Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Hội Linh Mục Xuân Bích: Khoa Sư Phạm Về Tự Do Thiêng Liêng

HỘI LINH MỤC XUÂN BÍCH

Tỉnh Pháp

Văn Phòng Học Tập và Nghiên Cứu

 

 

KHOA SƯ PHẠM VỀ TỰ DO THIÊNG LIÊNG

Hội Xuân Bích: một truyền thống thiêng liêng và sư phạm

phục vụ việc đào tạo linh mục ngày nay

 

 

2021

-----------------------------------------------

MỤC LỤC

Dẫn nhập

I- Kết hiệp với Chúa Kitô là nền tảng của toàn bộ quá trình đào tạo cũng như của toàn bộ đời sống linh mục

II- Cộng đoàn giáo dục là nơi chốn và phương tiện chính của quá trình đào tạo

1. Một chút lịch sử 

2. Các mối tương quan trong chủng viện

3. Cộng đoàn giáo dục mở rộng

III- Đào tạo đời sống thiêng liêng cá nhân, đặc biệt qua việc linh hướng

IV- Thực thi trách nhiệm hợp đoàn

1. Nguyên tắc

2. Thực hành

3. Bề trên

4. Hội đồng

5. Tương quan với các Giám mục

6. Sự tham gia của chủng sinh

7. Thực tập mục vụ

8. Đại diện giáo phận

9. Giáo sư ngoại trú

10. Kết luận

V- Tự do thiêng liêng được hiểu là ước muốn thực thi thánh ý của Thiên Chúa

1. Nền tảng Thánh Kinh

2. Những hệ quả đối với việc đào tạo linh mục ; một số xác tín

a) Sự tự do hoàn toàn và trọn vẹn

b) Sự tự do được thủ đắc dần dần, trong suốt cuộc đời

c) Một tiến trình gắn bó với Chúa Kitô và từ bỏ chính mình

d) Trong sự tin tưởng và trách nhiệm

 

 

DẪN NHẬP

Hiến pháp Hội Linh Mục Xuân Bích liệt kê, trong chương về « Các Sứ vụ của Hội », những điểm thiết yếu trong việc thực hành sư phạm Xuân Bích liên quan đến vấn đề đào tạo. Chúng tôi trích dẫn toàn bộ số 14 tạo thành cốt lõi của nó:

« Đối với việc đào tạo linh mục, điều quan trọng là phải tôn trọng những đặc điểm thiết yếu của việc thực hành sư phạm của Hội. Chúng ta có thể quy chúng về những điểm cơ bản sau:

1. Thực thi trách nhiệm hợp đoàn, trước hết áp dụng cho đội ngũ đào tạo, nhưng cũng đòi hỏi sự cộng tác của các ứng viên thừa tác vụ, của hàng linh mục giáo phận và các thành viên khác của cộng đồng Kitô hữu.

2. Một đời sống cộng đoàn đích thực giữa các nhà đào tạo và các ứng viên, để tạo thành một « cộng đoàn giáo dục », vốn chuẩn bị cho việc đồng trách nhiệm và cho phép những cuộc đối chất cần thiết và sự phân định ơn gọi tốt hơn.

3. Khai tâm dần dần vào đời sống thiêng liêng cá nhân, đặc biệt được thực hiện nhờ việc linh hướng liên tục.

4. Quan tâm nhiều đến sự tự do thiêng liêng của các ứng viên, được thúc đẩy bởi sự phân biệt rõ ràng giữa trách nhiệm của Hội đồng và trách nhiệm của Cha linh hướng, đồng thời bởi các quy tắc của Hội Xuân Bích xác định các mối tương quan của họ (x. các điều 135, 136, 137).

5. Liên lỉ tìm kiếm sự kết hiệp với Chúa Kitô, nơi Người các linh mục tìm thấy sự thống nhất trong đời sống mình (x. Presbyterorum ordinis, 14); chính trong sự kết hiệp đó chúng ta sẽ cố gắng thống nhất các chiều kích khác nhau (nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ) trong việc đào tạo họ. »

Hiến pháp của Hội Linh Mục Xuân Bích được Tòa Thánh phê chuẩn vào ngày 25 tháng 12 năm 1981, như vậy đã gần bốn mươi năm. Kể từ đó, các Rationes mới về đào tạo linh mục, ở cấp quốc gia và hoàn vũ, đã ra đời. Bối cảnh đào tạo thừa tác vụ linh mục cũng đã tiến triển đáng kể. Trong bối cảnh mới này, có vẻ thích hợp để bình giải về những điểm cơ bản này, cho thấy sự thích đáng của chúng đối với ngày nay, đặt chúng vào viễn cảnh trong mối tương quan với nhau và đặt chúng trong mối tương quan với các văn kiện chính thức.

Vào năm 2012, một tập sách nhỏ từng được Văn phòng Học tập và Nghiên cứu của Tỉnh Hội xuất bản, dưới trách nhiệm của Hội đồng Tỉnh. Tài liệu này đã khai triển thành bốn điểm (thực thi trách nhiệm hợp đoàn, cộng đoàn giáo dục, linh hướng và sự thống nhất trong đào tạo) những điểm cốt yếu của khoa sư phạm Xuân Bích, với phần dẫn nhập cho thấy tính thời sự của nó.

Khi đọc lại, những điểm này (bản thân chúng lấy lại những điểm đã xuất bản trước đó) vẫn giữ được tất cả ích lợi của chúng. Tuy nhiên, chúng tôi đưa ra một số nhận xét có thể biện minh cho cách trình bày khác:

a) Đối tượng chính thức của các điểm này không hoàn toàn trùng khớp với tuyên bố về năm điểm cơ bản của khoa sư phạm Xuân Bích, mà xem ra điều quan trọng là phải nêu bật hơn nữa.

b) Trên bình diện thần học, ngày nay dường như cần phải nhấn mạnh nhiều hơn đến Bí tích Rửa tội, đặc biệt hơn nữa vì đây là điểm quan trọng trong học thuyết của Trường phái Linh đạo Pháp mà Hội Linh Mục Xuân Bích rõ ràng nằm trong đó.

c) Các Rationes mới nhất nhấn mạnh nhiều đến tầm quan trọng của chiều kích nhân bản trong quá trình đào tạo, một chiều kích mà các điểm năm 2012 không có cơ hội nêu bật đầy đủ.

d) Cuối cùng, tận dụng những nghiên cứu mới nhất về lịch sử của Hội Linh Mục Xuân Bích, việc thiết lập hoàn cảnh lịch sử của những điểm cơ bản này trong khoa sư phạm Xuân Bích dường như là cần thiết.

Do đó, trong những trang tiếp theo, chúng tôi đề xuất thực hiện việc giải thích « cho ngày nay » về những điểm thiết yếu của khoa sư phạm Xuân Bích như chúng đã được trình bày trong Hiến pháp. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ thực hiện điều này bằng cách sửa đổi một chút dàn bài trình bày chúng. Trước tiên, đối với chúng tôi, dường như điểm cuối cùng về sự kết hiệp với Chúa Kitô, như là nơi mà các linh mục tìm thấy sự thống nhất trong đời sống của họ, trên thực tế lại là tiêu điểm mà mọi nỗ lực của các nhà đào tạo phải quy tụ về đó. Đây là lý do tại sao chúng tôi sẽ đảo ngược trật tự được ghi trong Hiến pháp và chúng tôi sẽ bàn về điểm này trước tiên. Tiếp đến, đối với chúng tôi, thật lôgic khi nói về môi trường nơi việc đào tạo diễn ra, nghĩa là: điều mà ngày nay đã được đồng thuận gọi là cộng đoàn giáo dục, các nhà đào tạo, các chủng sinh, mà giờ đây cần phải liên kết với các giáo phận. Và vì môi trường đào tạo này mang trong mình tất cả các phương tiện đào tạo cộng đoàn và cá nhân, nên chúng tôi đã xác định một phương tiện thiết yếu khác trong hệ thống Xuân Bích tiếp ngay sau: phương tiện khai tâm vào đời sống thiêng liêng cá nhân, đặc biệt nhờ việc linh hướng. Sau khi xem xét những điểm khác nhau này, chúng tôi có thể chuyển sang điểm về trách nhiệm, mà một trong những đặc điểm của nó là được thực thi một cách hợp đoàn. Vì thế, sẽ là lúc kết thúc bằng cách đề cập vấn đề tự do thiêng liêng, được coi là một trong những mục tiêu thiết yếu của việc đào tạo và được xây dựng, giữa những mục tiêu khác, thông qua sự vận hành tế nhị của các mối tương quan giữa tòa trong và tòa ngoài.

Vì vậy chúng tôi đề xuất dàn bài sau:

1. Kết hiệp với Chúa Kitô là nền tảng của mọi việc đào tạo cũng như của mọi đời sống linh mục. 2. Cộng đoàn giáo dục là nơi chốn và phương tiện chính của việc đào tạo. 3. Đào tạo đời sống thiêng liêng cá nhân đặc biệt qua việc linh hướng. 4. Việc thực thi trách nhiệm hợp đoàn. 5. Tự do thiêng liêng được hiểu như là ước muốn thực thi thánh ý của Thiên Chúa.

I

KẾT HIỆP VỚI CHÚA KITÔ LÀ NỀN TẢNG CỦA TOÀN BỘ QUÁ TRÌNH  ĐÀO TẠO CŨNG NHƯ CỦA TOÀN BỘ ĐỜI SỐNG LINH MỤC

Các linh mục trước hết là những người đã được rửa tội. Qua việc truyền chức mà họ đã lãnh nhận, họ được đặt để phục vụ những người đã được rửa tội khác để giúp những người này sống đời sống Kitô hữu tốt nhất của họ. Là người đại diện của Chúa Kitô Mục Tử bên cạnh họ để hành động nhân danh Người trong thừa tác vụ, các linh mục sống với họ sự hiệp thông huynh đệ được xây dựng trong cùng một sự hiệp thông với Chúa Kitô, vốn tìm thấy nguồn mạch bí tích của nó trong Bí tích Rửa tội. Do đó, các linh mục tương lai phải phát triển nơi mình lòng quý trọng cao độ đối với ân sủng của Bí tích Rửa tội mà họ nhận được như tất cả các Kitô hữu khác.

Không có phẩm giá nào cao quý hơn phẩm giá làm con cái Chúa. Duy mình nó sẽ tồn tại mãi trong cõi vĩnh cửu; vì thế, nó sẽ không cần phải được khôi phục, nâng đỡ và phục vụ nữa. Trong cuộc sống trần thế cũng như trong cuộc sống vĩnh cửu, các linh mục không ở trên những người đã được rửa tội khác. Việc truyền chức để phục vụ những người đã được rửa tội qua việc rao giảng Lời Chúa và cử hành các Bí tích chắc chắn là một hồng ân tuyệt vời được ban cho Giáo hội; nhưng đặc tính phi thường của hồng ân này gắn liền với phẩm giá làm con cái Chúa, chính phẩm giá đó mà các linh mục có sứ mạng phục vụ nơi người khác. Giống như tất cả các Kitô hữu khác, các linh mục sẽ được xét xử dựa trên tình yêu mà họ đã thể hiện khi thi hành sứ mạng của mình.

Trong quá trình đào tạo họ, loại xác tín này phải ăn sâu vào lương tâm của các ứng viên, bởi vì ta chỉ có thể phục vụ tốt những gì ta yêu thích và quý trọng. Họ cũng cần phải trải nghiệm một cách cá nhân những gì các Kitô hữu phải sống để có thể mời gọi những người này sống một cách xác tín, mạnh mẽ trong kinh nghiệm đức tin của chính họ[1].

Khi thành lập chủng viện Saint-Sulpice (Xuân Bích) vào năm 1642, cha Jean-Jacques Olier trước tiên muốn biến những Kitô hữu tốt thành những người mà ngài sẽ đào tạo hướng đến chức linh mục. Vào thời của ngài, bậc giáo sĩ là một địa vị lợi lộc và là nguồn vinh dự trần tục cho nhiều con trai của các gia đình danh giá, và đối với những người nghèo nhất, là một khả năng tiếp cận một cuộc sống khá hơn. Trong một bài giảng nổi tiếng của cha Olier ngay sau khi ngài nhậm chức cha sở tại giáo xứ Saint-Sulpice, ngài khiển trách giáo dân của mình vì đã dành những đứa trẻ kém năng khiếu nhất của họ cho chức linh mục, và ngài nói thêm câu này: « Cần phải bước vào bằng cánh cửa ơn gọi ». Điều này có nghĩa là, để trở thành linh mục, cần phải được Thiên Chúa kêu gọi, chứ không chỉ tuân theo truyền thống gia đình hay tìm kiếm, như thánh Vinh Sơn Phaolô từng làm lúc đầu, « một nơi trú ẩn lương thiện » (honnête retirade), nghĩa là một phương tiện sống khá hơn.

Dưới con mắt của cha Olier, việc đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa này đòi hỏi một cuộc gặp gỡ với Ngài trong sự mật thiết của tâm hồn; nó ngụ ý một mối tương quan cá nhân với Đấng mà chỉ mình Ngài ta mới có thể hiến mạng sống mình, bất kể lời kêu gọi mà Ngài ngỏ với mỗi người là gì. Đây là lý do tại sao người ta luôn nói rằng trước khi đào tạo các linh mục, đấng sáng lập Hội Linh Mục Xuân Bích đã muốn đào tạo các Kitô hữu tốt; ngài muốn mang đến cho việc đào tạo linh mục tất cả chiều kích Kitô hữu của nó. Cha Olier không bao giờ tách biệt nơi các linh mục việc thực thi thừa tác vụ và việc trở thành một mẫu gương, một kiểu mẫu về đời sống Kitô hữu cho các Kitô hữu khác. Các vị thánh lớn thời bấy giờ thường dùng kiểu nói « chinh phục tâm hồn » để chỉ hoạt động tông đồ của mình. Nhưng tâm hồn không được chinh phục bằng sự ép buộc, cũng không bằng sự quyến rũ thao túng. Các ngài đã chinh phục bằng cách đánh thức những gì tốt nhất nơi họ. Để làm được điều này, cần phải khả tín, nghĩa là chính mình cố gắng trở thành một tấm gương về những gì mình rao giảng và những gì mình yêu cầu nơi các Kitô hữu khác.

Cha Olier sử dụng rất nhiều ngôn ngữ « hiệp thông với Chúa Kitô », vốn là hoa trái công trình của Chúa Thánh Thần nơi mỗi Kitô hữu. Cần phải có Thánh Thần của Chúa Kitô nơi mình để hiệp thông với Chúa Kitô đến nỗi tư tưởng của Người trở thành tư tưởng của chúng ta; tâm tình của Người trở thành tâm tình của chúng ta; hành động của Người trở thành hành động của chúng ta. Như thế, chúng ta dần dần được biến đổi trong Người.

Kitô hữu là Chúa Kitô ở giữa con người. Từ đó, các bậc thầy của Trường phái Linh đạo Pháp thường diễn tả ý tưởng này: Giáo hội tiếp tục Chúa Kitô trong thế giới. Giáo hội là Nhiệm Thể của Người. Nơi Giáo hội chính Người, Đầu của Thân Thể, đang sống và hành động trong thế giới. Đó là hoa trái của Bí tích Rửa tội nơi mỗi Kitô hữu, nhưng hoa trái này chỉ đạt đến mức trưởng thành nếu nó được cây Giáo hội sinh ra, bởi vì chứng tá của một thành viên duy nhất chỉ phong nhiêu trong chừng mực nó được gắn kết với Thân Thể, và qua Thân Thể, gắn kết với Đầu. Đây là lý do tại sao sự hiệp thông với Chúa Kitô không bao giờ có được mà không có sự hiệp thông với các thành viên khác của Giáo hội. Chúa Thánh Thần kết hợp chúng ta với Chúa Kitô đồng thời cũng kết hợp chúng ta với nhau.

