khác nhau: việc thực hiện kế hoạch mục vụ của giáo phận, việc tiếp nhận các tiến trình hiệp hành của toàn thể Giáo hội, các sáng kiến trong việc bảo vệ và quản trị tài chính và các tài sản vật chất (108).
IX. PHẦN IV: MỘT MẺ LƯỚI ĐẦY: Hoán Cải Các Mối Dây Gắn Kết (109-139)
* Ý lực: Ga 21,8.11: Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ, kéo theo lưới đầy cá… Ông Simon Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những con cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy, mà lưới không bị rách.
Hình ảnh các môn đệ cùng nhau làm việc, thả lưới theo Lời của Chúa Phục sinh, kéo lưới vào, trong đó Phêrô có một vai trò đặc biệt, đó là hình ảnh Giáo hội hiệp hành đang hoạt động. Giáo hội có chỗ cho mọi người và mọi nền văn hóa, với sự trao đổi các ân ban (109).
– Bám rễ vững chắc nhưng vẫn là những khách hành hương (110-119)
Chiều kích địa phương của Giáo hội địa phương sẽ bảo tồn sự đa dạng phong phú của những cách diễn tả đức tin ở trong một văn hóa và lịch sử cụ thể. Sự hiệp thông của các Giáo hội địa phương là biểu hiện sự hiệp nhất của các tín hữu trong Giáo hội duy nhất. Vì thế, sự hoán cải theo tinh thần hiệp hành kêu gọi mỗi người mở rộng trái tim mình, là nơi đầu tiên âm vang tất cả các mối tương quan của chúng ta (110).
Kinh nghiệm về sự bám rễ có nghĩa là vật lộn với những thay đổi văn hóa xã hội sâu sắc vốn đang biến đổi nhận thức về nơi chốn. Ngày nay, ‘nơi chốn’ gợi lên sự thuộc về một mạng lưới các tương quan và một nền văn hóa mà các gốc rễ vùng miền trở nên linh hoạt hơn trước đây. Hiện tượng đô thị hóa là một tác nhân; ranh giới của nhiều giáo phận và giáo xứ trở nên mờ nhạt đi. Giáo hội được kêu gọi xây dựng lại đời sống cộng đoàn trong bối cảnh này, trong khi không bỏ quên các bối cảnh nông thôn với những vùng ngoại vi hiện sinh thực sự (111). Giáo hội không nên bỏ qua tác động của hiện tượng di cư đối với đời sống của Giáo hội, trong đó có những thách đố đặc trưng cho người di cư, người sở tại (112). Văn hóa kỹ thuật số cũng đem lại những thay đổi sâu sắc trong kinh nghiệm về không gian và thời gian, ảnh hưởng đến các mối tương quan và cả đến đức tin. Ngày nay chúng ta nối kết nhiều nhưng cô đơn càng nhiều. Cần phải dành nguồn lực để bảo đảm rằng môi trường kỹ thuật số trở thành một không gian có tính ngôn sứ cho sứ mạng và việc rao giảng. Internet, trong tư cách một mạng lưới kết nối, mang đến những cơ hội mới để sống tốt hơn các chiều kích hiệp hành của Giáo hội (113).
Những phát triển văn hóa xã hội đòi chúng ta phải xem xét lại ý niệm ‘địa phương’ trong đời sống Giáo hội, và duyệt lại các cấu trúc tổ chức của Giáo hội để phục vụ tốt hơn cho sứ mạng. Thật thiết yếu việc hiểu “nơi chốn” như khung cảnh thực tế và hiện thực trong đó nhân loại được hình thành, mà không phủ nhận rằng cũng có một chiều kích địa lý và văn hóa trong đó (114). Hãy nghĩ về Giáo hội như ‘ngôi nhà’: với khả năng chào đón, hiếu khách, một bí tích của sự gặp gỡ và cứu rỗi, một trường học hiệp thông cho các con cái Thiên Chúa, những người hành hương của hy vọng (115).
