Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Cha Jean-Jacques Olier Và Việc Xây Dựng Đời Sống Nội Tâm

Hội Linh Mục Xuân Bích, qua đấng sáng lập của mình, cha Jean-Jacques Olier (1608-1657), ngay từ đầu đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đời sống nội tâm[1]. Ngài đã thiết lập hai lễ đặc biệt, Lễ Đời sống nội tâm của Đức Maria (22/10) và Lễ Đời sống tội tâm của Chúa Giêsu (19/1), để thúc đẩy linh đạo này. Đối với ngài, việc sống các mầu nhiệm của Chúa Giêsu ở bên ngoài mà thôi thì chưa đủ, cần phải sống từ nội tâm, tức là hiệp thông với Chúa Giêsu, như Chúa Giêsu đã sống các mầu nhiệm của Người trong sự hiệp thông với Chúa Cha, nhờ Chúa Thánh Thần. Cũng thế, cha Olier đã mời gọi xây dựng đời sống nội tâm với Đức Maria, vì Mẹ đã hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu, và do đó, là con đường dẫn đến hiệp thông với những tâm tình của Người.

Đời sống nội tâm của Đức Maria

Cha Olier đã diễn tả đời sống nội tâm của Đức Mẹ bằng một lời cầu nguyện ca ngợi mối quan hệ mật thiết giữa Đức Maria và Con của Mẹ : « Ôi Chúa Giêsu sống trong Mẹ Maria, xin ngự đến và sống trong tôi tớ Ngài, trong tinh thần thánh thiện, trong sung mãn quyền năng, trong hoàn hảo đường lối, trong chân thật nhân đức, trong hiệp thông mầu nhiệm Chúa. Xin Chúa thống trị mọi quyền lực quân thù, nhờ Thánh Linh Ngài, cho Vinh Danh Chúa Cha muôn đời [2] ». Lời nguyện này diễn tả đời sống nội tâm sâu xa của Đức Mẹ, và qua đó bộc lộ đường hướng căn bản sư phạm thiêng liêng sâu xa của cha Olier đối với đời sống Kitô hữu: để cho Chúa Kitô cư ngụ và sống trong chúng ta, làm cho chúng ta thấm nhuần các tâm tình của Chúa, ước muốn của Chúa, sức mạnh của Chúa, các nhân đức của Chúa, và sau cùng Thánh Thần của Chúa, ngõ hầu mọi hành động của chúng ta đều được hoàn thành trong Chúa. Lời nguyện này mượn lại từ cha Charles de Condren, nhưng cha Olier đã để lại một dấu ấn cá nhân quyết định, vì cha de Condren không nói về Đức Mẹ. Việc cha Olier gợi lên Đức Trinh Nữ Maria và cuộc sống của Chúa Giêsu nơi Mẹ cho thấy mối hiệp thông liên kết chặt chẽ giữa Mẹ và Chúa Giêsu, xác tín rằng Mẹ là người đầu tiên đã đón nhận Ngôi Lời, trước tiên qua đức tin, tiếp đến nơi thân xác của Mẹ cũng qua đức tin. Mẹ là người đầu tiên đã phó thác cho Chúa Thánh Thần. Mẹ là người đầu tiên đã hiệp thông với các mầu nhiệm của Chúa Giêsu và cũng là người đầu tiên đã chia sẻ cách sâu xa tâm hồn hướng về Cha của Chúa Giêsu. Nói cách khác, vì là Mẹ Thiên Chúa, nên Đức Maria là thụ tạo hiệp thông sâu xa nhất vào « nội tâm Chúa Giêsu », trong đó Thiên Chúa được « tôn kính, ngợi khen, trân trọng, tôn vinh, nhận biết, cảm tạ, yêu mến và thờ lạy bao nhiêu có thể được ».