Những gì Bí tích Rửa tội tạo ra trong chúng ta đều được duy trì hàng ngày qua việc suy niệm Lời Chúa và tham dự Bí tích Thánh Thể. Khi thường xuyên đọc Thánh Kinh, chúng ta học biết từ Chúa Kitô thấm nhuần tâm tình và tư tưởng của Người. Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi đón nhận Người vào trong chúng ta, trong chính hành động hiến dâng sự sống của Người để Người biến đổi chúng ta thành Người đến nỗi trong Người, chính chúng ta có thể trao ban sự sống của mình, mỗi người tùy theo ân sủng của mình.

Các linh mục, cũng như các Kitô hữu khác, sống sự phong phú vô tận này của hồng ân Thiên Chúa nơi Chúa Kitô. Trong những trao đổi với anh chị em Kitô hữu, họ đặt mình vào trường học của Chúa Thánh Thần, Đấng hành động trong mỗi người. Vì vậy, họ phải thích đón nhận từ mọi người, bất kể bậc sống của họ là gì. Sẽ thiếu đi một điều gì đó căn bản đối với một chủng sinh khi không học cách đón nhận từ các Kitô hữu khác, dù họ là giáo dân, tu sĩ, phó tế hay linh mục; khi không biết ngạc nhiên thán phục công việc của Chúa Thánh Thần nơi tất cả anh chị em mình; hoặc khi không lắng nghe Lời Chúa đến với mình theo cách thức Lời Chúa hình thành nơi anh chị em mình, tùy theo đặc sủng của mỗi người. Việc thực tập mục vụ là một nơi đặc biệt để củng cố tư thế qua đó ứng viên thừa tác vụ linh mục trước tiên học cách trở thành một người anh em, được mời gọi sống đức ái huynh đệ, trong việc đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban cho mỗi Kitô hữu và cho phép họ phát triển đời sống Kitô hữu của mình một cách trọn vẹn nhất có thể.

Việc giáo dục các linh mục tương lai rõ ràng không thể dừng lại ở đó. Tông huấn Pastores dabo vobis cho chúng ta biết rằng việc truyền chức linh mục làm cho các linh mục trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Mục Tử. Về phần mình, Ratio 2016 nói rằng trong giai đoạn nghiên cứu thần học, « việc đào tạo tập trung vào việc đồng hình đồng dạng của chủng sinh với Chúa Kitô, Mục Tử và Tôi Tớ [2] ». Đó là một cách khác để nói, bằng một hình ảnh khác, những gì Công đồng Vatican nói về việc đồng hình đồng dạng của các linh mục với Chúa Kitô là Đầu Giáo hội của Người. Chúng ta không chỉ phải học trở thành một Chúa Kitô khác, như tất cả các Kitô hữu phải học như thế, nhưng còn phải học trở thành một Chúa Kitô Mục Tử Giàu Lòng Thương Xót khác, theo cách diễn đạt của Ratio Fundamentalis Sacerdotalis Universalis vào tháng 12 năm 2016. Điều đó hệ tại sống cùng một đức ái, nhưng sống nó một cách đặc biệt, với tư cách là những người đã nhận sứ mạng phụ giúp cho Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt dân Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô ban Chúa Thánh Thần và kêu gọi con người đại diện cho Người trong sứ mạng thiết yếu này.

Đại diện cho Chúa Kitô, điều đó muốn nói làm cho Người hiện diện như là Mục Tử của dân Người bằng cách hành động nhân danh Người, điều này đương nhiên đòi hỏi phải xóa mình trước mặt Người để Người hành động trong và qua các thừa tác viên của Người. Chính Người dẫn dắt dân Người bằng Thánh Thần của Người. Do đó, ân sủng của chức linh mục, được lãnh nhận qua việc truyền chức, ngụ ý một sự khiêm nhường cơ bản, một sự chú ý đặc biệt để không cản trở Đấng mà chúng ta đại diện, để không chiếm lấy vị trí của Người, một điều vốn sẽ cản trở ân sủng của thừa tác vụ thực sự. Làm cho Chúa Kitô Mục Tử hiện diện ngụ ý việc đảm nhận đầy đủ các nhiệm vụ gắn liền với sứ mạng đặc biệt tế nhị này, đó là sứ mạng giảng dạy, thánh hóa qua các Bí tích, dẫn dắt dân Chúa, bằng cách khuyến khích họ làm chứng cho Tin Mừng và bằng cách không ngừng hoạt động vì sự hiệp nhất của họ.

Việc thực thi đức ái, vốn là đặc điểm của mọi đời sống Kitô hữu đích thực, mang hình thức đức ái mục tử nơi các linh mục. Theo sắc lệnh Presbyterorum ordinis, đức ái mục tử này là chìa khóa cho đời sống thiêng liêng của các linh mục. Qua việc truyền chức, các linh mục được ban cho một thẩm quyền gồm một số quyền hành. Tuy nhiên, thẩm quyền và những quyền hành này có thể được biến thành công cụ để áp đặt quan điểm một cách độc đoán; đó là sự cám dỗ của não trạng giáo sĩ trị. Rõ ràng, việc được truyền chức linh mục không tự động làm cho đạt được một khả năng học thuyết chính xác bất khả chê trách, càng không phải là một khả năng sư phạm tinh tế hoàn hảo, cũng không phải là một mối quan hệ mục vụ mẫu mực, cũng như một mối tương quan được điều chỉnh một cách chính xác giữa việc thực thi quyền bính và ý thức phục vụ. Nói cách khác, không phải vì một phần quyền bính được lãnh nhận một cách chính thức mà quyền bính này sẽ được thực thi với sự hoàn hảo thích hợp với nó. Mỗi người đều vấp phải những giới hạn về tính khí và sở thích của mình.

Đây là lý do tại sao, để có được một thái độ mục vụ đúng đắn, chúng tôi đề nghị chú ý đến một số yếu tố có thể góp phần vào thái độ đó:

1) Tìm kiếm sự hiểu biết thiêng liêng về chính mình. Toàn bộ truyền thống Giáo hội mô tả sự hiểu biết này như một trong những nền tảng của sự khiêm nhường. Đó không phải là một sự hiểu biết tâm lý đơn giản (có thể rất hữu ích), nhưng là một sự hiểu biết về chính mình trong mối tương quan với Thiên Chúa và đặc biệt trong việc đón nhận lòng thương xót của Ngài. Việc linh hướng, tại chủng viện và sau đó, là một nơi đặc biệt để đạt được một thái độ nội tâm vốn đưa vào trạng thái hoán cải thường xuyên.

2) Lắng nghe Huấn quyền Giáo hội trong các chiều kích khác nhau của Giáo hội. Mỗi vị Giáo hoàng, mỗi Thượng hội đồng, mỗi Công đồng đều bộc lộ một chiều kích đức tin cụ thể cần được tính đến. Ở đây một lần nữa, trong sự suy tư khách quan và trong viễn cảnh lịch sử, với sự giúp đỡ của các nhà giáo dục có năng lực, chủng viện có thể là một nơi trong đó sự phân định cần thiết được thực thi liên quan đến những câu trả lời khác nhau mà Huấn quyền Giáo hội mang lại, trong suốt những năm qua, cho những vấn đề lớn của thời đại chúng ta.

3) Đối thoại với các linh mục khác và đặc biệt đối thoại giữa các thế hệ. Không có công việc mục vụ nào là vĩnh viễn. Mỗi thế hệ đã đầu tư và ngày nay vẫn đang đầu tư vào những định hướng vốn chắc chắn có giới hạn của chúng, nhưng ta không bao giờ có thể đưa ra đánh giá dứt khoát về những định hướng đó. Giải thích bản thân, tìm cách hiểu biết chính mình, trong bầu khí cầu nguyện, phân định thiêng liêng và khoan dung lẫn nhau, là một thái độ cần thiết để xây dựng một linh mục đoàn trong sự cộng tác với Giám mục giáo phận để cùng nhau tìm ra một cách thích hợp để đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng của xã hội chúng ta. Đối thoại trong cộng đoàn mở rộng của chủng viện và sự tương giao với các thế hệ linh mục khác nhau trong việc thực tập mục vụ nói chung là những yếu tố đào tạo theo nghĩa này.

4) Cộng tác với giáo dân trong một cuộc đối thoại mà mọi người đều biết mình được tôn trọng. Đây chắc chắn là một điều bình thường, nhưng cần phải nói lại: quyền bính hệ tại làm phát triển những người mà trách nhiệm được thực thi. Giúp một người phát triển về mặt thiêng liêng, đó trước hết là tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi họ và giúp họ phát triển các đặc sủng đã nhận được; điều này đòi hỏi lắng nghe họ và làm sao để họ tham gia nhiều nhất có thể vào các quyết định được đưa ra. Sự hiệp nhất của một cộng đoàn là với điều kiện này, khi mỗi người đều có thể nói ra ý kiến của mình và cảm thấy rằng ý kiến đó được quan tâm, ngay cả khi nó không được giữ lại. Đây là một công việc khó khăn, bởi vì hai đòi hỏi có thể cạnh tranh nhau: đòi hỏi về tính hiệu quả cần thiết trong việc lựa chọn và việc thực hiện các định hướng, và đòi hỏi lắng nghe và quan tâm đến từng người và từng nhóm. Xác tín rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong cộng đoàn mà linh mục có trách nhiệm là điều cần thiết để các quyết định được đưa ra nằm trong tính năng động hiện có của cộng đoàn. Do đó, các linh mục giúp các Kitô hữu đặt mình vào một lịch sử mà họ xây dựng cùng với Thiên Chúa, trong khi lưu tâm đến các thế hệ đi trước họ. Và ngược lại, các Kitô hữu giúp các linh mục đặt mình trong ơn gọi đặc biệt của các ngài, thông qua cùng một xác tín thiêng liêng và thái độ lắng nghe, chào đón tử tế và nâng đỡ phát sinh từ đó.

II

CỘNG ĐOÀN GIÁO DỤC LÀ NƠI CHỐN

VÀ PHƯƠNG TIỆN CHÍNH CỦA QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

Từ nguồn gốc của mình, Hội Linh Mục Xuân Bích đã quan niệm cộng đoàn, về sau được gọi là cộng đoàn giáo dục, là nơi cơ bản chuẩn bị cho thừa tác vụ linh mục. Những người sáng lập Hội đã được truyền cảm hứng từ cộng đoàn các môn đệ mà Chúa Giêsu đã tạo ra xung quanh Người để chuẩn bị họ cho sứ vụ tông đồ. « Bản chất sâu xa của chủng viện, theo cách thức của nó, là sự tiếp nối, trong Giáo hội, cộng đoàn tông đồ được tập hợp quanh Chúa Giêsu[3]

« Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ.» (Mc 3, 13-15). Chúa Giêsu huấn luyện những kẻ Người đã chọn và kêu gọi cho một thừa tác vụ đặc thù, và Người huấn luyện họ cùng nhau thành một nhóm tông đồ. Chúa Kitô không sai ai đi một mình. Mọi thừa tác vụ đều được quy chiếu về Người cũng như về cộng đoàn Giáo hội.

Chính để đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô, vốn đã được lắng nghe một cách cá nhân, mà các ứng viên sẽ bước vào cộng đoàn phân định và đào tạo là chủng viện. Được đón nhận nhân danh Giám mục của mình, họ phải ý thức rằng ơn gọi của họ, dù mang tính cá nhân đến đâu, cũng ghi khắc họ vào một ơn gọi tông đồ chung vốn sẽ là ơn gọi linh mục đoàn giáo phận, vượt quá chủng viện. Như tên gọi của nó cho thấy, Bí tích Truyền Chức Thánh ban cho khả năng thực thi sứ mạng chung của Giáo hội một cách hợp đoàn, trong sự tùy thuộc vào sứ mạng của Giám mục với tư cách là người kế vị các Tông đồ.

1-  Một chút lịch sử

Vào thời kỳ đầu của Hội, cộng đoàn giáo dục của chủng viện chỉ giới hạn ở cộng đoàn các nhà đào tạo và chủng sinh. Các linh mục Xuân Bích đầu tiên đã cho rằng việc đào tạo chỉ có thể đạt hiệu quả hoàn toàn trên cơ sở cuộc sống chung giữa các nhà đào tạo và những người được đào tạo. Một trong những nhiệm vụ thiết yếu của các nhà đào tạo hệ tại việc « sống chung » này, chia sẻ cùng một thời gian biểu, cùng các quy định, cùng thời gian cầu nguyện và thinh lặng cũng như cùng thời gian giải trí. Thời gian giải trí này là nơi trao đổi cởi mở và tự do, và « các cha giáo» bắt buộc phải tham gia. Cuộc sống chung này tạo thuận lợi cho một kiểu ảnh hưởng lẫn nhau, hiệu quả cho việc học hỏi thừa tác vụ và đời sống linh mục, được sống trong bầu khí « quý mến và tình bạn », như một văn bản có từ thời cha Émery, ngay trước cuộc Cách mạng Pháp, cho biết. Bầu khí gần gũi này đánh dấu toàn bộ quá trình đào tạo. Ở đó, người ta học được cả sự tôn trọng và tình huynh đệ vốn được coi là thúc đẩy mối quan hệ giữa các linh mục, kể cả những người thực thi quyền bính. Các nhà đào tạo thường duy trì tương quan tình bạn chân thành với các chủng sinh đã trở thành linh mục.

Cách hình dung việc đào tạo này giải thích tại sao, qua các thế kỷ, Hội đã tỏ ra rất miễn cưỡng cho phép các nhà đào tạo thực hiện các sứ vụ khác bên ngoài chủng viện. Vấn đề hoàn toàn không phải là biến chủng viện thành một nơi khép kín, như đôi khi người ta vẫn nghĩ như thế. Vấn đề đã là tạo cho mình những phương tiện của “việc sống chung” này, được coi là môi trường nuôi dưỡng của việc đào tạo.

Ngày nay, điều kiện đào tạo đã thay đổi rất nhiều. Trước tiên, thời gian dành cho nó đã tăng lên đáng kể; kể từ cha Olier, thời gian đào tạo đã tăng từ sáu tháng lên tối thiểu là sáu năm. Tiếp đến, việc trao đổi với bên ngoài trở nên cần thiết cho chính việc đào tạo.

Vào thế kỷ XVII và XVIII, chủng viện về cơ bản được quan niệm như một thời gian tĩnh tâm cho phép khám phá đời sống nội tâm, thường không được biết đến bởi các giáo sĩ có lối sống rất trần tục. Ngày nay, chủng viện cũng phải cho phép tiếp cận đời sống nội tâm, nhưng trong một bối cảnh hoàn toàn khác: bối cảnh mà việc trao đổi với các đối tác trong Giáo hội tham gia đào tạo có thể bổ ích cho đời sống thiêng liêng.

Đây là lý do tại sao cộng đoàn giáo dục ngày nay không còn bị giới hạn ở các nhà đào tạo của chủng viện với các chủng sinh mà thôi. Dần dần, một khái niệm rộng hơn đã được phát triển, trong đó các vị phụ trách của giáo phận do các Giám mục bổ nhiệm và các vị phụ trách địa phương chịu trách nhiệm đón tiếp các chủng cho việc thực tập mục vụ của họ đã được đưa vào. Các vị phụ trách của giáo phận đã trở nên đặc biệt cần thiết trong khuôn khổ các chủng viện liên giáo phận; ngoài những việc khác, họ giúp các chủng sinh hội nhập tốt hơn trong các giáo phận tương ứng của họ và họ cho phép một sự lựa chọn luôn được điều chỉnh tốt hơn đối với các cuộc thực tập mục vụ.

Tuy nhiên, sự quan tâm đến cuộc sống với các chủng sinh nơi các nhà đào tạo đầu tiên của chủng viện sẽ không vì thế mà biến mất, bởi vì nó vẫn giữ lại, như chúng ta sẽ thấy, tất cả giá trị đào tạo của nó. Chắc chắn, nó có thể đáp ứng các sứ vụ khác, càng hơn thế vì chủng sinh ngày nay rất nhạy cảm với những gì có thể được truyền đạt cho họ bởi các nhà đào tạo của họ về đời sống của Giáo hội và về chính sứ vụ.