Giáo phận (Giáo hội địa phương) là cảnh vực cơ bản trong đó sự hiệp thông trong Chúa Kitô của những người đã chịu Phép Rửa được thể hiện đầy đủ nhất – với hình ảnh cử hành Thánh Thể do Giám mục chủ trì. Mỗi Giáo hội địa phương có tổ chức nội bộ riêng, đồng thời duy trì mối tương quan với các Giáo hội địa phương khác (116).
Trong Giáo hội địa phương, giáo xứ là một trong những nơi chính. Chúng ta phải xem xét lại cách thức định hình giáo xứ. Đặc trưng của giáo xứ là một cộng đoàn không tự lựa chọn, những khác biệt và nhu cầu mới của sứ mạng đòi phải mở ra các hình thức mục vụ mới, nhắm đặc biệt việc khai tâm Kitô giáo cũng như việc đồng hành và đào tạo. Giáo xứ không qui hướng về chính mình mà hướng đến sứ mạng. Ở nhiều nơi, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ hay Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản đang đem lại kinh nghiệm tính hiệp hành một cách cụ thể (117). Các tổ chức tu trì, các phong trào và các cộng đoàn mới có khả năng bén rễ tại địa phương cũng như kết nối các môi trường khác nhau thường ở cấp quốc gia hay quốc tế. Các hội dòng và hiệp hội được kêu gọi hành động hiệp lực với Giáo hội địa phương, tham gia vào sự năng động của tính hiệp hành (118). Các không gian ‘trung gian’ giữa Giáo hội địa phương và Giáo hội hoàn vũ – như Giáo tỉnh và các nhóm Giáo hội quốc gia và lục địa – có thể thúc đẩy một sự hiện diện có ý nghĩa hơn của Giáo hội trong thế giới ngày nay (119).
– Sự trao đổi các ân ban (120-123)
Việc trao đổi các ân ban liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội, vì Dân Thiên Chúa qui tụ từ mọi dân tộc trên trái đất, trong sự hiệp thông của các Giáo hội địa phương. “Như những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4,10) – lời này chắc chắn có thể áp dụng cho mỗi Giáo hội địa phương (120).
Giáo hội mong muốn trở thành một mạng lưới tương quan truyền bá và thúc đẩy một văn hóa gặp gỡ, công bằng xã hội, sự bao gồm những người bị gạt ra lề, sự hiệp thông giữa các dân tộc và sự chăm sóc trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta. Việc này đòi hỏi mỗi Giáo hội phải chia sẻ các nguồn lực của mình trong tính thần liên đới (121). Việc trao đổi các ân ban có ý nghĩa quan trọng trong hành trình hướng tới sự hiệp nhất đại kết, điều này thúc đẩy cả uy tín và tác động của sứ mạng Kitô giáo (122). Giáo hội hiệp hành cam kết bước đi trên con đường đối thoại cùng với các tín đồ của các tôn giáo khác và những người có những niềm tin khác dù ở bất cứ nơi đâu. Giáo hội tự do chia sẻ niềm vui Phúc Âm và đón nhận với lòng biết ơn những ân ban của họ (123).
– Các mối dây hiệp nhất: Các Hội đồng Giám mục và các Hội nghị Giáo hội (124-129)
Hiệp thông qua việc chia sẻ các ân ban, các Giáo hội địa phương trong phong cách hiệp hành có thể bước đi với những nhịp độ khác nhau, những khác biệt về nhịp độ có thể được xem như sự diễn tả của tính đa dạng hợp pháp và là cơ hội để chia sẻ các ân ban và làm phong phú lẫn nhau (124). Các mối dây hiệp nhất đáng đề cập với những triển vọng thúc đẩy tính hiệp hành là: các Hội đồng Giám mục quốc gia (125), các Hội nghị Giáo hội ở khu vực, quốc gia, lục địa, và các Công đồng địa phương (126-129).
– Việc phục vụ của Giám mục Rôma (130-139)
Tiến trình Thượng Hội đồng cũng đã xem xét lại vấn đề về cách thức Giám mục Rôma thi hành sứ vụ của mình. Tính hiệp hành cho phép các khía cạnh tập thể (“tất cả”), tập đoàn (“một số”), và cá nhân (“một”) của các Giáo hội địa phương và của toàn thể Giáo hội, liên kết và thống nhất chúng với nhau (130).