Cha Olier cũng nhấn mạnh sự hiệp nhất chặt chẽ giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria, không chỉ vì mối tương quan mẹ con, nhưng trước tiên vì Chúa Giêsu thông truyền cho Mẹ Người sự sống mà Người sở hữu tròn đầy : « Người đã hiệp thông Mẹ với Thánh Thần của Người, với những ơn của Người, với những kho tàng bao la của Người và với sự sống của Người, tắt một lời, Người đã tự hiến cho Mẹ tất cả » . Ở đây, có một sự trao đổi kỳ diệu : Mẹ đã ban cho Chúa Giêsu nhân tính của Mẹ, đến lượt Chúa Giêsu, Người ban cho Mẹ tất cả sự sống thần linh của Người. Trong khi cưu mang Người, Đức Maria là thế giới của Chúa Giêsu. Mẹ là tất cả mọi sự đối với Người : lương thực, sự sống, nơi cư ngụ và đền thờ của Người. Đổi lại, Chúa Giêsu thánh hóa Mẹ Người. Và sự trao đổi nội tâm này được tiếp tục suốt cuộc đời của Chúa Giêsu, xuyên qua các mầu nhiệm của Người, nhờ đó Mẹ đã hiệp thông cách sâu xa. Vì thế, Đức Maria là gương mẫu đời sống nội tâm cho các Kitô hữu đón nhận Chúa Kitô trong đức tin, để Người có thể sống các mầu nhiệm của Người nơi họ. Đời sống nội tâm của Đức Mẹ như thế dẫn các Kitô hữu đến với đời sống nội tâm của Chúa Giêsu (ad Jesum per Mariam).

Đời sống nội tâm của Chúa Giêsu

Trong cuốn « Giáo lý Kitô giáo về đời sống nội tâm » (1656), được trình bày dưới hình thức hỏi và thưa, theo phương pháp giáo lý phổ biến lúc đó, cha Olier đã dạy như sau : « H -Có bao nhiêu đời sống trong Đức Giêsu Kitô? T – Thưa có hai, đời sống nội tâm và đời sống bên ngoài. H – Đời sống nội tâm của Đức Giêsu Kitô cốt tại điều gì? T – Hệ tại các năng khiếu và tâm tình nội tâm của Người đối với mọi sự: chẳng hạn, trong việc phượng thờ của Người đối với Thiên Chúa, trong tình yêu của Người đối với tha nhân, trong việc tự hủy của Người đối với bản thân, trong sự Người gớm ghét tội lỗi, trong việc Người lên án đối với thế gian và các phương châm của nó. H – Đời sống bên ngoài của Ngài cốt tại điều gì? T – Nó cốt tại những hành động cảm giác được và những thực hành thấy được về các nhân đức, lưu xuất từ căn bản nội tâm thiên linh của Người. H – Vậy để trở thành một Kitô hữu đích thực, phải có trong ta Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho chúng ta sống nội tâm và bên ngoài như Đức Giêsu Kitô sao? T – Đúng như vậy ». Như thế, Cha Olier phân biệt hai đời sống nơi Chúa Giêsu Kitô, đời sống nội tâm và đời sống bên ngoài, mà theo cha Bernard Pitaud, xét đến cùng, « đời sống nội tâm của Chúa Giêsu, đó là những gì sinh động Người tự sâu thẳm, nghĩa là Chúa Thánh Thần ». Và « đời sống bên ngoài, đó là những hành vi của chúng ta, những thái độ của chúng ta ». Cốt yếu đời sống nội tâm của Chúa Giêsu, sự kết hợp thần bí của Người, đó là lãnh nhận mọi sự từ Cha Người và sống nhờ Chúa Thánh Thần. Cha và Con không có gì hơn chỉ là một cuộc sống, một tâm tình, một ước muốn, một tình yêu, một ánh sáng. Và để được hướng dẫn trong mối tương quan của Con với Cha của Người, thì cái sâu thẳm bên trong của Con của Ngài phải thấm vào tận sâu thẳm tâm hồn chúng ta.