Sự khan hiếm linh mục trên thực địa giáo phận dẫn đến việc giao phó các nhiệm vụ khác của giáo phận cho các linh mục này, được sai đi với tư cách là cha giáo chủng viện, điều này thường dẫn đến sự hiện diện bán thời gian ở chủng viện. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng công việc của các nhà đào tạo không bị giảm thiểu thành việc thực hiện chính xác một số nhiệm vụ giảng dạy, linh hướng hoặc đồng hành với các cuộc thực tập mục vụ, nhưng còn bao gồm một sự hiện diện thong dong, một cuộc sống hàng ngày với các chủng sinh vốn không thể được đảm bảo bởi một mình bề trên hoặc một cha giáo lớn tuổi hơn và do đó ít ra ngoài hơn.

Sứ vụ đào tạo khó thích ứng với công việc bán thời gian, một phần tư thời gian và ba phần tư thời gian, bởi vì nó giả định một sự thong dong vốn đúng là không tính thời gian của nó. Người xưa đã dạy chúng ta rằng bản thân sự hiện diện của các nhà đào tạo đã mang tính đào tạo, với việc nó cho phép sự sẵn sàng và khả năng đối thoại thong dong. Việc đầu tư quá mức của một nhà đào tạo chủng viện bên ngoài chủng viện có nguy cơ ngăn cản họ thực hiện một phần sứ mạng của mình[4]. Tấm gương của những linh mục này luôn bị giằng xé giữa các sứ vụ khác nhau của mình và không thể dừng lại, không tất nhiên là một tấm gương rất khích lệ cho các chủng sinh.

Mỗi người đều hiểu được những khó khăn của các giáo phận và không ai tham vọng có giải pháp cho vấn đề này. Các điều kiện của việc đào tạo ngày nay giả định rằng các nhà đào tạo không luôn “bị nhốt” trong chủng viện. Tuy nhiên, điều quan trọng là làm chủ thời gian và cường độ của những dấn thân này, nếu không chúng ta sẽ không chu toàn sự hiện diện này, vốn cho phép các cuộc trao đổi và do đó việc truyền đạt chia sẻ một tinh thần mà chỉ duy sự hiện diện này mới có thể đảm bảo. Ở với, cầu nguyện với, dùng bữa với, là nền tảng cần thiết của việc đào tạo. Hội đồng có quyền thỉnh thoảng dừng lại ở vấn đề này để đánh giá sự tự do của các thành viên trong lĩnh vực này, tự do về thời gian, tất nhiên về mặt thể chất mà nói, nhưng đặc biệt cả sự tự do nội tâm, bởi vì căng thẳng giữa các sứ vụ khác nhau thường đè nặng lên chất lượng của sự tự do được đầu tư vào đó. Bề trên phải đặc biệt chú ý đến điểm này và khơi lên cuộc đối thoại với các thẩm quyền (Bề trên giám tỉnh, các Giám mục) nếu cần thiết.

2- Các mối tương quan trong chủng viện

Các mối tương quan trong chủng viện trước hết thúc đẩy việc thủ đắc dần dần tinh thần hợp đoàn mà, một mặt, truyền cảm hứng cho sự hợp tác và các sáng kiến và, mặt khác, điều chỉnh các khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa. Hội đồng Chủng viện cố gắng mang lại một tấm gương bền vững về tinh thần này: sự gắn kết huynh đệ, sự đồng thuận tinh thần trong sự đa dạng của các thành viên tạo nên nó, « đồng tâm nhất trí[5] » trong các thỏa thuận cũng như bất đồng, thể hiện một chứng tá có tầm quan trọng hàng đầu. Do đó, Hội đồng thúc đẩy sự nhất trí hơn là sự đồng nhất, và thực thi thẩm quyền của mình theo nghĩa này.

Đối với các ứng viên thừa tác vụ linh mục, chủng viện là nơi quy chiếu cho việc đào tạo của họ và là nơi đầu tiên cho sự hội nhập Giáo hội của họ: nơi sống trong cộng đoàn, nơi dẫn vào các khoa học thánh và các môn học phụ, nơi cầu nguyện trong đó phụng vụ chung và cầu nguyện cá nhân được cân bằng, nơi chia sẻ và lắng nghe, đồng trách nhiệm, phục vụ; nơi đối chiếu của những nhạy cảm, nguồn gốc, tài năng và mức độ trưởng thành khác nhau; cuối cùng là nơi tổng hợp của sự phân định ở tòa trong cũng như ở tòa ngoài. Cộng đoàn chủng viện là cộng đoàn của mỗi người, bất kể tỷ lệ hiện diện hiện có của họ thế nào, tùy theo việc họ đang trong quá trình đào tạo hàng ngày, đang thực tập mục vụ, năm phó tế hay « tổng hợp ơn gọi ». Trong hai hoặc ba trường hợp sau cùng này, Hội đồng vẫn chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình đào tạo và phân định, và việc đồng hành thiêng liêng thường tiếp tục được đảm bảo bởi một trong các cha giáo. Các đối tác của chủng viện – các giáo sư và các giảng viên ngoại trú khác, các đại diện giáo phận về đào tạo – cũng như nhân viên trong nhà, tham gia vào đời sống của cộng đoàn giáo dục, ở các mức độ khác nhau và với sự gần gũi thích hợp.

Cộng đoàn giáo dục của chủng viện được đón nhận, do sự kiện đã được Đức Giám mục gởi đến đó (đối với các chủng sinh) hoặc bổ nhiệm (đối với các thành viên của Hội đồng). Nó được đặc trưng bởi cường độ, tính đa dạng của các khía cạnh và thời gian của nó. Nó thúc đẩy kinh nghiệm thiêng liêng cơ bản, đầy đòi hỏi và hiện thực, về cộng đoàn Giáo hội, để chuẩn bị các ứng viên dần dần và tốt nhất có thể cho những đòi hỏi và điều kiện của thừa tác vụ trong thời đại chúng ta. Điều chắc chắn là các phương thức thi hành thừa tác vụ, cũng như hình ảnh cụ thể của người mục tử của một cộng đoàn, đang thay đổi đáng kể, ít nhất là ở nhiều giáo phận. Tuy nhiên, sứ mạng cơ bản và được đảm nhận một cách hợp đoàn về việc loan báo đức tin của Giáo hội, được thủ đắc về mặt thiêng liêng và trí thức, cũng như nhu cầu về một đời sống thiêng liêng có nền tảng vững chắc, sẽ vẫn không thay đổi; chúng sẽ cho phép đối mặt với tất cả những thách thức, những vấn đề và khó khăn của hoàn cảnh mục vụ hiện tại và tương lai.

Do đó, cuộc sống trong cộng đoàn giáo dục đặt mục tiêu chuẩn bị các linh mục tương lai một cách tốt nhất có thể cho cuộc sống mà họ sẽ phải sống sau này, theo những gì có thể được dự kiến một cách hợp lý. Nó quan tâm đến tất cả những gì dẫn đến sự hợp tác và việc cùng chung sống trong thừa tác vụ của các linh mục giáo phận. Chính họ được hòa nhập vào công đoàn dân Chúa, những mục tử của các cộng đoàn và những người thúc đẩy sự hiệp thông trong Giáo hội. Từ đó chủng viện nhấn mạnh đến việc chia sẻ và « đối chiếu »; đó là việc dạy tôn trọng và quy tụ những khác biệt để phục vụ cùng một Tin Mừng phải được loan báo, cùng một Giáo hội phải được xây dựng[6]. Đây chính là điều mang lại cho cộng đoàn chủng viện lý do tồn tại và hình ảnh đặc  thù của nó, khác với một cộng đoàn chuẩn bị cho đời sống tu sĩ. Tuy nhiên, đồng thời với một đời sống chung chắc chắn, nó cũng phải cho phép đảm nhận phần cô tịch vốn tất yếu ảnh hưởng đến thừa tác vụ mục vụ.

Ngoài việc chuẩn bị cho cuộc sống mà các linh mục tương lai sẽ phải sống khi thi hành thừa tác vụ sau này, cuộc sống trong cộng đoàn giáo dục còn đặt mục tiêu chuẩn bị cho họ tinh thần mà họ sẽ phải sống trong mối tương quan với người khác. Đời sống tương quan của họ sẽ được biểu lộ bên trong và phục vụ cộng đoàn Giáo hội, nhưng còn với nhiều người khác bên ngoài cộng đoàn đó. Đời sống tương quan này phải được đánh dấu bằng dấu ấn của tình huynh đệ vốn là đặc điểm của các nhà thừa sai của Tin Mừng (x. Phanxicô, Fratelli tutti, năm 2020). Hầu hết các chủng viện đã quyết định tổ chức đời sống cộng đoàn bằng cách quan tâm đến mục tiêu này, chẳng hạn bằng cách ưu tiên thời gian và hoạt động nơi các nhóm thu hẹp hơn (« Huynh đoàn », « Nhà », v.v.), bên trong các cộng đoàn lớn hơn hoặc không. Điều này đòi hỏi phải đánh giá thường xuyên những lối sống mới này để đo lường tính thích đáng và những cân bằng của chúng, cũng như thực hiện bất kỳ điều chỉnh nào nếu thấy cần thiết.

3- Cộng đoàn giáo dục mở rộng

Chủng viện không thể hoạt động trong chân không và sẽ vẫn mở ra cho các mối quan hệ và đầu tư khác cần thiết cho sự cân bằng cuộc sống cũng như việc xây dựng về mặt nhân bản và mục vụ của các ứng viên. Các ứng viên sẽ có và sẽ sử dụng các phương tiện để duy trì các mối quan hệ gia đình và bạn bè, trong những giới hạn hợp lý mà họ sẽ phân định trong sự đối thoại với người đồng hành thiêng liêng.

Việc thực tập mục vụ thường xuyên sẽ cho phép các ứng viên khám phá ngày càng nhiều môi trường cụ thể thực thi thừa tác vụ và những sự hợp tác khác nhau vốn là đặc điểm của nó. Việc tham gia ngày càng tích cực hơn vào các sứ mạng và hoạt động của một cộng đoàn giáo xứ, việc trao đổi thông thường với linh mục quản  xứ và các cộng tác viên thân cận của ngài (vốn sẽ không che giấu những khía cạnh khó khăn hơn của thừa tác vụ), và việc chia sẻ những quan sát và vấn đề của họ sẽ cung cấp những yếu tố quan trọng cho sự phân định, trước tiên cho chính ứng viên, rồi cho những người chịu trách nhiệm tiếp nhận họ trong giáo xứ và Hội đồng. Kinh nghiệm lâu dài về cuộc sống trong một giáo xứ cho phép ứng viên nhận thức được mức độ và phương thức của đời sống huynh đệ mà họ có thể có nhu cầu chính đáng trong việc thi hành thừa tác vụ trong tương lai, ít nhất là trong giai đoạn đầu. Tương tự như vậy, họ sẽ nhận thức được mức độ và bản chất của sự hỗ trợ huynh đệ mà người ta mong đợi ở họ.

III

ĐÀO TẠO ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CÁ NHÂN 

ĐẶC BIỆT QUA VIỆC LINH HƯỚNG

Các bậc thầy tâm linh của Trường phái Linh đạo Pháp nói rằng quá trình đào tạo con người về mặt thiêng liêng, đó là để Chúa Thánh Thần hình thành Chúa Kitô trong họ. Theo nghĩa rất tổng quát này, quá trình đào tạo thiêng liêng liên quan đến toàn bộ cuộc sống. Trong khuôn khổ chuẩn bị cho thừa tác vụ linh mục, việc đào tạo thiêng liêng, vốn diễn ra trong suốt thời gian chủng viện, mang một hình thức mạnh mẽ hơn, có hệ thống hơn, nhằm phải làm cho đời sống Kitô hữu của các ứng viên bén rễ sâu vào truyền thống Giáo hội và khắc sâu nó vào nhân tính của họ. Do đó, nó không thể được giản lược vào việc thủ đắc kiến thức. Kiến thức là cần thiết để biết các quy luật của đời sống thiêng liêng, các nền tảng, các giai đoạn của nó, các quy luật phân định thiêng liêng, các hình thức của nó trong suốt lịch sử tùy theo các đặc sủng khác nhau và những thích ứng với những tiến triển của tư duy và lối sống. Nhưng quá trình đào tạo thiêng liêng trước hết nhằm cung cấp nền tảng cho đời sống Kitô hữu vững chắc, có khả năng đương đầu với những bất ngờ của cuộc sống và triển nở ở đó, và đối với các linh mục tương lai, có khả năng triển nở trong hình thức sống mà họ đã chọn, hình thức sống thừa tác vụ linh mục, vốn mang những đặc điểm riêng.

Đây là lý do tại sao quá trình đào tạo thiêng liêng không chỉ được thực hiện thông qua các khóa học, mà còn qua đời sống cộng đoàn, nhất là trong khuôn khổ cầu nguyện cá nhân và chung, cử hành phụng vụ, tĩnh tâm. Tuy nhiên, nơi ưu tiên của nó là linh hướng. Khi thành lập Chủng viện Saint-Sulpice, cha Jean-Jacques Olier đã thiết lập việc đào tạo dựa trên hai trụ cột bổ sung cho nhau: đời sống cộng đoàn và linh hướng. Trong bối cảnh xã hội mà việc trở thành linh mục vẫn được coi là một nghề nghiệp, việc linh hướng chủ yếu có mục đích giúp các ứng viên phát triển nơi họ sự tự do cần thiết để dấn thân vào con đường linh mục, không phải vì tham vọng hay lợi ích, cũng không vì sự ràng buộc của gia đình, nhưng với động lực thiêng liêng đủ, vừa để loan báo Tin Mừng vừa để sống phù hợp với những đòi hỏi của bậc sống của họ.

Việc xác thực và phát triển phẩm chất thiêng liêng trong các động cơ của các ứng viên đã luôn là mục tiêu chính của việc linh hướng trong các chủng viện, việc linh hướng này được sống trong khuôn khổ triển nở đời sống bí tích Rửa tội của họ. Việc linh hướng từ lâu đã là một thực hành phổ quát trong các chủng viện mà Giáo hội bắt buộc: « Trong mỗi chủng viện phải có ít là một vị linh hướng, tuy nhiên, các chủng sinh vẫn được tự do đến với các linh mục khác đã được Giám mục chỉ định vào nhiệm vụ này[7] ». Bây giờ, chúng tôi đề nghị nghiên cứu thực hành này một cách chi tiết hơn.

Linh hướng là một thừa tác vụ nhằm phục vụ sự tự do cá nhân và nội tâm của các ứng viên. Ngược với những gì tên gọi truyền thống có thể gợi ý, việc hướng dẫn không liên quan trực tiếp đến những lựa chọn lớn và nhỏ mà ứng viên phải thực hiện, nhưng là sự phân định, dưới ánh sáng Lời Chúa, các yếu tố đức tin vốn sẽ phải quyết định những lựa chọn này và những động cơ nhân loại luôn chi phối chúng. Ước muốn thánh hiến trong thừa tác vụ chức thánh phải nằm trong khuôn khổ của dự án toàn cầu về đời sống Tin Mừng và do đó trong sự gắn kết với Giáo hội. Các chiều kích cộng đoàn và cá nhân của việc đào tạo bổ sung cho nhau, nhưng không tách rời nhau. Việc linh hướng, ở cấp độ riêng của mình, và theo những đặc điểm cụ thể, đảm bảo một mối tương quan với cộng đoàn Giáo hội của chủng viện, giáo phận và Giáo hội hoàn vũ.

Vị linh hướng thường được chọn trong số các cha giáo của chủng viện, sau một thời gian phân định đủ dài; Bề trên sẽ đáp ứng, trong chừng mực có thể, sự ưu tiên mà ứng viên bày tỏ. Các cuộc gặp để linh hướng hoặc đồng hành thiêng liêng diễn ra ít nhất mỗi tháng một lần, trong thời gian học, thông thường theo sáng kiến của ứng viên; các cuộc gặp thường xuyên hơn có thể được yêu cầu và đôi khi cần thiết, nhất là đối với những người mới bắt đầu.