Có những Giáo hội địa phương hợp pháp được hưởng các truyền thống riêng của mình, trong khi quyền tối thượng của ngai tòa Phêrô vẫn nguyên vẹn. Giám mục Rôma là người triệu tập Giáo hội trong tính hiệp hành, chủ trì nó, xác nhận các kết quả của nó. Cùng với Giám mục Rôma, tập đoàn các Giám mục có một vai trò không thể thay thế trong việc chăm sóc toàn thể Giáo hội (131). Là người giữ gìn sự hiệp nhất trong đa dạng, Giám mục Rôma bảo đảm rằng bản sắc của các Giáo hội Công giáo Đông phương được bảo vệ, và các truyền thống thần học, giáo luật, phụng vụ, linh đạo và mục vụ lâu đời của các Giáo hội ấy được tôn trọng (132). THĐ này đề xuất thành lập một Hội đồng các Thượng phụ, các Tổng giám mục chính và các Tổng giám mục Giáo đô của các Giáo hội Công giáo Đông phương do Đức Giáo hoàng chủ trì, khuyến khích sự đối thoại chân thành giữa các Giám mục La tinh và Đông phương (133).
Một suy tư có tính hiệp hành về việc thực thi sứ vụ Phêrô phải được thực hiện từ nhãn giới về “sự tản quyền lành mạnh” (134). Tông hiến Praedicate Evangelium đã định hình việc phục vụ của Giáo triều Rôma theo một ý nghĩa hiệp hành và sứ mạng, nhấn mạnh rằng việc phục vụ ấy không được đặt ở giữa Đức Giáo hoàng và các giám mục, nhưng phục vụ cả hai. Các hình thức đánh giá công việc của Giáo triều cũng phải được hình dung, mở rộng tới các Đại diện Giáo hoàng. Trong nhãn giới hiệp hành, cần xem xét lại cách thức thực hiện các chuyến viếng thăm ad limina Apostlorum, cũng như mối dây hiệp thông giữa các thành viên Hồng y đoàn (135).
THĐGM được thấy là một trong những nơi rõ ràng nhất trong đó tính hiệp hành và tính tập đoàn phải được thực hành. Toàn thể Dân thánh của Thiên Chúa, các giám mục được giao phó một phần Dân Chúa, và Giám mục Rôma sẽ tham gia đầy đủ vào tiến trình THĐGM, mỗi người theo chức năng riêng của mình. Sự tham gia đa dạng tại THĐ 16 được Đức Phanxicô giải thích rằng đây “không chỉ là một sự kiện bất ngờ ngẫu nhiên. Nó diễn tả một cách thực thi thừa tác vụ giám mục nhất quán với Truyền thống sống động của các Giáo hội và với giáo huấn của Công đồng Vatican II”. THĐGM vẫn giữ bản chất giám mục của mình, trong sự tham gia của các thành viên khác của Dân Thiên Chúa. Trong việc đào sâu căn tính của THĐGM, thật thiết yếu là mối tương quan giữa sự tham gia của tất cả mọi người (Dân thánh của Thiên Chúa), tác vụ của một số người (tập đoàn giám mục), và vai trò chủ tọa của một người (người kế vị Thánh Phêrô) hiện lộ và được hiện thực cụ thể trong suốt tiến trình THĐGM và trong các hội nghị chung (136).
Một trong những hoa trái ý nghĩa nhất của THĐGM 16 là nhiệt tâm đại kết cao độ. Đại kết luôn chiếm chỗ ưu tiên trong việc thực thi sứ vụ hiệp nhất của Giám mục Rôma (137). Đối thoại đại kết là nền tảng cho việc phát triển và nhận hiểu tính hiệp hành và sự hiệp nhất của Giáo hội (138). Cần hướng đến triển vọng cử hành ngày Lễ Phục sinh chung (139).
X. PHẦN V: THẦY CŨNG SAI ANH EM – Đào Tạo Một Dân Môn Đệ Thừa Sai (140-151)
* Ý lực: Ga 20,21-22: Chúa Giêsu lại nói với các ông: “Bình an cho anh em. Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.”