Khái niệm về đời sống nội tâm của Chúa có thể có vẻ lỗi thời hoặc giống như một sự phục hồi thói quy ngã, nhưng ở đây, điều quan trọng là phải nhớ lại những gì thánh Phaolô nói. Đối với thánh Phaolô, các môn đệ được ban cho đặc ân nhận biết đời sống cá nhân của Chúa để có thể ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Chúng ta hãy trích dẫn một đoạn của thánh Phaolô: « Ai đã biết tư tưởng của Chúa, để chỉ vẽ cho Người? Còn chúng tôi, chúng tôi biết được tư tưởng của Đức Kitô » (1Cr 2, 16). Lời khẳng định của thánh Phaolô « chúng tôi biết được tư tưởng của Đức Kitô », đó chính là điều mà cha Olier muốn diễn tả khi ngài nói về lòng sùng kính đời sống nội tâm của Chúa Giêsu. Do đó, đời sống nội tâm theo mong muốn của cha Olier, đó là được kết hợp nhiều hơn với Chúa Giêsu Kitô và tuân theo những cảm xúc, thái độ và tâm tình nội tâm của Người. Và Lễ Đời sống nội tâm của Chúa Giêsu diễn tả ước muốn mãnh liệt của cha Olier được thấy mỗi môn đệ của mình tái hiện những tâm tình nội tâm của Chúa Giêsu. Bởi vì đấng sáng lập Hội Xuân Bích không chỉ nhằm đào tạo những nhà trí thức, hoặc những người tài năng về mục vụ, nhưng còn đặc biệt là những con người nội tâm biết phản ảnh, qua lời nói và việc làm, một điều gì đó từ mầu nhiệm Thiên Chúa mà họ thấm nhuần. Cha Olier thường trích dẫn một đoạn trong Thư gởi tín hữu Philipphê để làm nền tảng cho ước muốn của mình: « Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy ​có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ​ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người ​đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu » (Pl 2, 1-5). Và tiếp theo, thánh Phaolô nói về mẫu gượng tự hạ tột đỉnh của Chúa Giêsu, hóa mình ra không, mặc lấy thân nô lệ... (x. cc 6-11). Như thế, chúng ta được dẫn đến chỗ sống theo những tâm tình nội tâm của Chúa!

Kinh nghiệm đời sống nội tâm của cha Olier và những bài học cho chúng ta

Cuốn Pietas Seminarii mà ngài viết vẫn là hiến chương và định hướng cơ bản của Hội Linh Mục Xuân Bích: « Mục đích đầu tiên và cuối cùng của Hội này là sống hết mình cho Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đến mức nội tâm của Con Ngài thấm nhập vào sâu thẳm tâm hồn chúng ta và mỗi người được phép nói điều thánh Phaolô đã khẳng định về phần mình với lòng tin tưởng: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi (Ga 2, 20). Nơi chúng ta, đó sẽ là niềm hy vọng độc nhất và là tư tưởng duy nhất, đó cũng là thực hành duy nhất : sống cách nội tâm đời sống của Chúa Kitô và biểu lộ cuộc sống đó bằng những hành vi nơi thân xác hay chết của chúng ta (2 Cr 4, 10-11) ».

Chúng ta nhận thấy việc quy hướng về Thiên Chúa của toàn thể đời sống Kitô hữu thấm nhập đời sống nội tâm ngay ngày đầu tiên: Sống hết mình cho Thiên Chúa. Trạng từ « hết mình » có nghĩa là ở điểm cao nhất, hết sức có thể. Nó diễn tả một cường độ sống mạnh mẽ: hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa, để Người làm chủ tể cuộc sống chúng ta. Nhưng điều đó chỉ có thể được thực hiện trong Chúa Kitô Giêsu. Vì Người là Đấng duy nhất sống hết mình cho Thiên Chúa, Cha của Người. Vì thế, chỉ trong sự hiệp thông nội tâm với Chúa Kitô, trong sự kết hiệp thần bí này, mà chúng ta có thể đón nhận cường độ sống sự năng động ơn gọi của mình: sống cho Thiên Chúa.