Cuộc gặp linh hướng là nơi tổng hợp. Bốn chiều kích của việc đào tạo thừa tác vụ linh mục được cụ thể hóa và được gặp gỡ nơi con người của ứng viên; việc linh hướng cũng cung cấp cho ứng viên một nơi để họ có thể đọc lại và đánh giá kinh nghiệm cá nhân của mình trong quá trình đào tạo, dưới ánh sáng của đời sống đối thần và các ân sủng bí tích vốn sẽ cho họ biết, và chia sẻ các vấn đề, các nguyện vọng và những khó khăn mà họ cảm thấy. Dựa trên những truyền thống thiêng liêng lớn của Giáo hội, cha linh hướng đồng hành cùng ứng viên trong việc thủ đắc và đào sâu kỷ luật cầu nguyện cá nhân, suy niệm Lời Chúa, đọc lại cuộc sống và xét mình. Họ cũng là cha giải tội thường lệ của ứng viên, và giữ kín hoàn toàn đối với ứng viên, trong các cuộc họp Hội đồng cũng như bên ngoài[8].

Việc linh hướng có thể bao gồm thời gian cầu nguyện và cử hành bí tích, nhưng, cách chung hơn, mang hình thức đối thoại, trong đó ứng viên có thể chia sẻ những gì mình bận tâm. Cha linh hướng, mà nhiệm vụ đầu tiên của họ là cưu mang con linh hướng trong lời cầu nguyện, trước tiên sẽ đáp lại bằng cách chăm chú và quan tâm lắng nghe. Họ sẽ soi sáng những lời nói và các vấn đề của con linh hướng nhờ Lời Chúa; họ cũng sẽ đặt con linh hướng, một cách mặc nhiên hay minh nhiên, trong tương quan với các khía cạnh về nhân cách và lịch sử của ứng viên mà họ đã biết. Không bao giờ áp đặt con linh hướng, họ sẽ gợi ý những giải pháp hoặc những thái độ để theo, biện minh cho chúng bằng cách dựa vào những nguồn mạch của đức tin có thẩm quyền, vào truyền thống thiêng liêng của Giáo hội, vào gương sáng của các thánh hoặc lương tri của con cái Thiên Chúa. Xét đến cùng, trong những lựa chọn quan trọng cũng như trong những quyết định ít quan trọng hơn, con linh hướng phải tự mình quyết định và tiến bước theo ánh sáng, những chuyển động nội tâm, những tiêu chuẩn Tin Mừng mà chính họ đã nhận thức, cũng như những chuẩn mực do Giáo hội đưa ra để xác định « những khả năng » để được truyền chức. Chính trong tất cả những điều này mà, trong đức tin, con linh hướng nhận ra ý muốn của Thiên Chúa.

Vì vậy, ở cấp độ riêng của mình, quá trình linh hướng không chỉ là nơi ưu đãi cho sự chia sẻ huynh đệ, mà còn là nơi đào tạo tích cực. Sự phong nhiêu của việc đào tạo này sẽ phụ thuộc vào sự cởi mở của ứng viên, thậm chí còn hơn cả vào phẩm chất thiêng liêng và khả năng trí tuệ của người hướng dẫn. Ứng viên phải có khả năng hoặc trở nên có khả năng trình bày hoặc đặt vấn đề về những khía cạnh sâu xa và thân mật hơn trong nhân cách, lịch sử và đời sống đức tin của mình, những yếu tố sẽ có thể trở thành những nguyên nhân của những khó khăn mục vụ ở giai đoạn sắp tới hoặc sau này, nếu chúng vẫn bị giấu kín. Cha linh hướng sẽ đón nhận họ mà không phán xét, trong tinh thần thương xót, khiêm tốn và liên đới huynh đệ.

Để phục vụ sự tự do thiêng liêng của các ứng viên, cha đồng hành thiêng liêng sẽ cố gắng giúp các con thiêng liêng của mình khám phá và nhận ra những trở ngại đối với sự tự do này, những trở ngại mà họ có thể gánh chịu một cách ý thức hoặc vô thức. Ngài sẽ mời gọi phân định những ảnh hưởng được tìm kiếm hoặc phải gánh chịu, và sẽ giúp đánh giá lại chúng theo ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, vốn phải được ưu tiên trong mọi trường hợp. Trong cùng những ý tưởng đó, và đồng thời tránh mọi nghi ngờ trịch thượng, ngài cũng sẽ mời gọi đánh giá những gắn bó khác nhau (với những con người, với những thực tại, những hành xử, những ý tưởng, v.v.), để giúp ứng viên dần dần chỉnh sửa chúng theo chiều hướng phù hợp với sự cân bằng tổng thể của con người mình và với những đòi hỏi của sứ mạng Giáo hội hiện tại và tương lai của mình theo kỷ luật độc thân được chọn « vì Nước Trời ». Nếu cần thiết, và luôn vì lợi ích phát triển sự tự do cá nhân, ngài có thể gợi ý cho con linh hướng nhờ đến những thẩm quyền chuyên môn mà bản thân vị linh hướng không thể tham vọng có được[9].

Theo truyền thống, trong các chủng viện, khi nói đến việc phân định ơn gọi, gọi là « tòa trong » tất cả những gì diễn ra trong khuôn khổ linh hướng, và « tòa ngoài » những gì liên quan đến công việc của Hội đồng. Tòa trong tuân theo sự bảo mật nghiêm ngặt nhất. Thực hành này có từ rất lâu; nó đã trở thành chuẩn mực trong các chủng viện Xuân Bích vào tiền bán thế kỷ XVIII, chính xác là vào năm 1717.

Việc giữ bí mật tuyệt đối xung quanh việc linh hướng thúc đẩy sự tự do diễn đạt của các ứng viên khi biết rằng những gì họ nói trong khung cảnh này sẽ không bao giờ được lặp lại. Vì thế, họ được tự do nói mọi sự. Điều này có thể kích thích họ ước muốn hiến thân cho Giáo hội với tất cả ý thức đầy đủ về sự việc và với ước muốn được hướng dẫn đúng đắn bởi đức tin.

Việc niêm kín hai lĩnh vực này không hề ngăn cản sự bổ sung giữa hai lĩnh vực. Linh hướng phải tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đối thoại diễn ra ở tòa ngoài giữa ứng viên và Bề trên chủng viện, vốn là người hợp thức trình bày nhận xét của Hội đồng đối với ứng viên. Về phía ứng viên, cuộc đối thoại này phải là đối tượng suy tư trong quá trình linh hướng. Do đó, tòa ngoài và tòa trong kết hợp với nhau để giúp ứng viên nói sự thật tốt nhất có thể về chính mình, về đời sống thiêng liêng, về phẩm chất ước muốn trở thành linh mục của mình và về tính khách quan trong cách nhìn của mình về những khả năng cho thừa tác vụ. Linh hướng đóng một vai trò quan trọng trong việc ứng viên tiếp nhận một quyết định tích cực cho việc truyền chức, như một lời kêu gọi từ Giáo hội, chứ không phải trước hết là kết quả của những nỗ lực tốt lành và trung thành của họ; cũng như chấp nhận một quyết định tiêu cực, dù nó có đau đớn đến đâu. Tòa trong và tòa ngoài, cả hai đều hoạt động theo cách thức của mình, vì lợi ích của Giáo hội; cả hai cũng phải hướng dẫn ứng viên đặt mình vào viễn cảnh này, chứ không phải trong viễn cảnh của những thành công cá nhân của họ. Như thế, cả hai cho phép người hiến thân cho Giáo hội để trở thành linh mục, được bộc lộ con người thật của mình càng nhiều càng tốt.

Kết thúc suy tư ngắn gọn này, chúng tôi có thể nhấn mạnh rằng linh hướng là một nơi đặc biệt để ứng viên linh mục nhận thức được nhân tính của chính mình và trưởng thành. Ở đó, họ có thể nhớ lại lịch sử cá nhân của mình trong mọi chiều kích, đặc biệt là tình cảm, đánh giá sự phong phú, tài năng cũng như giới hạn của mình, suy ngẫm về các khả năng tương quan và khả năng sống độc thân và cô tịch, phát hiện ra những cuộc chiến đấu mà họ phải thực hiện để hoàn thiện nhân tính của mình.

Chúng ta biết, trong những thập kỷ gần đây, tầm quan trọng của chiều kích nhân bản trong việc đào tạo đã được nhấn mạnh như thế nào bởi tất cả các tài liệu trong đó huấn quyền của Giáo hội đã tìm cách cải tiến phẩm chất của toàn bộ việc đào tạo.

Trong quá trình linh hướng, một ứng viên cũng có thể, với sự giúp đỡ của vị linh hướng của mình, hiểu rõ hơn làm thế nào ân sủng mà mình tìm cách tuân phục có thể giúp nhân tính của mình triển nở và mang lấy chiều kích Kitô giáo trọn vẹn của nó, mà không tin rằng ân sủng có thể thay thế sự cân bằng nhân bản đang suy yếu nghiêm trọng.

Trong trật tự liên quan đến cả sự phân định và giáo dục này, tất nhiên, toàn bộ các phương tiện đào tạo đều có liên quan, chứ không chỉ việc linh hướng. Đời sống cộng đoàn và việc thực tập mục vụ cũng cho phép đánh giá sự cân bằng nhân bản của một ứng viên, và giúp họ mỗi ngày trở thành một người trưởng thành trong đức tin hơn một chút và tốt hơn một chút. Nhưng việc linh hướng, trong đó một linh mục tương lai có thể nắm bắt lại toàn bộ cuộc đời mình, là một trợ giúp quý giá để học biết đón nhận nhân tính của mình từ Thiên Chúa và phát triển nó với sự giúp đỡ của Ngài để phục vụ tốt hơn cho những người mà mình sẽ được sai đến.

 

IV

THỰC THI TRÁCH NHIỆM HỢP ĐOÀN

1- Nguyên tắc

Hiến pháp của chúng tôi khẳng định việc thực thi trách nhiệm hợp đoàn trong chủng viện Xuân Bích là một trong những điểm thiết yếu của khoa sư phạm Xuân Bích. Đó là một thực hành rất lâu đời, vì chính cha Tronson, người kế nhiệm thứ hai của cha Olier, đã phổ biến nó trong Hội. Ngài giải thích sự nhấn mạnh của mình về điểm này bằng thái độ của hai bề trên đầu tiên là cha Olier và cha Le Ragois de Bretonvilliers, những người đã hỏi ý kiến ​​các cộng tác viên của mình rất nhiều. Cha Tronson giải thích việc mình khuyến khích làm việc theo hướng này bằng sự tôn trọng và đức ái đối với mỗi cha giáo; mỗi người phải có thể đưa ra ý kiến của mình và chịu phần trách nhiệm của mình trong các quyết định. Khi ngài qua đời vào năm 1700, đại đa số chủng viện Xuân Bích đã có thói quen về điều mà lúc đó được gọi là « Hội đồng các Cha giáo » (Assemblée des Directeurs), ngay cả khi một số bề trên đôi khi phải được nhắc trở lại trật tự. Được bao hàm và chủ trì bởi Bề trên, Hội đồng các Cha giáo giải quyết các vấn đề chính được đặt ra cho các nhà đào tạo, đặc biệt là việc đề cử các tiến chức để các Giám mục kêu gọi. Mọi quyết định đều được đưa ra bằng đa số phiếu. Các cuộc họp đã được tổ chức ít nhất mỗi tháng một lần và tốt hơn là hai tuần một lần.

Hội đồng các Cha giáo ngày nay thường được gọi là Hội đồng Chủng viện. Cuộc họp của nó tạo thành một thời điểm đặc biệt để hoàn thành sứ mạng được giao phó. Hiến pháp Hội Xuân Bích xác định rõ rằng những người « được thẩm quyền của Tỉnh hội chỉ định hoặc ít nhất được thẩm quyền của Tỉnh hội đồng ý[10] » đều thuộc về Hội đồng. Việc chỉ định này cũng được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các Giám mục, theo các quy tắc được nêu rõ trong từng trường hợp, tùy vào mối liên kết của chủng viện với Hội Xuân Bích. Do đó, Hội đồng không tự bổ nhiệm thành viên cho mình. Các thành viên của Hội đồng chịu trách nhiệm hợp đoàn trong việc đào tạo các linh mục tương lai, trong việc phân định và đề cử để Giám mục kêu gọi. Trong Hội Xuân Bích, Hội đồng hoàn toàn là Hội đồng của Giám mục, chứ không phải Hội đồng của Bề trên. Mỗi quyết định tập thể đều bó buộc đối với tất cả mọi người, kể cả Bề trên, người có trách nhiệm thông báo quyết định đó cho những người liên quan.

Do đó, theo truyền thống Xuân Bích, việc thực thi trách nhiệm hợp đoàn là nền tảng. Các linh mục Xuân Bích cùng nhau thực hiện một công việc chung. Mỗi người đều xóa mình đi trước công việc này, nhưng tham gia vào đó và đóng vai trò được giao cho mình, tôn trọng người khác, lắng nghe ý kiến của họ, không tìm cách áp đặt ý kiến của mình và luôn tìm kiếm những gì tốt nhất cho việc đào tạo các chủng sinh. Công việc chung này, công việc mà chúng tôi muốn thực hiện một cách vô vị lợi, đối với chúng tôi dường như mang một tính năng động, có thể làm rõ nét đặc điểm của mọi công việc trong Giáo hội. Thông thường, không ai bị ngăn cản thực hiện tài năng riêng của mình: mọi người đều tìm cách mang lại cái tốt nhất của chính mình để phục vụ hoạt động chung. Đối với chúng tôi, ở đây dường như có một cách thức cổ vũ sự tự do thiêng liêng: mang lại cái tốt nhất của chính mình bằng cách từ bỏ việc chiếm hữu công việc đã hoàn thành.

Tuy nhiên, đó không chỉ là tôn trọng tài năng của người khác. Công việc mà chúng tôi cùng nhau tìm cách hoàn thành là công việc của Giáo hội. Do đó, nó bao gồm các vai trò, chức vụ được xác định và nói lên điều gì đó về bản chất của chính Giáo hội. Các mối quan hệ được thiết lập khi thực thi các chức vụ này cũng nhằm phục vụ sự tự do thiêng liêng của mọi người, đặc biệt là của các ứng viên linh mục.

2- Thực hành

Bây giờ, chúng tôi sẽ mô tả những chức vụ khác nhau này, bắt đầu từ Hội đồng Chủng viện trong các mối quan hệ nội bộ của nó, nhưng cũng trong mối quan hệ với các Giám mục và các chủng sinh. Chúng ta biết rằng trong những thập kỷ gần đây, những thông số mới đã can thiệp vào quá trình đào tạo ứng viên, gây ra những tác động đáng kể đến tiến độ đào tạo. Những sự hợp tác mới đã được thiết lập can thiệp vào công việc của Hội đồng Chủng viện. Vì thế, những thay đổi đáng kể đã ảnh hưởng đến vai trò của Bề trên và toàn thể Hội đồng.

3- Bề trên

Ngài có trách nhiệm đặc biệt về sinh hoạt và sự hiệp nhất của chủng viện[11]. Chính ngài là người bảo đảm trong chủng viện việc thực thi trách nhiệm hợp đoàn được giao phó cho toàn thể Hội đồng. Ngài phải đảm bảo về việc chuẩn bị các suy tư và quyết định, về sự vận hành tốt đẹp của Hội đồng trong việc áp dụng các quy tắc của tính hợp đoàn (quyền tự do ngôn luận của mỗi người, sự chín chắn cần thiết của các quyết định, tính khách quan của các cuộc tranh luận) và về việc truyền đạt thích đáng các quyết định được đưa ra cho những người có liên quan. Ngài cũng phải chú ý đến bất cứ điều gì đòi hỏi có sự tham khảo ý kiến từ bên ngoài hoặc sự phê chuẩn của thẩm quyền cao hơn. Ngài là người phát ngôn có thẩm quyền của Hội đồng trong mối quan hệ với các Giám mục, với các chủng sinh và với bất kỳ cấp nào khác tham gia vào việc đào tạo.

Bề trên có nhiệm vụ chuẩn bị và chủ trì Hội đồng, mà ngài đề nghị trước chương trình nghị sự của nó. Ngài thường chuẩn bị nó với thành viên Hội đồng đảm nhiệm chức vụ Phó Giám đốc, hoặc Phó Bề trên, có vai trò thay thế Bề trên[12] khi Bề trên vắng mặt hoặc bị ngăn trở.