Buổi chiều Phục sinh, Chúa Giêsu ban bình an của Người cho các môn đệ và đưa họ vào chia sẻ sứ mạng của Người. Các môn đệ thừa sai được sinh ra (140).
Dân Thánh của Thiên Chúa cần được đào tạo đúng đắn để họ có thể làm chứng cho niềm vui của Tin Mừng và lớn lên trong việc thực hành tính hiệp hành, hệ tại ở một nhận thức sâu sắc về ơn gọi và sứ mạng, nguồn của một cách thức mới mẻ để sống các tương quan Giáo hội, và động lực mới liên quan đến sự tham gia (141).
Việc đào tạo các môn đệ thừa sai bắt đầu bằng – và cắm rễ trong – cuộc Khai tâm Kitô giáo, trong đó có sự gặp gỡ với nhiều người, nhiều nhóm và cộng đoàn nhỏ. Đôi khi, thật không may, khi hành trình Khai tâm kết thúc, mối liên kết với cộng đoàn trở nên suy yếu và việc đào tạo bị bỏ bê. Cần ý thức rằng việc trở thành các môn đệ thừa sai của Chúa không phải là điều đạt được một lần và mãi mãi, đúng hơn, nó đòi hỏi sự hoán cải liên tục. Thật quan trọng việc khám phá lại cách mà Thánh lễ Chúa nhật có sức đào tạo các Kitô hữu, theo đó cần bảo đảm rằng Thánh lễ được cử hành theo cách tốt nhất, đặc biệt chú ý đến bài giảng và sự tham gia tích cực của mọi người, điều quyết định đối với tính hiệp hành. Dưới sự chủ trì của một người, và nhờ vào tác vụ của một số người, tất cả mọi người đều có thể tham gia vào bàn ăn hai chiều kích là Lời và Bánh. Ân ban hiệp thông, sứ mạng, tham gia được hiện thực và đổi mới trong mỗi Thánh Lễ (142).
Việc đào tạo do cộng đoàn Kitô giáo cung ứng phải toàn diện và liên tục, không chỉ nhắm kiến thức lý thuyết, mà còn thúc đẩy khả năng cởi mở và gặp gỡ, chia sẻ và hợp tác, suy tư và phân định chung. Cần có một sự đào tạo chung và được chia sẻ bởi mọi thành phần Dân Chúa, điều này đòi phải có sự hiện diện của những nhà giáo dục phù hợp và có năng lực, với chứng tá cuộc sống về những gì mình truyền đạt qua lời nói của mình (143). Giáo hội vốn có nhiều nơi chốn và nhiều nguồn lực để đào tạo các môn đệ thừa sai… Trong Giáo hội, không ai chỉ đơn thuần nhận sự đào tạo, mọi người đều có điều gì đó để đóng góp trong tư cách là tác nhân đào tạo (144).
Cần đặc biệt chú ý đến việc dạy giáo lý, để ngoài chức năng là một phần của hành trình khai tâm, việc dạy giáo lý còn tiếp tục thúc đẩy mọi người đi ra trong sứ mạng. Các giáo lý viên là nguồn lực cơ bản để đồng hành và đào tạo, việc phục vụ của họ phải được cộng đoàn trân trọng và nâng đỡ nhiều hơn, nên tránh cái lôgic phó mặc, vốn mâu thuẫn với tính hiệp hành (145). Trường học các cấp và các cơ sở đào tạo mọi lãnh vực mang tinh thần Công giáo đang ngày càng thấy mình ở tuyến đầu của một Giáo hội luôn đi ra trong sứ mạng, nhất là khi các trường ấy là nơi duy nhất mà trẻ em và thanh thiếu niên tiếp xúc với Giáo hội (146).
Việc đào tạo chuyên biệt cần thiết cho các thừa tác vụ và các ơn gọi riêng. Để được vậy, nó phải được triển khai như một sự trao đổi các ân ban giữa các ơn gọi khác nhau (hiệp thông), theo quan điểm một việc phục vụ được thực thi (sứ mạng) và theo một phong cách tham gia và giáo dục trong tính đồng trách nhiệm có phân biệt (tham gia). Chiều kích đại kết của đào tạo chắc chắn sẽ hỗ trợ cho sự thay đổi nhận thức về đào tạo phù hợp với phong cách hiệp hành (147).