Trong cuốn « Giáo lý Kitô giáo về đời sống nội tâm », cha Olier hỏi tiếp: « Có nơi mình cùng những tâm tình của Đức Giêsu Kitô nghĩa là gì? », và ngài trả lời: « Đó là có trong tâm hồn mình và trong linh hồn mình cùng những ước muốn, như được tự hóa mình ra không và chịu đóng đinh như Đức Giêsu Kitô ». Như thế, đối với cha Olier, con đường chắc chắn nhất để đạt tới đời sống Kitô hữu đích thực, đó là hiệp thông với những tâm tình và ước muốn nội tâm của Chúa Giêsu Kitô, để đời sống bên ngoài của chúng ta, một khi được thấm nhập bởi Thánh Thần của Người, sẽ trở thành chứng tá cho Tin Mừng. Chúng ta hiểu tại sao những trích dẫn thánh Phaolô như « Anh em hãy mặc lấy những tâm tình của Chúa Kitô » hay « không còn phải tôi sống nữa, đó là Chúa Kitô sống trong tôi » (Gl 2, 20) tuôn ra tự nhiên dưới ngòi bút của ngài.

Lời kinh « Ôi Chúa Giêsu sống trong Mẹ Maria… », đó thực chất chính là kinh nghiệm của cha Olier về sự thông hiệp với Chúa Kitô mà ngài muốn chia sẻ: « Tôi bị kích động và phấn chấn mạnh mẽ bởi Thánh Thần của Chúa Giêsu của tôi đến độ tôi coi đó là một linh hồn thứ hai, …, hay nói đúng hơn chính là linh hồn tôi. Tất cả những gì Người muốn, tôi cũng muốn. Điều gì Người truyền dạy, tôi cũng làm. Điều Người hài lòng, tôi cũng hài lòng. Điều Người không muốn, tôi cũng không muốn. Và hoàn toàn ngược lại, tôi cũng không thể thực hiện được cả khi tôi muốn ».

Dĩ nhiên, để được đổ đầy Chúa Giêsu Kitô, như ngài thường nói, cần phải hóa mình ra không. Sự từ bỏ chính mình, mà ngài còn gọi là sự trần trụi, hay việc hóa mình ra không, tác động mạnh mẽ đến hành trình thiêng liêng nội tâm của ngài. Cha Pitaud nhận xét rằng một số người thậm chí nhận thấy ngài nhấn mạnh quá mức, và từ vựng của ngài đôi khi gây khó chịu. Có thực sự cần thiết, như ngài nói, là sợ hãi chạy trốn chính mình không ? Thực sự, cha Olier đã có kinh nghiệm cay đắng về lòng say mê bản thân, khiến ngài quy ngã và ngăn cản ngài hướng về Thiên Chúa. Và đó là lý do tại sao ngài khuyên chạy trốn chính mình. Khi chạy trốn chính mình, chúng ta quay lưng cho chính mình, chúng ta ngừng bận tâm với hình ảnh của chính mình, và từ đó, cái nhìn của chúng ta mới có thể hướng về Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, « niềm hy vọng độc nhất và tư tưởng duy nhất » của ta.