Để bảo vệ sự tự do của mỗi người, Bề trên không đảm nhận việc linh hướng, nhưng có nhiệm vụ tiếp đón các chủng sinh nhằm lựa chọn vị linh hướng cho họ. Bề trên đảm bảo sự phân phối công minh, tránh hiệu ứng thị hiếu. Ngài cũng là người đối thoại khi một chủng sinh ao ước thay đổi cha linh hướng.

4- Hội đồng

Trong bối cảnh đào tạo hiện nay, điều mong muốn là giáo dân tham gia, với những danh nghĩa khác nhau, vào việc tổ chức quá trình đào tạo và việc phân định ơn gọi của các ứng viên. Ở nhiều chủng viện, họ có thể là thành viên chính thức của Hội đồng.

Mỗi thành viên của Hội đồng thường đồng thời thực hiện nhiệm vụ linh hướng[13], giảng dạy, và đồng hành trong các thời kỳ thực tập mục vụ khác nhau diễn ra trong quá trình đào tạo. Vì thế, để hiểu biết rõ hơn về các chủng sinh và dấn thân tốt hơn vào toàn bộ sứ mạng đào tạo, họ tham gia vào các chiều kích đào tạo khác nhau. Cũng thật tốt khi họ tham dự vào việc đào tạo thiêng liêng chung của các chủng sinh.

Các quyết định được đưa ra bằng đa số phiếu và « một khi quyết định được đa số thông qua, mỗi người đều phải phục tùng và tuân theo các quyết định đó, bất kể ý kiến cá nhân của họ là gì[14] ».

Trong các quyết định, với trường hợp ngang phiếu, Hiến pháp của chúng tôi dự kiến rằng Bề trên có thể được quyền hưởng lá phiếu quyết định của mình[15]. Trong thực hành hiện nay, quy định này dường như được vận dụng rất ít. Nó không thể được thực hiện trong trường hợp các cuộc kêu gọi tiến chức, bởi vì nó sẽ dẫn đến việc làm cho Giám mục biết ý kiến cá nhân của Bề trên.

Khi vấn đề là một chủng sinh, cha linh hướng của họ giữ im lặng[16]. Quy tắc này không chỉ có giá trị trong các cuộc họp Hội đồng, nhưng còn trong suốt cuộc đời. Trong trường hợp, với tư cách là một giáo sư, cha linh hướng phải đưa ra ý kiến về công việc trí thức của các con linh hướng của mình, họ làm như vậy trong khi cố gắng giữ tính khách quan nhiều nhất.

Việc thực thi trách nhiệm chung rõ ràng không chỉ giảm thiểu ở các cuộc họp Hội đồng. Tính hợp đoàn trước hết hệ tại sự đồng thuận đối với ý thức về một trách nhiệm chung và sự chia sẻ thường xuyên về một mối quan tâm chung cùng nhau gánh vác. Nó được thể hiện qua sự dấn thân của tất cả mọi người vào sứ mạng, sinh hoạt và đời sống của chủng viện.

Do đó, như một điều kiện thiết yếu, nó đòi hỏi sự hiện diện thường ngày trong đời sống của cộng đoàn và tham gia vào các sinh hoạt khác nhau của cộng đoàn.

Nó cũng đòi hỏi việc phân phối các nhiệm vụ khác nhau, mà một phần tùy thuộc suy nghĩ và quyết định của chính Hội đồng, trong khi vẫn lưu tâm đến khả năng của mỗi người[17]. Rõ ràng nó cũng phụ thuộc vào các cấp có trách nhiệm, có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh (Bề trên giám tỉnh, các Giám mục).

Chia sẻ nhiệm vụ mà thôi thì chưa đủ. Vẫn cần phải thông tin cho nhau về cách thức chúng được triển khai. Do đó, cần có công việc cần thiết trong Hội đồng là thu thập công việc của mỗi người, trao đổi về những khó khăn họ gặp phải và những cải tiến khả thi mà họ nhận thấy.

Kiểu trao đổi này đòi hỏi sự đơn sơ thực sự giữa các thành viên của Hội đồng, cũng như việc tìm kiếm lợi ích chung và sự hợp tác trung thành một cách vô vị lợi. Nó sẽ được thúc đẩy bởi một bầu khí hiệp thông trong sự tin tưởng lẫn nhau vốn được phát triển qua việc chia sẻ đức tin và cầu nguyện. Việc chia sẻ này có giá trị tông đồ giữa các chủng sinh. Trong truyền thống Xuân Bích, tầm quan trọng lớn nhất luôn được gán cho chứng tá hàng ngày của cộng đoàn các nhà giáo dục để khai tâm cho các linh mục tương lai bước vào tinh thần linh mục và gia nhập hàng linh mục.

5- Tương quan với các Giám mục

Chúng ta hãy bắt đầu bằng một nhận xét chung về sự thay đổi đã xảy ra từ vài thập niên qua trong các chủng viện ở Pháp, một sự thay đổi có ảnh hưởng đến mối tương quan với các Giám mục. Việc giảm số lượng chủng sinh ở Pháp đã khiến một số chủng viện phải tập hợp lại, sinh ra các chủng viện liên giáo phận theo luật hoặc trên thực tế. Mặt khác, chủng viện Saint-Sulpice, mở cửa cho bất kỳ ứng viên nào được Giám mục gởi đến, đã mở rộng phạm vi tuyển chọn, theo nghĩa là một số giáo phận đã coi nó là chủng viện quy chiếu của giáo phận của họ. Điều quan trọng là việc mở rộng này tác động đến thành phần của Hội đồng Chủng viện và các giáo phận cụ thể hóa sự dấn thân của mình, trong chừng mực khả năng của mình, bằng cách gửi các thành viên cho Hội đồng. Hội đồng này do đó đa dạng hơn. Ngay từ đầu, Hội Xuân Bích đã sẵn sàng làm việc với các linh mục giáo phận, những người đã chấp nhận khoa sư phạm của Hội, nhận thấy nơi sự hiện diện của họ khả năng làm phong phú lẫn nhau. Ngày nay vẫn vậy. Việc mở rộng cũng được thể hiện qua việc suy ngẫm chặt chẽ với các Giám mục về tất cả những gì liên quan đến đời sống và hoạt động của chủng viện, từ các định hướng sư phạm (ngoại trừ những điểm thiết yếu của truyền thống Xuân Bích) đến việc tuyển dụng giáo sư, bao gồm cả thủ tục bổ nhiệm bề trên và các thành viên khác của Hội đồng.

Chúng ta hãy nhắc lại những nguyên tắc mà, theo các Rationes cả hoàn vũ và quốc gia, chi phối các mối quan hệ giữa các Giám mục và chủng viện của các ngài.

Hội đồng Chủng viện là hội đồng của Giám mục để kêu gọi tiến chức. Do đó không có trung gian giữa Hội đồng và Giám mục. Trong một chủng viện giáo phận hoặc liên giáo phận, chính Giám mục (hoặc các Giám mục) là người thành lập Hội đồng, trong tương quan với Bề trên Giám tỉnh của Hội Xuân Bích khi đó là một chủng viện được giao phó cho Hội; chính dưới trách nhiệm của Giám mục mà dự án đào tạo phù hợp với các Rationes khác nhau, cũng như các điều kiện vật chất và tài chính cho sự vận hành của tổ chức được xác định. Chính từ Giám mục (liên kết với các Giám mục khác trong trường hợp chủng viện liên giáo phận) mà Hội đồng bắt đầu sứ mạng đào tạo của mình và báo cáo cho Giám mục:

- Đầu tiên là bằng cách thường xuyên điểm lại tình hình công việc của mình với ngài. Đối với các chủng viện liên giáo phận (theo luật hoặc trên thực tế), việc này được thực hiện trong các cuộc họp được gọi là theo luật định, trong đó Hội đồng gặp gỡ tất cả các Giám mục coi chủng viện như là chủng viện quy chiếu của các ngài.

- Sau đó là các cuộc họp của bề trên với mỗi Giám mục liên hệ của chủng viện. Mối liên kết này với giáo phận cũng có thể được cụ thể hóa bằng các cuộc họp của bề trên hoặc của toàn thể Hội đồng hoặc của một số thành viên Hội đồng, với các hội đồng của các Giám mục.

6- Sự tham gia của chủng sinh

Mọi thứ cũng đã tiến triển ở cấp độ này từ nhiều thập niên qua. Vào những năm 1970, không thể tưởng tượng được việc một chủng viện hoạt động mà không có cả một bộ máy tổ chức tham gia, với việc bầu chọn các đại diện, các văn phòng, các đại hội nghị, các cuộc họp thường kỳ của các đại diện với Bề trên, hoặc thậm chí với toàn thể Hội đồng. Các thế hệ hiện nay ít thích kiểu hoạt động này hơn. Họ cũng ít đòi hỏi hơn, nhưng sẵn sàng hơn để bước vào một tổ chức được xây dựng sẵn. Đây là một lý do nữa để trao cho các chủng sinh[18] khả năng tham gia vào một cuộc đối thoại thực sự với các nhà đào tạo của mình, thu thập ý kiến của họ liên quan đến việc sắp xếp đời sống cộng đoàn và những cải tiến cần thực hiện để tổ chức hoạt động tốt hơn, cho họ khả năng thực hiện các sáng kiến. Nhiều người trong số họ là những người trưởng thành và đã sống một cách có trách nhiệm. Việc bước vào đời sống cộng đoàn thường khó khăn đối với họ và cần đòi hỏi họ phải cảm thấy mình là một phần của nó.

Cơ bản hơn, các linh mục tương lai phải sống sự suy ngẫm của chính mình về ơn gọi và thừa tác vụ tương lai của mình như một trách nhiệm thực sự trong cuộc đối thoại với Hội đồng qua trung gian của Bề trên. Cách thức mà việc linh hướng được trình bày cho họ trong mối liên hệ của nó với cuộc gặp gỡ của chủng sinh với Bề trên, người truyền đạt cho họ ý kiến của Hội đồng (nói chung, hai lần một năm), mang tính quyết định theo quan điểm này.

Đời sống cộng đoàn, cũng như việc thực tập mục vụ, phải phát triển nơi các linh mục tương lai một sở thích cộng tác trong sứ vụ với toàn thể linh mục đoàn và Giám mục. Đời sống này không thực hiện điều đó một mình, nhưng gắn liền với toàn bộ quá trình đào tạo. Quả thế, chủng viện thực hiện một loạt các mối quan hệ nhằm chuẩn bị cho cuộc sống linh mục giáo phận trong sự cộng tác với các cộng đoàn Giáo hội và linh mục đoàn. Các chủng sinh càng nhận thức rõ ràng hơn về sự liên kết giữa các trách nhiệm khác nhau vốn đan xen trong quá trình đào tạo của họ nhằm phục vụ việc tổ chức hàng linh mục xung quanh Giám mục, họ sẽ càng có hứng thú với cuộc sống trong Giáo hội và công việc hợp đoàn với giáo dân, với các linh mục khác và Giám mục, trong sự tôn trọng các cấp độ trách nhiệm khác nhau.

Ở một số chủng viện, thói quen tham khảo ý kiến cộng đoàn trước khi truyền chức đã trở nên phổ biến. Nó có lợi ích là cho các chủng sinh tham dự vào việc phân định mà Hội đồng chịu trách nhiệm cuối cùng và làm cho họ nhận thức được trách nhiệm mà họ có đối với nhau trong hành trình hướng tới thừa tác vụ linh mục. Nó được thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Đôi khi toàn thể cộng đoàn được tham khảo ý kiến, đôi khi chỉ các chủng sinh ở giai đoạn cuối của quá trình đào tạo ban đầu. Dù bằng phương thức nào, điều quan trọng là cuộc tham khảo ý kiến này diễn ra trong bầu không khí tin tưởng và được hướng dẫn bởi sự quan tâm đến lợi ích của Giáo hội. Khuynh hướng coi Hội đồng như một tổ chức cần phải né tránh, thậm chí cần phải phòng vệ vẫn tiềm ẩn nơi một số chủng sinh, vốn sợ sự nhận xét có thể được đưa ra đối với họ. Việc tham khảo ý kiến, khi được thực hiện tốt, có thể chất vấn về trạng thái tinh thần này.

7- Thực tập mục vụ

Sự tiến triển của việc đào tạo về thừa tác vụ linh mục đã dẫn đến việc « tiến hành đồng thời », theo một cách diễn đạt hiện đã được thừa nhận trong Hội, các chiều kích đào tạo khác nhau, theo nhịp điệu và phương thức thích ứng với từng giai đoạn. Từ đó, việc thực tập mục vụ trong toàn bộ quá trình đào tạo chiếm một vị trí quan trọng hơn.

Ngay cả khi nhất thiết phải là thời gian tĩnh tâm, chủng viện vẫn được sinh động bởi tinh thần truyền giáo. Vào thời điểm mà các chủng viện ít hướng ngoại hơn nhiều, chủng viện Issy-les-Moulineaux đã khai sinh ra những sáng kiến truyền giáo ghi dấu ấn trong lịch sử, chẳng hạn như việc thành lập Dòng Tiểu Đệ Chúa Giêsu vào năm 1933. Ngày nay, việc thực tập mục vụ cho phép mang lại một hình thức cụ thể cho tinh thần truyền giáo vốn làm rõ nét đặc tính mọi chiều kích đào tạo. Nó cũng cho phép trải nghiệm điều gì đó về cuộc sống và sứ vụ của các linh mục. Vì thế, nó là một trợ giúp cho việc phân định, cho cả các chủng sinh lẫn các nhà đào tạo.

Hội đồng Chủng viện tất nhiên phải hướng đến các nhóm mục vụ của giáo phận để đảm bảo sự đồng hành với các chủng sinh trong lĩnh vực này. Không từ bỏ trách nhiệm riêng của mình, Hội đồng tìm cách thúc đẩy trách nhiệm của các đối tác của mình và, trong trường hợp hiện tại, trách nhiệm của các cộng đoàn Giáo hội, các linh mục và giáo dân, những người tiếp nhận các chủng sinh trong thực tập tông đồ và mục vụ. Ở đây, việc đối thoại với đại diện giáo phận là rất quý giá nhằm xác định những nơi thích hợp nhất để tiếp nhận các chủng sinh.

Chất lượng của mối quan hệ giữa Hội đồng Chủng viện và các nhóm mục vụ đòi hỏi sự tin tưởng lẫn nhau và tán thành về nguyên tắc dự án đào tạo tổng thể. Các cuộc họp đều đặn giữa một hoặc nhiều đại diện của nhóm mục vụ và người được ủy thác trong Hội đồng theo dõi chủng sinh này hay chủng sinh kia, trước sự hiện diện của đại diện giáo phận, như được thực hành trong hầu hết các chủng viện, là cần thiết. Chúng cho phép thiết lập sự tin cậy lẫn nhau, hiểu rõ hơn về dự án đào tạo về phía nhóm mục vụ và, về phía chủng viện, hiểu rõ hơn về bối cảnh mục vụ của chủng sinh.

Sẽ rất hữu ích nếu biên soạn một tài liệu nêu rõ trách nhiệm của mỗi người, chỉ ra cho các nhóm mục vụ những gì được mong đợi từ họ cả về mặt đồng hành lẫn về mặt trợ giúp cho việc phân định, và xác định các phương thức can thiệp của họ trong quá trình đề cử kêu gọi tiến chức. Về vấn đề này, khi một nhóm mục vụ được mời gọi đưa ra ý kiến liên quan đến việc truyền chức, họ nên có thể làm điều đó một cách hoàn toàn tự do, và do đó trong sự vắng mặt của ứng viên.

Công việc với giáo dân thường mang tính quyết định. Nó sẽ giúp nhận ra khả năng của các chủng sinh trong việc học hỏi từ giáo dân và cộng tác với họ. Trong quá trình đào tạo mà họ nhận được từ các giáo dân đang có trách nhiệm, họ dần dần nhận thức được tính đặc thù của vai trò linh mục, vai trò này chỉ được triển nở trọn vẹn khi cộng tác chặt chẽ với giáo dân. Ngày nay, đó là một trong những tiêu chí để phân định ơn gọi thừa tác vụ linh mục.