Việc phân định và đào tạo các ứng viên cho tác vụ chức thánh phải được tiến hành theo phong cách hiệp hành. Cần có sự hiện diện đáng kể của phụ nữ, sự hòa nhập vào cuộc sống hàng ngày của các cộng đồng, và đào tạo để có thể hợp tác với mọi người trong Giáo hội và về cách thực hành phân định. THĐ này kêu gọi duyệt lại Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis để hội nhập vào đó các yêu cầu được đề ra. Cũng cần thiết việc đào tạo giám mục. Và cách thức đào tạo theo tính hiệp hành luôn giả thiết tính đại kết (148).
Môi trường kỹ thuật số là một lĩnh vực đáng chú ý trong việc đào tạo Dân Thiên Chúa trong tính hiệp hành. Văn hóa kỹ thuật số làm nên một chiều kích quan trọng trong chứng tá của Giáo hội trong nền văn hóa ngày nay và là một lĩnh vực sứ mạng đang hiện lộ. Điều này đòi hỏi phải bảo đảm rằng sứ điệp Kitô giáo hiện diện trực tuyến theo những cách đáng tin cậy. Các tổ chức giáo dục của Giáo hội phải giúp trẻ em và người lớn phát triển các kỹ năng quan trọng để lướt web một cách an toàn (149).
Cần thúc đẩy trong mọi bối cảnh Giáo hội một nền văn hóa bảo vệ, làm cho các cộng đồng thành những nơi an toàn hơn bao giờ cho các trẻ vị thành niên và những người lớn dễ bị tổn thương. Các quy trình bảo vệ phải được thường xuyên giám sát và đánh giá. Các nạn nhân và những người sống sót phải được tiếp đón và hỗ trợ một cách đầy nhạy cảm (150).
Các chủ đề trong học thuyết xã hội của Giáo hội, chẳng hạn như sự dấn thân cho hòa bình và công lý, chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta, và đối thoại liên văn hóa và liên tôn, cũng phải được chia sẻ rộng rãi hơn trong Dân Chúa… (151).
KẾT LUẬN: MỘT BỮA TIỆC CHO MỌI DÂN TỘC
* Ý lực: Ga 21,9.12-13: Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, có cả bánh nữa. […] Đức Giêsu nói: “Anh em đến mà ăn”. Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông, rồi cá, Người cũng làm như vậy.
Trên bờ Biển Hồ, chính Chúa Phục sinh chuẩn bị bữa tiệc và mời các môn đồ dùng bữa với Người – thật kỳ diệu và phấn khích. Chúa mời họ một lần nữa đi vào hiệp thông với Người, ghi khắc trên họ dấu chỉ của lòng thương xót vĩnh cửu của Người, mở ra tương lai (152). Bữa tiệc nói trên hoàn thành hình ảnh bữa tiệc thịnh soạn và bổ béo do Chúa chuẩn bị trên đỉnh núi, biểu tượng của niềm vui và hiệp thông dành cho tất cả mọi người, như được mô tả trong Isaia 25,6-8. Được nuôi dưỡng trong bữa tiệc Thánh Thể, Giáo hội không quên những người nghèo nhất và bị loại trừ… Tính hiệp hành của Giáo hội, vì thế, trở thành một tiếng nói ngôn sứ về xã hội, thôi thúc những nẻo đường mới trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế, cũng như hợp tác với tất cả những ai tin vào tình huynh đệ và hòa bình trong sự trao đổi ân ban với thế giới (153).
Quá trình THĐ đã giúp chúng ta ý thức rằng ơn cứu độ được đón nhận và được công bố vốn có tính tương quan. Chúng ta cùng nhau sống và làm chứng cho ơn cứu độ đó. Chúa Thánh Thần đã đặt niềm khát vọng về những mối tương quan chân thực và những dây liên kết thực sự vào trong trái tim của mỗi con người. Bằng cách lên đường gặp gỡ mọi người để mang lại niềm vui của Tin Mừng, chúng ta có thể sống sự hiệp thông có sức cứu rỗi ấy: với Thiên Chúa, với toàn thể nhân loại và toàn thể thụ tạo. Chính khi đó, chúng ta sẽ bắt đầu kinh nghiệm – bằng cách chia sẻ – bữa tiệc sự sống mà Thiên Chúa ban cho mọi dân tộc (154).