Dù sao, đối với cha Olier việc từ bỏ không được tạo nên sự ám ảnh. Việc trút bỏ hoàn toàn bản thân và những điều thuộc thế gian không phải là một điều kiện tiên quyết đối với đời sống thiêng liêng. Điều quan trọng là « phải yêu mến và thờ phượng Chúa Giêsu nhiều để lôi kéo Người đến trong chúng ta ». Nói cách khác, việc tu luyện khổ hạnh có tham vọng tống đi hết mọi thứ trong nhà trước khi Chúa Giêsu Kitô cư ngụ ở đó sẽ là duy ý chí và tất phải thất bại. Chính khi để sự khiêm nhường tự hạ của Chúa Giêsu chiếm lấy mình, chúng ta mới tìm thấy sức mạnh nội tâm chiến đấu chống lại sự kiêu ngạo, ích kỷ nơi mình. Cha Olier không loại trừ sự tu luyện khổ hạnh, nhưng ngài đặt nó vào đúng chỗ của nó, không phải là chỗ đầu tiên. Điều đầu tiên, đó là tình yêu của Chúa Giêsu cần phải xâm chiếm chúng ta, chính Người phải hình thành nơi chúng ta (x. Gl 4, 19), để sự khốn khổ của chúng ta lánh đi trước nhan Người. Ngài hiểu rằng những sai lỗi và thiếu sót của ta, nếu biết đặt chúng vào tay Thiên Chúa, sẽ thành nơi chốn cho phần rỗi của ta, và qua đó, thành nơi mà sức mạnh tông đồ của ta có thể tái sinh. Ngài như cho thấy rằng sự thánh thiện không hệ tại tìm kiếm một thứ trọn lành lý tưởng không thể đạt tới được, nhưng là sống những gì chúng ta là và đặc biệt sống những sự mỏng giòn của chúng ta trong sự tin tưởng và phó thác[3]. Ngài nói về tính tự ái rằng chúng ta luôn lưu ý đến chính mình, lấy lý do tốt đẹp là nhìn sự khốn khổ của mình để sửa chữa. Nhưng đó là cách không bao giờ thoát ra được. Cha Olier đã chấp nhận phó thác cho Thiên Chúa chính sự bận tâm về nết xấu hằng dằn vặt mình. Thôi nhìn vào chính mình để ném mình vào Thiên Chúa, « buông mình cho Chúa Thánh Thần ». Buông mình cho Chúa Thánh Thần, Vị Linh Hướng nội tâm đích thực của Chúa Giêsu và của chúng ta, nghĩa là phó thác mình để trở nên mỗi ngày nhạy cảm hơn trước những mời gọi của Ngài, và mỗi ngày tự do hơn để đáp lại và trở thành một dụng cụ ngoan ngoãn hơn cho hành động của Ngài. Cha Pitaud nhận định: « Cha Olier sử dụng rất nhiều ngôn ngữ « hiệp thông với Chúa Kitô », vốn là hoa trái công trình của Chúa Thánh Thần nơi mỗi Kitô hữu. Cần phải có Thánh Thần của Chúa Kitô nơi mình để hiệp thông với Chúa Kitô đến nỗi tư tưởng của Người trở thành tư tưởng của chúng ta; tâm tình của Người trở thành tâm tình của chúng ta; hành động của Người trở thành hành động của chúng ta. Như thế, chúng ta dần dần được biến đổi trong Người ».