8- Đại diện giáo phận

Việc thành lập các chủng viện liên giáo phận đã gây ra nơi các giáo phận một cảm giác xa cách của chủng viện đối với các thực tại giáo phận. Việc thành lập một chức vụ mới vào những năm 1980, chức vụ « đại diện (hoặc người tham khảo) giáo phận cho việc đào tạo các thừa tác vụ », đã tìm cách khắc phục tạm thời khó khăn này và tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ của mỗi giáo phận với chủng viện. Ngày nay, đó là một tổ chức hoạt động tốt.

Nó rất có lợi, trong chừng mực đại diện giáo phận có thể làm cho hình ảnh của giáo phận trở nên cụ thể hơn đối với chủng viện, nêu rõ những vấn đề mà các chủng sinh có thể tự đặt ra đối với thừa tác vụ tương lai của họ, và thông báo cho chủng viện về một số điều kiện thực tập mục vụ của họ. Theo cách tương tự, đại diện giáo phận có thể làm cho hình ảnh chủng viện trở nên cụ thể hơn đối với giáo phận và làm cho giáo phận nhạy cảm với các điều kiện đào tạo chủng sinh. Do đó, chủng viện có thể giúp đỡ các chủng sinh một cách hiệu quả hơn trong mối quan hệ với giáo phận của họ, bởi vì Hội đồng có nhiều yếu tố cụ thể hơn để lắng nghe họ và hiểu họ tốt hơn.

Vì biết rõ các chủng sinh trong giáo phận của mình, người đại diện có thể là một trợ giúp quý giá cho chủng viện trong sự phân định của chủng viện. Trong một số chủng viện, họ tham gia vào Hội đồng vào thời điểm nhận xét các chủng sinh trong giáo phận của mình. Lúc đó, họ có thể mang lại các yếu tố làm sáng tỏ các đánh giá của Hội đồng, và chính họ có thể được làm sáng tỏ nhờ những nhận xét của các thành viên Hội đồng. Như thế, họ có thể kín đáo tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ của các chủng sinh với chủng viện, nếu cần thiết. Tuy nhiên, họ không tham gia vào việc bỏ phiếu của Hội đồng để giữ trách nhiệm riêng của Hội động. Tuy nhiên, Hội đồng không đưa ra quyết định nếu chưa nghe nhận xét của họ.

Đại diện giáo phận rõ ràng được đặt ở tòa ngoài, trong vai trò tiếp sức, thông tin và liên lạc vốn đòi hỏi nhiều sự kín đáo thận trọng. Họ không được xâm lấn trách nhiệm của Giám mục, của Hội đồng hoặc của vị linh hướng. Chịu trách nhiệm đặc biệt về việc hội nhập các chủng sinh trong giáo phận riêng của chủng sinh, họ có những phương tiện cụ thể, chẳng hạn như tổ chức các cuộc gặp gỡ của các chủng sinh, vốn cho phép các chủng sinh hiểu biết rõ hơn về giáo phận của mình và hội nhập vào đó tốt hơn.

9- Giáo sư ngoại trú

Đã có một thời, từ rất lâu rồi, các Hội đồng Chủng viện đã được cung cấp đầy đủ để đảm bảo về mặt thực tế tất cả các giáo huấn và các tham luận cần thiết cho việc đào tạo. Đây không còn là trường hợp ngày nay. Chắc chắn thật thích đáng khi các chủng sinh được hưởng lợi từ các kiến thức được mang đến từ bên ngoài tổ chức bởi những người có năng lực, những người nam và người nữ, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, tham gia vào việc đào tạo linh mục.

Điều quan trọng là tận dụng tối đa sự hiện diện theo thời gian nhưng đều đặn của những người chấp nhận sự hỗ trợ này. Cho dù họ không có cùng trách nhiệm như trách nhiệm của các thành viên Hội đồng, nhưng họ không chỉ được coi là giáo sư, nhưng còn phải thực sự cảm thấy liên kết với việc đào tạo. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách: trước hết là thông qua các cuộc gặp gỡ, nơi họ được trao cơ hội bày tỏ quan điểm về việc giảng dạy của mình và cách thức họ nhận thấy đời sống trí thức của các chủng sinh, về những quan sát mà họ có thể thực hiện để cải thiện tính năng động trí thức của chủng viện; tiếp đến thông qua một cuộc tham khảo ý kiến cá nhân hơn. Các giáo sư, trong những khóa học của mình, nhận ra được nhiều điều vượt quá khuôn khổ thuần túy trí thức. Đối với Hội đồng, thật tốt để thu thập những ý kiến này, ngay cả khi chúng vẫn còn hạn chế.

10- Kết luận

Do đó, Hội đồng Chủng viện đảm nhận trách nhiệm của mình đối với Giám mục bằng cách đặt mình vào một tổng thể trong đó các trách nhiệm thì đa dạng và phân biệt. Hội đồng có nhiệm vụ thu thập các ý kiến khác nhau, cân bằng chúng theo nguồn gốc và tổng hợp chúng. Hội đồng đưa ra quyết định bằng đa số phiếu dựa trên sự hiểu biết trực tiếp về các ứng cử viên. Cụ thể, Bề trên là người thông báo cho Giám mục về kết quả bỏ phiếu và ý kiến của Hội đồng bằng cách cung cấp cho ngài những yếu tố đánh giá mà Hội đồng có được. Bề trên cũng là người truyền đạt cho ứng viên câu trả lời từ Giám mục của họ.

Việc tôn trọng những trách nhiệm khác nhau liên quan đến việc đào tạo các linh mục tương lai là một nhân tố tự do cho tất cả mọi người. Khi vai trò được xác định rõ ràng, khi mọi người biết mình có thể làm gì mà không lấn sang trách nhiệm của người khác, thì họ sẽ phát huy hết khả năng của mình. Đối với các chủng sinh, sự rõ ràng này trong vận hành là điều cần thiết. Ngay khi nó không còn nữa, sự khác biệt giữa các bài phát biểu của những người hữu trách sẽ tạo ra nơi họ sự lẫn lộn và những câu hỏi về tính hợp thức của các quyết định được đưa ra liên quan đến họ. Sự kín đáo lớn nhất cũng được yêu cầu đối với các vị hữu trách. Mọi điều được nói trong Hội đồng đều hoàn toàn bí mật và không thể tiết lộ, ngoại trừ Bề trên, người duy nhất có tư cách truyền đạt những gì đã được nói ở đó, như chúng tôi đã nhấn mạnh. Tuy nhiên, Bề trên phải làm điều này mà không được tiết lộ những gì mọi người đã nói, nếu không sẽ tạo ra sự nghi ngờ và oán giận.

Sự hợp tác đa dạng để đào tạo các linh mục tương lai mà chúng tôi vừa đề cập đã làm tăng đáng kể công việc của các nhà đào tạo và làm phức tạp quá trình đào tạo rất nhiều. Chủng viện ngày nay đã trở thành một tổ chức mà bộ máy của nó phải được điều khiển một cách tinh tế. Chức vụ bề trên chủng viện không thể tùy hứng được. Công việc của những thập niên gần đây đã tạo nên tổ chức đào tạo như ngày nay. Nó được hướng dẫn bởi một ý định duy nhất: sáp nhập việc đào tạo các linh mục tương lai vào toàn bộ thân thể Giáo hội và thu hút sự tham gia của toàn thể Giáo hội. Để thực hiện ý định này một cách cụ thể, cần phải phát triển nhiều sự hợp tác mới và vận dụng chúng trong tinh thần hợp đoàn, trong đó trách nhiệm của từng thành phần trong tổng thể được tôn trọng. Tại Chủng viện Saint-Sulpice, những thay đổi này được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự kiện là, ngay từ nguồn gốc của nó, tinh thần hợp đoàn và thực tế của việc thực thi trách nhiệm hợp đoàn đã hiện diện như một trong những nền tảng của thực hành sư phạm. Thực hành này cũng được tạo điều kiện thuận lợi bởi một kiểu tương quan với trách nhiệm riêng của các Giám mục vốn chưa bao giờ thay đổi trong suốt dòng lịch sử.

Tuy nhiên, không thể phớt lờ những khó khăn. Hai rủi ro tự nhiên xuất hiện trong tâm trí. Rủi ro đầu tiên là các chủng sinh thấy mình bị giam cầm trong cả một mạng lưới can thiệp, nơi họ cảm thấy liên tục được đánh giá, được chất vấn, được nghiên cứu bởi các đối tác khác nhau của quá trình đào tạo. Một số người trong số họ đôi khi có thể tự đặt ra câu hỏi: làm thế nào để « nín thở qua cầu » trước mối chằng chịt phức tạp này? Rủi ro thứ hai liên quan đến việc điều chỉnh trách nhiệm. Một bộ máy càng phức tạp, thì nó càng có thể bị vướng nhiều hơn; ngay khi một thành phần rời bỏ vai trò của mình để đóng một vai trò khác, thì hoạt động của tổng thể sẽ nguy hại.

Những rủi ro này chỉ có thể tránh được bằng sự tiếp tục tin tưởng lẫn nhau không ngừng. Các chủng sinh phải bước vào quá trình đào tạo với niềm xác tín rằng vấn đề là giúp họ đặt mình trong Giáo hội với tư cách là linh mục, bằng cách làm cho họ hiểu biết và yêu mến Giáo hội, cả trong chủng viện lẫn trong thực tập mục vụ, và bằng cách cho họ nếm trải việc tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo hội. Từ viễn cảnh này, việc đánh giá không chỉ là một phương tiện hữu ích, mà còn cần thiết. Các nhà đào tạo chỉ có thể xem xét nhiệm vụ phân định của mình nhằm đề cử cho lời kêu gọi tiến chức của Giám mục bằng một thái độ cơ bản là nhân từ và khuyến khích. Việc đánh giá nhất thiết phải diễn ra trong quá trình đào tạo. Cần phải có thể trả lời cho câu hỏi mà Giám mục đặt ra trong lễ truyền chức: « Cha có biết Thầy này xứng đáng không? », trừ khi chúng ta biến cuộc đối thoại phụng vụ này thành một hình thức thuần túy. Không có đào tạo thực sự mà không có đánh giá. Bất kỳ chương trình đào tạo nào cũng phải đo lường khoảng cách giữa mục tiêu đặt ra và cách ứng viên tuân thủ mục tiêu đó. Và điều này còn hơn thế nữa vì, trong trường hợp ơn gọi linh mục, chính Thiên Chúa kêu gọi qua Giám mục

Những mối tương quan hàng ngày với các chủng sinh, được sống một cách đơn sơ, có tầm quan trọng lớn lao để thủ đắc và củng cố sự tin tưởng này. Sự tin tưởng này, vốn cho phép làm việc chung, cũng phải được thiết lập trong mối quan hệ với các đối tác đào tạo khác. Nó có thể thực hiện được nhờ những cuộc gặp gỡ, trong đó sự thật có thể được nói ra trong bầu khí huynh đệ, điều này giúp hướng tới việc tôn trọng mỗi người trong trách nhiệm riêng của họ. Hơn bao giờ hết trong Giáo hội, kiểu đối thoại này tỏ ra sống còn.

Cuối cùng, nguy cơ thứ ba gắn liền với bất kỳ tổ chức nào: đối với các chủng sinh, đó là nguy cơ « lướt » qua các bánh xe của tổ chức, quay lưng lại để ít nhiều thoát khỏi những chỗ gồ ghề của nó một cách có ý thức. Rủi ro tương ứng, đối với các nhà đào tạo, là vận hành tổ chức mà không xác thực xem tổ chức đó có tạo ra kết quả tốt đẹp như người ta mong đợi từ nó hay không[19].

Cám dỗ là rất cổ điển. Điều có thể giúp thoát khỏi nó, đó là một xác tín khác rằng mọi việc đào tạo đều đòi hỏi sự hoán cải, đối với cả những người được đào tạo lẫn những người đào tạo. Được đào tạo, đó đồng thời là được tổ chức lại hay được cải tạo. Đó là việc mang một hình thức khác và điều này không xảy ra nếu không có sự trút bỏ, không có sự sửa đổi nội tâm sâu xa. Đối với các nhà đào tạo, việc điều chỉnh đối với các đối tác đào tạo khác, bắt đầu từ các chủng sinh, không thể diễn ra mà không liên tục chất vấn về cách thức họ sống sứ mạng của mình. Có lẽ chính trong thái độ hoán cải này mà họ chứng tỏ rõ nhất cho các chủng sinh rằng ta không là linh mục mà không đồng thời, và trước hết, là Kitô hữu.

V

TỰ DO THIÊNG LIÊNG

ĐƯỢC HIỂU LÀ ƯỚC MUỐN THỰC THI THÁNH Ý CỦA THIÊN CHÚA

 Thành ngữ « tự do thiêng liêng » thường xuất hiện trong các tài liệu liên quan đến việc đào tạo linh mục. Nó rõ ràng không được dành riêng cho các linh mục. Các Thư của thánh Phaolô và các Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng theo thánh Gioan, biến nó thành một trong những yếu tố thiết yếu của mọi đời sống Kitô hữu. Nếu đúng là, từ quan điểm triết học, tự do gắn liền với khả năng đưa ra những lựa chọn hợp lý và dấn thân theo đó, thì tự do thiêng liêng phải được đặc trưng, ít nhất là một phần, bởi khả năng chọn một lối sống vốn dấn thân một người vào xã hội, đồng thời vẫn lưu tâm đến đức tin của họ. Đối với những gì liên quan đến người Kitô hữu, đức tin trong chiều kích trọn vẹn của nó, nghĩa là đức tin trong hành động, hệ tại việc điều chỉnh bản thân theo ước muốn của Chúa Thánh Thần để thực hiện thánh ý của Thiên Chúa. Đó là tham gia tích cực vào công trình của Thiên Chúa trên thế giới.

1- Nền tảng Thánh Kinh

Trong lịch sử Thánh Kinh, Thiên Chúa không ngừng kêu gọi tự do của con người để họ cộng tác với Ngài và trở thành những công cụ tự do để thực hiện hành động của Ngài trong lịch sử. Cũng vậy trong Cựu Ước, đối với tất cả những người được kêu gọi hướng dẫn, dạy dỗ hoặc cảnh báo dân Thiên Chúa. Chẳng hạn, Thiên Chúa phán với ông Môsê: « Khi ngươi ra đi để trở về Ai Cập, ngươi hãy nhìn xem: mọi điều lạ lùng Ta đã ban cho ngươi có quyền làm, thì ngươi sẽ làm trước mặt Pharaô » (Xh 4, 21). Nói rộng hơn, các tác giả Thánh Kinh khẳng định rằng con người có khả năng đưa ra những quyết định tự do và con người phải quyết định trong những lựa chọn của mình đối với Thiên Chúa, đối với các nước láng giềng, đối với mối quan hệ giữa các thành viên của cùng một dân tộc. Hơn thế nữa, Thiên Chúa muốn những con người tự do để tham dự vào Giao ước. Chừng nào còn bị giữ trong nhà nô lệ, con người không thể tự do thờ phượng Thiên Chúa của mình. Đây là lý do tại sao Thiên Chúa đưa họ ra khỏi đất Ai Cập để dẫn đưa họ qua cuộc Xuất hành đến xứ sở tự do.

Tuy nhiên, Thiên Chúa không ép buộc con người. Ngài chỉ ra cho họ một con đường mà Ngài trình bày như là con đường sự sống. Theo chương cuối của sách Đệ Nhị Luật, con người phải lựa chọn giữa sự chết và sự sống. Trước sự cứng lòng của con người, các ngôn sứ thường lên án việc lạm dụng tự do, nguồn gốc của những vi phạm trong lĩnh vực tôn giáo và xã hội. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của con người, đồng thời cho họ thấy rằng có cách sử dụng nó tốt và xấu. Việc sử dụng tốt sự tự do sẽ giải thoát con người khỏi tình trạng nô lệ cho những đam mê của họ để phục vụ Thiên Chúa và anh chị em. Khi con người trở thành nô lệ cho những ham muốn chiếm hữu, cho bạo lực không kiểm soát được của mình, họ gieo rắc sự chết xung quanh mình và rời bỏ con đường sự sống. Họ chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc thực sự của mình trên con đường mà Thiên Chúa chỉ ra cho họ, và con đường này không phải là con đường của những thần tượng mà họ tự tạo ra cho mình, nhưng là con đường mà chính Thiên Chúa mong muốn. Thiên Chúa muốn con người được hạnh phúc, nhưng hạnh phúc này chỉ có thể đạt được bằng cách xây dựng một dân tộc huynh đệ hướng về Thiên Chúa của mình. Trở nên người trọn vẹn, đó là tự do bước vào ước muốn của Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ họ. Đây là lý do tại sao Thiên Chúa ban cho dân Ngài Lề Luật, và trước hết là Mười Điều Răn, để vạch ra đường đi cho họ. Qua những điều cấm của Lề Luật, Thiên Chúa cho thấy ý muốn của Ngài, đó là dân Ngài phải thoát khỏi những ngẫu tượng, khỏi những chiếm hữu vật chất, khỏi những ham muốn tức thời của họ.