Xin Mẹ Chỉ Bảo Đàng Lành (Odigitria) dạy chúng ta biết trở thành một dân tộc của các môn đệ và các thừa sai cùng nhau bước đi, trở thành một Giáo hội hiệp hành (155).
***************
Phụ lục:
CÂU HỎI GỢI Ý ỨNG DỤNG VĂN KIỆN CHUNG KẾT
THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VỀ HIỆP HÀNH CHO CÁC HỘI DÒNG
1. Đồng hành đồng nghị (hay hiệp hành) là ‘phong cách sống và hoạt động’ của Giáo hội. Theo bạn, những biểu hiện nào đi ngược lại phong cách này trong thực tế?
2. Nghĩ về sự hiện diện và hoạt động của Hội Dòng trong (các) Giáo hội địa phương (giáo phận, giáo xứ…), bạn nhận thấy đâu là những kinh nghiệm tích cực về tính hiệp hành? Và đâu là những kinh nghiệm tiêu cực, tức những gì cần được điều chỉnh theo hướng có tính hiệp hành hơn?
3. Nghĩ về các mối tương quan trong nội bộ Hội Dòng, bạn nhận thấy đâu là những kinh nghiệm tích cực về tính hiệp hành? Và đâu là những kinh nghiệm tiêu cực, tức những gì cần được điều chỉnh theo hướng có tính hiệp hành hơn?
4. Dân Thiên Chúa không đơn giản chỉ là tổng số các tín hữu (x. VKCK 17); cũng vậy, một Hội Dòng hay một Cộng Đoàn không đơn giản chỉ là tổng số các thành viên. Theo bạn, điều này có nghĩa gì?
5. Tính hiệp hành (hay đồng hành đồng nghị) được diễn tả nơi sự tham gia của mọi thành phần, sự tham gia ấy dựa trên nền tảng hiệp thông và luôn được định hướng sứ mạng. Bạn hãy nêu ví dụ về những sự tham gia mà không đặt nền trên hiệp thông và không nhắm đến sứ mạng! (x. VKCK 20).
6. Nguyên tắc của tính hiệp hành (hay đồng hành đồng nghị) là cảm thức đức tin (sensus fidei) của mọi tín hữu do Phép Rửa của họ. Điều này gợi ý gì cho các tiến trình đưa ra quyết định trong Hội Dòng hay trong các Cộng Đoàn của Hội Dòng? (x. VKCK 22-23).
7. Sự hiệp nhất trong Giáo hội là ‘hiệp nhất xét như hòa hợp’, nghĩa là khác với đồng nhất; sự hiệp nhất trong Hội Dòng cũng vậy. Việc vun xới sự ‘hiệp nhất xét như hòa hợp’ trong Hội Dòng hiện nay đang đứng trước những thách đố và những triển vọng nào? (x. VKCK 34-42).
8. Tính hiệp hành là một linh đạo, tức một ‘tâm thế thiêng liêng’, chứ không phải là một giải pháp kỹ thuật. Bằng cách nào chúng ta củng cố linh đạo hiệp hành trong Hội Dòng của chúng ta? (x. VKCK 43-46).
9. Văn kiện Chung kết Thượng Hội Đồng về Hiệp Hành đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong phong cách hiệp hành của Giáo hội. Chúng ta cần lưu ý những gì trong các chương trình đào tạo của mình, một hội dòng nữ, để đáp ứng các kỳ vọng của Thượng Hội Đồng? (x. VKCK 60).
10. Trong thực hành, tính đồng hành đồng nghị (hiệp hành) được đặc trưng bởi việc cùng nhau lắng nghe và phân định; quan tâm đến các tiến trình đưa ra quyết định; thể hiện tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự đánh giá. Đâu là những triển vọng và những thách đố đối với Hội Dòng chúng ta liên quan tới những khía cạnh thực hành này? (x. VKCK 79-100).