   Sự tự do nội tâm và những lời khấn làm nô lệ

Một điều quan trọng trong đời sống nội tâm của cha Olier là sự tự do nội tâm, kết quả của sự kết hợp mật thiết với Chúa, và qua đó cũng giúp ngài siêu thoát những cám dỗ trần tục. Nó biểu lộ một cuộc sống và chiến đấu nội tâm sâu xa. Truyền thống Xuân Bích sẽ mô tả sự tự do nội tâm hay thiêng liêng này như là tiến trình gắn bó với Chúa Kitô và từ bỏ chính mình, điều chỉnh bản thân theo ước muốn của Chúa Thánh Thần để thực thi thánh ý Thiên Chúa. Tự do đối với danh vọng, quyền lực ; tự do đối với các mối tương quan; tự do đối với nhân cách quy ngã đầy ám ảnh….Vào thời mà việc đi tu được coi là nghề giáo sĩ (mới 12 tuổi, ngài đã nhận được tu viện Bazainville tại giáo phận Chartres, rồi các năm sau : tu viện Clisson tại Nantes, nhà dòng Pesbrac tại Saint-Flour, tu viện Madeleine de Pouancé tại Angers), ngài đã mạnh mẽ khước từ những đòi hỏi của mẹ mình, để « bước vào cánh cửa ơn gọi » thực sự. Nhiều lần được đề cử làm giám mục, ngài đã từ chối để dấn thân vào công việc của một cha xứ, lúc đó bị coi là phụ thuộc và bất xứng với địa vị gia đình. Vào năm 1652, ngay sau khi từ bỏ tu viện Bazainville, ngài viết: « Tôi thấy trong việc này phương thế để làm trọn những ước vọng của tôi là thấy mình nghèo khó, để chết trần trụi như Chúa chúng ta trên thập giá. Đó là điều tôi khát vọng hết lòng, và là điều làm tôi không ngừng rên xiết ngày đêm ». Có hai người nữ ảnh hưởng đặc biệt đến ơn gọi và sự trở lại của ngài, đó là bà Marie Rousseau và nữ tu Agnès de Langeac (sau này trở thành Chân phước). Nhưng đến một thời điểm ngài cảm thấy không còn được sự tự do nội tâm nữa, ngài đã quyết tâm thưa với Chúa: « Từ nay không bao giờ để một thụ tạo nào ngoài Chúa lọt vào tâm hồn con nữa ». Ngài đã cảm thấy cần phải dứt bỏ, vì thấy rằng sự liên hệ đó ngăn trở ngài thuộc trọn về Thiên Chúa trong sự hoàn toàn trong sáng. Bên cạnh đó, việc từ bỏ ước muốn thái quá về sự xuất chúng của mình, nhu cầu muốn mình được chú ý, muốn đặt mình ở trung tâm mọi sự mà sau này ngài sẽ gọi là tính kiêu căng, vốn sẽ là nguồn gốc cho cuộc khủng hoảng thiêng liêng lớn của ngài, chỉ vượt qua được nhờ đời sống nội tâm sâu xa. Và việc đầu hàng Chúa Kitô đó kéo theo hai hậu quả: trước hết ngài dứt bỏ tội lỗi (« Từ đó không bao giờ tôi ưa sống trong tội lỗi, đây là phát đánh mạnh nhất trong việc trở lại của tôi »); tiếp đến, ngài nhận được « trong tâm hồn một sự ao ước mạnh mẽ cầu nguyện ». Từ đây, ngài được giải phóng, hay nói theo ngôn ngữ của ngài: « Tôi bắt đầu thở và cười ». Ngài thực sự tìm thấy sự bình an và niềm vui nội tâm.