Tân Ước không rời bỏ định hướng này, nhưng làm sáng tỏ, đào sâu và nội tâm hóa nó. Chúa Kitô là con người có sự tự do trọn vẹn vì nó là sự hiệp thông hoàn toàn với ý muốn của Cha Người. Nơi Người, sự vâng phục và tự do được dung hòa, điều xem ra mâu thuẫn trong mắt nhiều người. Nơi Người trái tim con người hòa hợp nên một với trái tim của Thiên Chúa để yêu thương; hơn thế nữa, vì Người là Con Một của Chúa Cha, nên trái tim nhân loại của Người chính là trái tim của Thiên Chúa. Đối với thánh Phaolô, đặc biệt trong các Thư gửi tín hữu Rôma và Galát, những người đã được rửa tội, được cứu độ và được giải thoát, đã nhận được luật mới, « luật của Thần Khí » vốn không gì khác hơn chính ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng thúc đẩy tâm hồn con người để họ điều chỉnh cho phù hợp với Người. Kết hiệp với Chúa Kitô, con người được mời gọi yêu thương, đến nỗi tự do được đồng hóa với lòng bác ái. Được giải thoát khỏi sự gắn bó với chính mình, con người có thể hướng về Thiên Chúa và anh em mình để yêu thương họ trong Thiên Chúa : « Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là ​đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: ​Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình » (Gl 5, 13-14).

Như vậy, được giải thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, vốn luôn là sự thiếu đức tin, sự vị kỷ và thiếu tình yêu đối với tha nhân, cũng như được giải thoát khỏi nỗi sợ tử thần, giờ đây đã bị Chúa Kitô đánh bại, chúng ta cũng được giải thoát khỏi ách của Lề Luật, vốn chỉ rõ sự dữ, nhưng không mang lại hương vị và sức mạnh để đánh bại nó. Giờ đây, Chúa Thánh Thần ở trong chúng ta để lan tỏa trong tâm hồn chúng ta tình yêu của Thiên Chúa, vốn mang lại cho chúng ta niềm vui yêu thương và nhờ đó thực hiện sự thiện. Vào Lễ Ngũ Tuần, người Do Thái cử hành hồng ân Lề Luật trên núi Sinai; các Kitô hữu cử hành hồng ân Thánh Thần, một luật mới và nội tâm gợi hứng cho những hành động bác ái trong tâm hồn con người.

2- Những hệ quả đối với việc đào tạo linh mục; một số xác tín

a) Sự tự do hoàn toàn và trọn vẹn

Từ hạn định “thiêng liêng” không làm mất đi tính đích thực của sự tự do nơi con người. Ngược lại, Chúa Thánh Thần hoạt động ngay giữa sự tự do của con người để giúp họ đạt được sự tròn đầy trong việc hiến thân cho Thiên Chúa và tha nhân. Ân sủng này của Thánh Thần hoàn thiện tự nhiên mà không thay thế nó. Việc đặt mình phục vụ Thiên Chúa và anh em mình đòi hỏi khả năng lựa chọn và khả năng mở ra cho tha nhân, vốn là những đặc tính của tự do. Khi nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thủ đắc được sự trưởng thành nhân bản đủ, các Rationes gần đây nhất nhấn mạnh rằng ơn gọi linh mục chỉ có thể được gửi đến những người tự do dâng hiến chính mình.

Nhiều cản trở có thể kìm hãm sự phát triển quyền tự do của ứng viên. Áp lực của gia đình, hoặc về gia đình, luôn có thể đóng một vai trò, hoặc ảnh hưởng của một linh mục mà người ta đã được đồng nhất hóa, nhưng không thực sự noi theo tấm gương của vị linh mục đó. Ảnh hưởng của các trào lưu trong Giáo hội mang lại cho chức linh mục thừa tác một hình ảnh không đúng lắm theo quan điểm thần học, bằng cách trình bày một cách không đầy đủ chức tư tế của người đã được rửa tội và chức tư tế của các linh mục. Ý tưởng rằng làm linh mục thì tốt hơn « vẫn là » giáo dân; nơi các bạn trẻ quảng đại, ý tưởng này có thể dẫn đến những hành xử duy ý chí vốn nuôi dưỡng một hình ảnh về linh mục như một con người ở trên quần chúng. Đây không phải là vấn đề phủ nhận lòng quảng đại đóng một vai trò quan trọng trong việc dấn thân vào chức linh mục; nhưng cần phải biết ta đang nói về sự quảng đại nào: sự quảng đại khiến ta coi đời sống thiêng liêng như một loạt kỳ tích ngày càng khó thực hiện? Sự quảng đại này tạo ra sự lo lắng và bất mãn. Hay là lòng quảng đại xuất phát từ một trái tim được Chúa Thánh Thần biến đổi? Lòng quảng đại này mang lại bình an. Một điều cản trở khác đối với tự do là điều đã quyết định một lần cho tất cả rằng chức linh mục phải được thực thi theo cách này, chứ không phải theo cách khác. Thái độ này tạo ra những hành xử rập khuôn vốn ngăn cản chúng ta đón nhận và quan tâm đến những hoàn cảnh phức tạp mà các linh mục thường xuyên phải đối mặt.

Được tự do, đó rõ ràng không phải là như một chiếc chong chóng để cho mình bị cuốn theo mọi chiều gió. Tự do đích thực đòi hỏi đã có được một số xác tín cho phép là chính mình và định vị mình trong cuộc sống với một sự cương nghị nào đó. Nó cũng đòi hỏi sự hiểu biết về người khác và khả năng để cho bản thân được giáo dục, điều chỉnh hành vi của mình cũng như quan tâm đến những tiến triển có thể của người đối thoại. Một thái độ mục vụ đúng đắn được tạo nên từ cả sự cương nghị lẫn khả năng đồng cảm này. Nhiều linh mục ban đầu cư xử khá cứng nhắc đã để mình được giáo dục qua thừa tác vụ và trở thành những mục tử tốt. Theo nghĩa này, không được nhầm lẫn niềm xác tín mạnh mẽ với sự chắc chắn áp dụng nó vào sự hoàn hảo. Thể hiện niềm xác tín không bao giờ là từ chối người khác, chứ đừng nói đến việc coi thường họ hoặc không lắng nghe họ. Nói cách khác, tự do đích thực không phải là không liên quan đến sự khiêm tốn và hiền lành.

Các nhà đào tạo của chủng viện biết sự khó khăn trong việc phân định giữa sự khẳng định căn tính vốn để cho mình được giáo dục bằng kinh nghiệm và sự khẳng định vốn bị neo chặt trong sự cứng nhắc khó có thể cải tạo. Ở đây, có sự khác biệt giữa một thái độ vốn được giải thích bởi những khó khăn của thừa tác vụ ngày nay cũng như những nỗi sợ hãi mà nó có thể khơi dậy một cách chính đáng, và một thái độ sâu xa hơn nhiều, gắn liền với một trạng thái tâm lý vốn cản trở khả năng tiến triển.

Một cản trở khác có thể xảy ra đối với sự tự do của ứng viên là do chính ước muốn của họ. Ở đây chúng ta chạm đến một vấn đề rất tế nhị và luôn gây tranh cãi, cả từ quan điểm thần học lẫn quan điểm phân định cụ thể. Một mặt, Giáo hội luôn coi trọng ước muốn, còn được gọi là sự lôi cuốn hay sở thích, trong vấn đề ơn gọi. Mối quan tâm này chính là do mối ưu tư của Giáo hội muốn thấy những người sẽ phục vụ mình dấn thân một cách tự do vào việc phục vụ này, và điều này không chỉ vì không bị ép buộc, mà còn vì sự năng động vốn là đặc điểm của sự tự do của một người khi họ ở đúng vị trí của mình, trong ơn gọi của mình, hạnh phúc hiến dâng chính mình. Mặt khác, Giáo hội luôn mạnh mẽ khẳng định rằng không ai tự ban cho mình ơn gọi của mình, nhưng chính Giám mục là người kêu gọi. Trong suốt lịch sử, một số người đã nhấn mạnh đến chiều kích thứ nhất (không ai có thể được truyền chức trái với ước muốn của họ) và những người khác nhấn mạnh đến chiều kích thứ hai (chính Giáo hội kêu gọi, tùy theo nhu cầu của mình). Cuộc tranh luận Lahitton-Branchereau (1909-1912) là một trong những hóa thân cuối cùng vang dội nhất của nó, nhưng cuộc tranh luận luôn tồn tại. Chúng tôi không có tham vọng xóa bỏ nó. Chúng tôi chỉ muốn nhắc lại rằng ước muốn chỉ là một tiêu chí ơn gọi nếu nó tự do. Và ta được tự do khi ta có thể để người khác chất vấn ước muốn của mình. Trong trường hợp ơn gọi linh mục, trước tiên vấn đề là để ước muốn của mình tuân theo những người đề cử ứng viên cho việc truyền chức, và tiếp đến là người có thể truyền chức linh mục, tức là Giám mục. Người không chấp nhận phục tùng ước muốn của mình như thế là tù nhân của nó. Chính họ muốn « dựa vào mình ». Họ tự mình đánh giá chất lượng ước muốn của mình. Tuy nhiên, ước muốn chỉ được tự do khi nó gặp gỡ sự chấp nhận của Giáo hội, khi Giáo hội tự đảm nhận nó để chứng thực nó. Khép kín nơi ước muốn riêng của bản thân không phải là dấu hiệu của tự do. Chính cùng một Chúa Thánh Thần đang hoạt động nơi các ứng viên linh mục và nơi Giáo hội kêu gọi. Hai cấp phân định này đều muốn phục tùng Chúa Thánh Thần. Cuộc đối thoại liên tục của họ, trong suốt quá trình đào tạo, là một bảo đảm cho việc tìm kiếm tốt hơn ý muốn của Chúa từ cả hai phía.

Cũng theo nghĩa đó, nên xem xét các « dự án » mà các chủng sinh đôi khi soạn ra, vào những thời điểm khác nhau trong quá trình đào tạo của họ, tùy theo các chủng viện, nhờ đó họ tiếp tục dấn thân trên con đường thừa tác vụ linh mục. Phương tiện sư phạm này được sử dụng trong một số chủng viện là một công cụ đối thoại tuyệt vời giữa các chủng sinh và Hội đồng chủng viện. Nó cho phép các ứng viên diễn đạt bằng ngôn ngữ cá nhân tất cả những gì họ đã trưởng thành trong thời gian đào tạo, tất cả những gì làm cơ sở cho ước muốn của họ, và đồng thời cách thức họ mong muốn sống nó, tùy vào những điều kiện của thừa tác vụ ngày nay và tùy vào những gì chính họ là. Để được phong nhiêu, việc soạn thảo « dự án » này đương nhiên phải nằm trong một dự án rộng lớn hơn : dự án của Giáo hội; và chính « dự án » này không phải là sự thể hiện ý chí cá nhân đang tìm cách tự áp đặt; linh mục chỉ là linh mục với những người khác, trong một dự án chung được phát triển với sự cộng tác của một Giám mục và liên tục được đánh giá lại tùy vào sự tiến triển của những điều kiện của đời sống Giáo hội trong một xã hội đang biến động.

b) Sự tự do được thủ đắc dần dần, trong suốt cuộc đời

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa không ngừng dẫn dân Ngài trở lại sa mạc để thanh tẩy họ khỏi lỗi lầm và dìm họ lại vào sự trong sáng của tình yêu ban đầu. Bởi vì dân nhanh chóng trở nên nhiệt tình với những công trình của Thiên Chúa khi chúng biến họ thành một dân thế lực và mạnh mẽ, nhưng họ lại thiếu niềm tin vào Ngài khi mối đe dọa từ các dân xung quanh trở nên cấp bách; họ không lắng nghe lời của các vị ngôn sứ đích thực và tin tưởng hoặc là vào sức mạnh quân đội của mình, hoặc là vào sự bảo vệ của các quốc gia mạnh hơn. Nhưng cả khi mọi việc được ổn, dân lại sa vào hư hỏng; lúc đó họ trở thành kẻ ngoại tình, theo hình ảnh được sử dụng phổ biến nhất trong Thánh Kinh. Trong Tân Ước, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã gặp khó khăn thế nào trong việc giáo dục các môn đệ của mình. Trước khi sống lại, Người đã không thành công trong việc tách họ ra khỏi hình ảnh chính trị về Đấng Mêsia, như một người chỉ chiến thắng bằng cách nắm giữ quyền lực. Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu thực sự là một sự suy sụp đối với họ. Chỉ sự phục sinh mới cho phép họ hòa nhập nỗi đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu vào cách nhìn của họ về đức tin. Những người này thiếu tự do đối với việc đón nhận sự mới mẻ mà Chúa Giêsu mang lại, vốn đã đảo lộn các kế hoạch, lối sống và tương lai mà họ đã dự kiến. Vì vậy, họ trải qua những giai đoạn kế tiếp nhau, vốn rất nhiều thử thách, đối với họ, về sự gắn bó với Chúa Kitô.

Sự tiến bộ trong đời sống thiêng liêng tỷ lệ với sự tiến bộ trong tự do. Sự tự do trong Thánh Thần thực sự đạt tới đỉnh cao nơi Chúa Kitô tôi tớ, Đấng hiến mạng sống mình cho thế giới. Chính trên thánh giá mà Chúa Kitô trao phó Thần Khí cho Chúa Cha trong sự hiệp thông hoàn toàn với Ngài, trong khi sự sống nhân loại của Người được hoàn tất, được dẫn dắt dưới sự hướng dẫn của chính Thần Khí này. Chính ở đó mà Người thực hiện một cách hoàn hảo ơn gọi của con người là yêu thương bất chấp tất cả, ngay tại trung tâm của lòng hận thù tuôn ra chống lại Người.

Chỉ có những vị tuẫn đạo mới xích lại gần được phần nào sự thánh thiện và tự do này, và cả những người, không phải là những vị tuẫn đạo theo nghĩa chặt chẽ của từ này, tiêu hao mạng sống của mình cách vô vị lợi để phục vụ anh em mình, những người mất mạng sống, như Tin Mừng nói, thì mới thực sự có được nó. Khi thừa tác vụ tiến triển tốt đẹp, khi có thành công, linh mục có thể bị cám dỗ nghĩ rằng thành công chỉ nhờ vào khả năng mục vụ của mình và quên mất lời cầu nguyện xung quanh mình, quên mất sự chuẩn bị mảnh đất bởi những người tiền nhiệm, những hoàn cảnh thuận lợi và cả sự kiện rằng khả năng của mình đã được Thiên Chúa ban cho qua nhiều trung gian nhân loại. Khi thất bại xảy đến, thật khó để đảm nhận nó, thật khó phân tích hành động mục vụ của mình để đặt vấn đề về nó, nhận ra những thiếu sót của mình, và nhất là thừa nhận rằng khó khăn đó là một phần của chính việc loan báo Tin Mừng. Linh mục nào tưởng tượng rằng tất cả các cánh cửa sẽ mở ra, đều có thể cảm thấy chán nản khi thấy một số cánh cửa đóng lại và nhiều cánh cửa chỉ hé mở một ít. Sự kết hợp giữa thất bại và việc đặt vấn đề theo sau là đặc điểm của sự tự do trưởng thành trong đức tin, qua kinh nghiệm biết được rằng môn đệ không hơn Thầy.