11. Chúng ta có thể làm gì để thúc đẩy việc trao đổi các ân ban trong Hội Dòng của mình, với các Hội Dòng và các Cộng đoàn khác, với Giáo hội địa phương, và với Giáo hội phổ quát? (x. VKCK 120-123).
12. Bạn hãy đưa ra một góp ý cụ thể – một điều mà bạn tin là rất quan trọng – cho Hội Dòng hiện nay. Tương tự, bạn hãy nêu một góp ý cho Giáo hội địa phương, và cho Giáo hội hoàn vũ!
Lm. Lê Công Đức biên soạn, toát lược
Tags: Phanxicô-I, synode
Trackback from your site.
Bài viết cùng chủ đề
- CẦU NGUYỆN BẰNG KINH MÂN CÔI VỚI THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
- TÌM HIỂU VĂN KIỆN CHUNG KẾT THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC XVI
- KINH TIN KÍNH CỦA CÔNG ĐỒNG NIXÊ, THẺ CĂN CƯỚC CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU
- VĂN KIỆN CHUNG KẾT THĐGM 16 (Bản hiệu đính, 21.3.2025)
- BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN: HUẤN THỊ VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA “THẦN HỌC GIẢI PHÓNG”
- DIỄN VĂN CỦA ĐỨC PHANXICÔ CHO CÁC THÀNH VIÊN CỦA ĐOÀN NGOẠI GIAO TẠI TÒA THÁNH NHÂN DỊP CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2025 : NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT NỀN NGOẠI GIAO HY VỌNG
- SỰ THÀNH THAI VÔ NHIỄM CỦA ĐỨC MARIA
- TẠI SAO ĐỨC PHANXICÔ KÊU GỌI QUAY TRỞ LẠI VỚI LỊCH SỬ TRONG VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC ?
- GHI CHÚ CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ VỀ TÀI LIỆU CHUNG KẾT THĐ
- TÀI LIỆU CHUNG KẾT THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC LẦN THỨ XVI
- THÔNG ĐIỆP DILEXIT NOS – Bản dịch Việt ngữ
- BÀI GIÁO LÝ VỀ CHÚA THÁNH THẦN VÀ HIỀN THÊ. CHÚA THÁNH THẦN HƯỚNG DẪN DÂN THIÊN CHÚA ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU LÀ NIỀM HY VỌNG CỦA CHÚNG TA – BÀI 5. « BỞI QUYỀN NĂNG CHÚA THÁNH THẦN, NGƯỜI ĐÃ NHẬP THỂ TRONG LÒNG ĐỨC TRINH NỮ MARIA ». LÀM THẾ NÀO CƯU MANG VÀ SINH HẠ CHÚA GIÊSU ?
- THƯ CỦA ĐỨC PHANXICÔ VỀ VAI TRÒ CỦA VĂN CHƯƠNG TRONG ĐÀO TẠO
- TÒA THÁNH NÓI VỀ THẾ VẬN HỘI OLYMPIC 2024: MỘT SỐ CẢNH XÚC PHẠM CÁC TÍN HỮU
- ĐỨC PHAOLÔ VI, ĐỐI THOẠI NHƯ PHƯƠNG THUỐC CHO SỰ ỒN ÀO CỦA MẠNG XÃ HỘI
- GIỚI THIỆU VẮN TẮT TÀI LIỆU LÀM VIỆC SYNOD 16
- KHÓA TẬP HUẤN DỊCH THUẬT VĂN BẢN MỤC VỤ
- DẪN VÀO SỨ MẠNG HỌC
- CÁC CHUẨN MỰC THỦ TỤC ĐỂ PHÂN ĐỊNH CÁC HIỆN TƯỢNG ĐƯỢC CHO LÀ SIÊU NHIÊN : BÀI GIỚI THIỆU CỦA ĐHY FERNANDEZ
- NHỮNG CHUẨN MỰC MỚI VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG ĐƯỢC CHO LÀ SIÊU NHIÊN