Ngài có ba lời khấn làm nô lệ: cho Chúa Giêsu, cho Đức Mẹ và cho giáo dân trong giáo xứ ngài phục vụ. Những lời khấn kiểu này vào thời đó là một cách biểu lộ thông thường của một đời sống Kitô hữu hay linh mục sốt sắng. Những lời khấn hứa làm nô lệ này nhằm mục đích đi đến cùng những đòi hỏi của Bí tích Rửa Tội, và thật nghịch lý, lại làm cho tâm hồn ngài được tự do. Cha Olier khấn hứa làm nô lệ cho Đức Maria. Mục đích của sự cam kết này với Đức Trinh Nữ là để phó thác bản thân cho Mẹ để Mẹ dẫn dắt tới Chúa Kitô. Ngài giải thích trong Hồi Ký : « Đức Thánh Trinh Nữ lôi kéo mọi người trước hết đến với tình yêu và phục vụ thánh thiêng của Người, để sau đó đưa họ đến với Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. » Vào đầu năm 1642, ngài thực hiện lời khấn hứa làm nô lệ cho chính Chúa Kitô: « Làm đầy tớ của một vị Thầy, là làm mọi việc theo ý NgườiTôi chỉ có thể nói với sự tùy thuộc Thánh Thần Đấng chiếm hữu tôi… Tôi chỉ muốn điều gì Ngài muốn… điều này đòi hỏi một sự tín cẩn và một sự phó thác dứt khoát trong tay của vị Thầy đáng chúc tụng và trung tín, Đấng tuyệt đối khôn ngoan, tuyệt đối quyền phép và tuyệt đối tốt lành… điều này đòi buộc một sự hoàn toàn lột bỏ mọi sự để chỉ yêu mến một mình Chúa Giêsu …. Kể từ ngày đó, tôi rất đỗi hài lòng được đọc lên tiếng Thầy đó và tiếng tôi tớ, khi mà tôi cũng có thể nói: Ôi Tình Yêu của con, con phó thác mình con cho Ngài ». Mấy câu này cho thấy rõ ràng rằng lời khấn hứa làm nô lệ chẳng là gì khác ngoài việc diễn tả lòng khao khát phó thác mình hoàn toàn trong tay Chúa Kitô để yêu mến và phụng sự Người hết mình. Về lời khấn làm nô lệ cho giáo dân, đối với cha Olier, các linh mục phải hiến tất cả thời giờ của mình vào điều mà ngài gọi là « sự ân cần mục vụ ». Vì thế, ngay từ khi bước vào đời sống mục vụ, trở thành mục tử tại giáo xứ Saint-Sulpice, ngài khấn làm nô lệ cho giáo dân của mình để bày tỏ sự hiến dâng toàn thân cho họ. Họ trở thành chủ nhân của thời giờ, của cải và toàn thể con người ngài. Ngài coi mình là « đầy tớ của các chi thể Chúa Giêsu Kitô », và tuyên bố có bổn phận phải vâng lời họ, nghĩa là phải thỏa mãn mọi nhu cầu thiêng liêng của họ.

   Những nơi chốn thể hiện và đào sâu sự kết hợp nội tâm với Chúa Kitô

Đời sống nội tâm của cha Olier, và qua đó cũng là đường lối sư phạm thiêng liêng của ngài, chính yếu dựa trên 5 cột trụ của tòa kiến trúc con người nội tâm: đọc Thánh Kinh, sùng kính Thánh Thể, nguyện gẫm, linh hướng và sứ vụ tông đồ[4].

Thánh Kinh. Đó là nơi mà chúng ta phải kín múc ánh sáng, tình yêu và sức mạnh; đó là nơi Thiên Chúa ẩn náu để hiến mình cho chúng ta và làm cho chúng ta thông hiệp vào các ân sủng và tâm tình của Ngài. Việc lắng nghe Lời Chúa làm thành một trong những nơi chốn cho kinh nghiệm thần bí hiệp thông với Chúa Kitô. Cha Olier nhận thấy rằng, qua ánh sáng đức tin thầm kín, Thiên Chúa ngự dưới Lời thánh của Ngài để nuôi dưỡng Giáo hội, giống như Ngài ngự dưới những hình bánh và rượu của Mầu Nhiệm Thánh Thể.