Những cám dỗ khác cũng có thể xuất hiện: cám dỗ chinh phục các tâm hồn bằng sự quyến rũ, bằng sự khép mình nơi các nhóm nhỏ nồng nhiệt và niềm nở đối với các linh mục « có cuộc sống rất khó khăn ». Các linh mục dễ dàng trở thành trung tâm của những nhóm nhỏ này, vì họ cũng có nguy cơ trở thành như thế của các mạng lưới này trong việc liên lạc thường xuyên nhờ điện thoại di động. Vấn đề không phải là biến sự thất bại tông đồ thành đỉnh cao của thừa tác vụ, cũng không phải là bác bỏ những phương tiện mà xã hội chúng ta có sẵn cho chúng ta sử dụng để loan báo Tin Mừng. Do đó, chúng ta có thể rơi vào một thứ bệnh trạng không lành mạnh hoặc đi đến chỗ từ chối tính hiện đại một cách thiếu thông minh. Nhưng cần phải nhớ rằng một điều gì đó của Gioan Tẩy Giả phải lưu lại nơi mọi linh mục: điều chúng ta tìm kiếm không phải là sự thành công của chúng ta, mà là sự đón nhận Chúa Kitô bởi những người mà chúng ta loan báo Người: « Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại ». Sự phong nhiêu của hoạt động mục vụ được đo lường bằng việc người ta cuối cùng gắn bó với Chúa Kitô hơn là với các thừa tác viên của Người. Tử tế đón nhận các linh mục nối tiếp nhau trong trách nhiệm đối với một cộng đoàn là một trong những dấu chỉ của sự phong nhiêu này. Việc người ta biết ơn các linh mục vì những phục vụ mà các ngài đã làm đối với họ là điều hoàn toàn bình thường; việc họ giữ tình bạn đích thực với các ngài thường là rất lành mạnh. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng sự gắn bó với Chúa Kitô của những người mà linh mục chịu trách nhiệm cũng được thực hiện qua sự không dính bén của người môn đệ. Thánh Gioan Tẩy Giả đã tìm thấy niềm vui của mình trong cuộc gặp gỡ của Chúa Kitô với dân của Người, trong sự kết hợp giữa Chàng Rể và Hiền Thê mà ngài là chứng nhân và là tác nhân đặc quyền. Các linh mục tìm thấy niềm vui trong sự cô tịch gắn liền với thừa tác vụ và sự phong nhiêu của nó. Gioan Tẩy Giả đã có được sự tự do rút lui này khi cuộc gặp gỡ diễn ra; ngài đã có được sự tự do không giữ lại các môn đệ của mình và hướng họ đến với Chúa Kitô. Ngài biết rằng vai trò của ngài là vai trò của một người lái đò, của một người truyền đạt chứng tá, vốn phải xóa mình đi, đằng sau Đấng mà ngài đã tuyên xưng rằng chính Người là Chiên Thiên Chúa.

c) Một tiến trình gắn bó với Chúa Kitô và từ bỏ chính mình

Từ những gì chúng ta vừa nói, khoa sư phạm của các chủng viện sẽ vừa là khoa sư phạm gắn bó với Chúa Kitô vừa là khoa sư phạm từ bỏ chính mình và tất cả những gì có thể kìm hãm sự tiến bộ trong sự tự do thiêng liêng. Nhưng rõ ràng chúng ta không thể từ bỏ mình một cách lâu dài và sâu xa nếu không gắn bó với Đấng mà chúng ta dâng hiến mạng sống, vì Người đã hiến mạng sống vì chúng ta. Không ai có thể giữ vững trong cuộc sống mà không có tình yêu. Cuộc sống không chỉ được xây dựng trên việc thủ đắc các hành vi bị gò bó. Tình yêu làm sinh động cuộc sống phải tương xứng với sự từ bỏ được đòi hỏi và có thể biện minh cho chúng. Khoa sư phạm của một chủng viện không thể được đánh giá chỉ dựa trên tính nghiêm túc của các quy định của nó. Trước tiên, nó được đánh giá cao về đức ái và lòng nhiệt thành đang hiện diện ở đó.

Sự ngoan ngoãn đối với Chúa Thánh Thần được lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội, được đổi mới liên tục trong lời cầu nguyện và việc lãnh nhận các bí tích, được thúc đẩy bởi ước muốn đối với thừa tác vụ, thực sự sẽ gợi hứng cho những hành vi của đức ái, vốn là công trình của ân sủng trong chúng ta mà chúng ta cộng tác. Đó thực sự là nền tảng của sự phân định thiêng liêng đối với ứng viên linh mục cũng như đối với bất kỳ Kitô hữu nào: liệu ước muốn đối với chức linh mục có dấn thân họ vào một đức ái cụ thể ngày càng lớn hơn đối với Thiên Chúa và anh chị em, được sống trong sự năng động của điều mà thánh Inhaxiô Loyola gọi là « niềm an ủi »? Chỉ từ đó mà chúng ta mới có thể cảm nhận được tính xác thực thiêng liêng của một ước muốn và một dự án cuộc đời.

Quá trình trọng yếu này huấn luyện các ứng viên linh mục sống quá trình đào tạo của họ bằng cách sống như họ là, bởi vì họ sẵn sàng để những người đào tạo cũng như những người cùng với họ đang chuẩn bị cho thừa tác vụ, can thiệp vào cuộc sống của họ. Ước muốn sâu xa nhất của họ là để đức ái phát triển nơi mình để trở thành những người phục vụ tốt hơn. Theo nghĩa này, việc phó thác ước muốn trong tay Thiên Chúa thông qua sự trung gian của Giáo hội không hề dẫn đến việc làm suy yếu ước muốn. Ngược lại, nó thanh luyện ước muốn để không tập trung vào chính mình nhưng mở ra cho ước muốn của Giáo hội và để mình được bao bọc trong một ước muốn cơ bản và rộng lớn hơn: sự gia tăng của đức ái.

Sự phân định được thực hành trong việc đồng hành cá nhân có tầm quan trọng lớn lao trong viễn cảnh này. Nó cho phép mỗi người nhận ra sự phong phú và khó khăn của chính mình thông qua những thăng trầm trong lịch sử cá nhân của họ. Nó cũng cho phép hiểu rõ hơn làm thế nào ân sủng hoạt động nơi họ bằng cách dần dần biến đổi nhân tính của họ. Mỗi người chắc chắn sẽ gặp phải những trở ngại trong quá trình tiến bộ của mình. Đôi khi những trở ngại này sẽ khó vượt qua nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài. Vì nếu ân sủng hoàn thiện tự nhiên, thì tự nhiên không được quá yếu đuối để ân sủng có thể thực hiện công việc của mình. Có những trường hợp ân sủng có thể giúp sống một hoàn cảnh cá nhân phức tạp, nhưng không vì thế mà làm cho nó biến mất. Thiêng liêng không thay thế tự nhiên. Khi tự nhiên cần được « sửa chữa », cần phải có can đảm để tìm đến những người biết cách làm điều đó. Nếu không, chúng ta sẽ mang theo mình những khó khăn tương quan trong thừa tác vụ, vốn sẽ không ngừng cản trở việc thực thi đúng đắn của mình.

Tự do không thể đạt được mà không có từ bỏ. Bản thân việc đồng hành thiêng liêng bao gồm một sự từ bỏ thực sự, một sự khổ chế. Phơi bày bản thân dưới cái nhìn của người khác, nhằm phân định ơn gọi của mình, mà mình được giải thoát do chính sự kiện đó, sẽ dẫn đến sự tự do luôn lớn lao hơn. Vẫn phải quan niệm việc đồng hành như là nơi mà ân sủng hoạt động trong một nhân tính chấp nhận phơi bày bản thân, chứ không phải như là một cuộc trò chuyện dễ chịu trong đó người ta tránh mạo hiểm trên con đường đặt lại vấn đề.

Trong cuộc hành trình dài và đôi khi trắc trở này, việc đảm nhận trách nhiệm cá nhân của ứng viên thừa tác vụ đối với sự tiến triển của chính mình là một trong những dấu hiệu của việc dần dần thủ đắc được sự tự do thiêng liêng. Theo cách thức họ có sáng kiến về chủ đề các cuộc gặp gỡ với người đồng hành của mình, trong đó họ tự vấn bản thân dựa trên các sự kiện trong cuộc đời mình, chúng ta nhận ra một người ngày càng trở nên tự do và có trách nhiệm hơn đối với sự tiến bộ thiêng liêng của mình.

d) Trong sự tin tưởng và trách nhiệm

Việc đề cử một ứng viên để Giám mục kêu gọi là kết quả của nhiều năm đối thoại giữa ứng viên và các nhà đào tạo của họ. Để có hiệu quả, như chúng tôi đã chỉ ra, cuộc đối thoại này phải diễn ra trong sự tin tưởng. Nếu ứng viên chỉ coi Hội đồng là một cấp phán xét, thì họ sẽ có xu hướng giữ khoảng cách, không thổ lộ tâm tình và dấn thân vào một mối quan hệ mà tuy nhiên có thể có lợi cho họ. Trái lại, nếu họ coi Hội đồng là sự giúp đỡ để cho phép họ tiến bộ về phẩm chất ước muốn trở thành linh mục của họ, họ sẽ biết đón nhận một cách đơn sơ những nhận xét sẽ được đưa ra cho họ, bao gồm cả những nhận xét tích cực, và họ sẽ có một cuộc đối thoại thực sự với Hội đồng trong cuộc sống hàng ngày (trừ phi sự phân biệt giữa tòa trong và tòa ngoài). Về phần mình, Hội đồng sẽ không ưu tiên cho phán quyết mà cuối cùng Hội đồng phải đưa ra đối với ứng viên để đề cử họ hay không với Giám mục (tuy nhiên, điều này vẫn là sứ mạng tối hậu của Hội đồng), nhưng dành sự giúp đỡ mà Hội đồng phải mang lại cho ứng viên để xác minh và hoàn thiện phẩm chất ước muốn của họ. Vì thế, lòng khoan dung sẽ là thái độ đầu tiên của các nhà đào tạo. Thế nhưng lòng khoan dung khơi dậy sự tin tưởng. Trong bầu khí này, một cuộc đối thoại có thể được thiết lập trong đó ứng viên sẽ không cảm thấy bị tấn công vì thiện chí của mình, cũng như Hội đồng không cảm thấy bị nghi ngờ về thẩm quyền của mình, nếu ít nhất cuộc đối thoại diễn ra trong sự thật. Lòng khoan dung của quyền bính khơi dậy sự công nhận vai trò của nó, và sự tin tưởng của ứng viên tạo điều kiện thuận lợi cho những lời nói chân thật, đơn sơn và thẳng thắn của quyền bính. Sự tự do được thiết lập trong các mối quan hệ.

Để chu toàn trọn vẹn vai trò của mình, cộng đoàn giáo dục phải tự mang lại cho mình một khuôn khổ sống vốn đòi hỏi sự gắn kết của tất cả mọi người. Khuôn khổ này trước đây được gọi là « quy chế ». Ngày nay, người ta nói nhiều hơn về « hiến chương chủng viện[20] ». Sự gắn kết của cộng đoàn đào tạo phụ thuộc một phần vào sự tôn trọng khuôn khổ sống này bởi mỗi người. Tự do không hệ tại có thể thoát khỏi những ràng buộc của một quy chế hoặc một hiến chương tùy theo sở thích hoặc nhu cầu cá nhân tức thời của một người. Tự do không phải là chủ nghĩa cá nhân, nhưng trái lại là khả năng làm thành cộng đoàn với những người khác trong một tổng thể các quyết định được tự do đồng thuận để cho phép cộng đoàn tồn tại như một cộng đoàn. Trong một chủng viện, cộng đoàn không nên là nơi mà người ta buộc phải thông qua nếu muốn trở thành linh mục và là nơi người ta sẽ sắp xếp cuộc sống cá nhân của mình với càng ít ràng buộc càng tốt. Ngược lại, cộng đoàn phải là nơi học biết về « linh mục đoàn giáo phận », thúc đẩy việc tìm kiếm cùng nhau nhắm đến việc thực thi thừa tác vụ được thích ứng với những điều kiện hiện tại của Giáo hội trong xã hội. Do đó, nó phải biết luân phiên nhau những địa điểm và thời gian cô tịch, thinh lặng, vốn cho phép hội nhập cá nhân giữa giảng dạy và kinh nghiệm, cũng như những địa điểm và thời gian gặp gỡ và trao đổi vốn cho phép đối diện giữa các quan điểm. Nói cách khác, cần phải coi cộng đoàn không phải là điều cản trở trong việc thể hiện đời sống cá nhân của mình, nhưng là điều cho phép chuẩn bị cho thừa tác vụ sắp tới. Từ viễn cảnh này, cộng đoàn không còn được sống như là một ràng buộc. Ngược lại, nó trở thành một nhân tố của tự do.

Về vấn đề này, điều quan trọng là các chủng sinh phải được tham dự vào việc thiết lập hiến chương chủng viện, để họ có thể đưa ra ý kiến của mình về vấn đề đó, nói cách khác để họ tiếp cận được trách nhiệm thực sự liên quan đến đời sống của chính cộng đoàn, mà không tổn hại đến thẩm quyền của các nhà đào tạo. Ở đây, một lần nữa, sự tin tưởng lẫn nhau, ý thức trách nhiệm của cả người đào tạo lẫn người được đào tạo có thể tạo ra sự cộng tác hiệu quả mang lại cho cộng đoàn sự năng động thực sự và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sự tự do được thực hiện trong trách nhiệm.

------------------------------------------------------------------

[1] Ratio Fundamentalis Institutionis sacerdotalis (RFIS) mới, được Đức Thánh Cha Phanxicô ký vào ngày 8 tháng 12 năm 2016, mời gọi có sự thay đổi trong cách “thường” gọi các chu kỳ đào tạo ở chủng viện. Đối với giai đoạn nghiên cứu triết học, bản văn nói đến “giai đoạn đào tạo người môn đệ”. Sự thay đổi này nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì được nói ở đây.

[2] Cf. RFIS số 35 : Chúa Kitô là Đầu, Mục Tử, Tôi Tớ và Hôn Phu.

[3] Pastores dabo vobis, số 60.

[4] Cf. RFIS 132.

[5] Cf. Cv 1, 14 ; perseverantes unanimiter.

[6] Presbyterorum ordinis, 8.

[7] Bộ Giáo luật, điều 239 § 2.

[8] « Trong việc quyết định chấp nhận các chủng sinh tiến chức hoặc sa thải họ khỏi chủng viện, không bao giờ được hỏi ý kiến của vị linh hướng và các cha giải tội » ; ibid., điều 240 § 2.

[9] Cf. RFIS 189.192-196 về việc nhờ đến « khoa y học và tâm lý ».

[10] Hiến pháp, điều 129.

[11] Ibid., 128, 137.

[12] Được gọi, theo truyền thống Xuân Bích, là « Giám đốc (directeur) của [chủng viện] », khác với các cha giáo (directeurs) chủng viện.

[13] Ngoại trừ giáo dân.

[14] Hiến pháp, điều 130c.

[15] Hiến pháp, điều 130d.

[16] Hiến pháp, điều 135.

[17] Cf. RFIS 136-137 : « Trong số các vị linh hướng, một trong số họ sẽ là « người điều phối chiều kích thiêng liêng ». (…) một trong các nhà đào tạo sẽ thực thi trách vụ « người điều phối đào tạo nhân bản ». (…) một trong các nhà đào tạo sẽ là « người điều phối chiều kích trí thức ». (…) Trong số các nhà đào tạo, « người điều phối chiều kích mục vụ » sẽ chăm lo việc đào tạo mục vụ, lý thuyết và thực hành. »

[18] Cf. RFIS 129 : « Mỗi chủng sinh (…) là nhân vật chính trong quá trình đào tạo của mình. »

[19] RFIS 58 : « Vào cuối mỗi giai đoạn, điều quan trọng là phải xác thực xem liệu các mục tiêu riêng cho giai đoạn giáo dục đó có đạt được tốt hay không. »

[20] Cf. RFIS 10. « Hiến chương chủng viện » là một thành phần của một tài liệu rộng lớn hơn, vốn là « Dự án đào tạo » của chủng viện.