Chỗ đứng trung tâm của Thánh Thể trong đời sống thiêng liêng và mục tử của ngài. Linh đạo của cha Olier hoàn toàn quy về Thánh Thể: « Chúng ta hoàn toàn mất hút trong Chúa khi rước Mình Thánh Người đến nỗi không còn gì có vẻ là của chúng ta nữa, không còn gì thuộc về chúng ta; nhưng tất cả đều ở trong Chúa Giêsu Kitô, và tôi không hề thấy trong tình trạng đó còn sót lại điều gì của tôi, nhưng tất cả là Chúa Giêsu Kitô bởi vì Ngài đã hấp thụ và tiêu hao linh hồn tôi đến mức đó ».  Ngài giải thích cho chúng ta rằng những kiến thức chân thật duy nhất ngài đã nhận được là do Thiên Chúa đã thông ban cho ngài trong lời cầu nguyện: « Tôi phải thú thật là Thiên Chúa của tôi, Chúa Giêsu của tôi, là chính Thầy tôi vậy ». Ngài cũng nói cho chúng ta về những tâm tình mục tử của ngài được kín múc từ Thánh Thể: « Như là bản thể của bánh trong Mình Thánh được hoàn toàn biến đổi, được tiêu hao và mất hút trong Chúa Giêsu Kitô », nghĩa là « ở trong Chúa Giêsu Kitô đến độ mà bạn không thấy mình nữa, bị chiếm hữu, thấm nhuần và tiêu hao trong Người đến độ không còn gì của bạn nữa, đến nỗi từ ít lâu nay tôi không còn có thể nghĩ đến gì nữa, mà chỉ cần để tâm hồn tôi mất hút đi trong Chúa Giêsu thôi ». Nơi cha Olier, việc sống nội tâm kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu làm cho ngài ý thức về việc yêu mến, phục vụ và hiến mình cho Giáo hội. Ngài nói trong Hồi Ký: « Tôi đã quên lưu ý rằng Chúa Giêsu của tôi không chỉ ước ao chết ngàn lần cho Giáo hội của Người, mà còn ước ao ban chính mình làm của ăn cho Giáo hội, điều Người thực hiện mọi ngày trong bí tích Thánh Thể, và cũng là tâm tình mà lòng nhân lành Người ban cho tôi để tôi hiến mình làm của ăn cho Giáo hội nếu Giáo hội cần đến, và đặc biệt, tôi cảm thấy là tôi không được có gì mà không thuộc về Giáo hội như là của ăn có thể hữu ích để nuôi những người nghèo trong giáo xứ mà tôi sắp tới ở. Nếu tôi không được phúc đổ máu mình ra vì nó, thì ít ra tôi sẽ là một bánh thánh sống động dùng để nuôi dưỡng nó ». Ở đây, cha Olier nhấn mạnh hai khía cạnh quan trọng của Bí tích Thánh Thể : hiệp thông và trao hiến. Sự tôn thờ như vậy giúp cho sự biến đổi nội tâm thông qua việc đồng hình đồng dạng với hy tế Chúa Kitô nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, vì vinh quang của Chúa Cha. Ngài nhấn mạnh đến sức mạnh hoán cải nội tâm của Bí tích Thánh Thể: « Theo lời thánh Phaolô, trở thành của lễ sống động, hostiam viventem, không có nghĩa là chúng ta phải dùng đến vẻ bề ngoài của sự chết, nhưng là những tâm tình nội tâm, để đời sống nội tâm của chúng ta trở thành lễ vật trên bàn thờ…nhờ đó chúng ta được sự sống thần linh, sự sống được thánh hóa, sự sống thiêng liêng trong sự kết hợp với Thiên Chúa ».

Chính trong cùng một viễn cảnh đó mà phải hiểu chỗ đứng của việc nguyện gẫmlinh hướng trong đời sống Kitô hữu và trong khi đào tạo các linh mục. « Nguyện gẫm là nơi người Kitô hữu thông hiệp vào nội tâm của Chúa Giêsu Kitô và để mình được biến đổi trong Người nhờ Chúa Thánh Thần». Ngài có riêng cả một phương pháp nguyện gẫm[5] để đi vào đời sống nội tâm của Chúa Giêsu và mặc lấy những tâm tình của Người. Linh hướng là nơi người thụ hướng, dưới sự dẫn dắt của cha linh hướng, đặt mình để Chúa Thánh Thần hiệp thông vào ý muốn của Chúa Cha trong chính hành động của Người, vì mục đích tối hậu chính là để Chúa Thánh Thần trở thành « Vị Linh hướng nội tâm đích thực » của mình. Linh hướng là nơi đặc biệt để đạt được một thái độ nội tâm giúp hoán cải thường xuyên. Cha Olier đã gọi cha linh hướng của mình là « bí tích được chúc phúc của Chúa Thánh Thần ».

Về sứ vụ tông đồ, đời sống nội tâm của cha Olier đã khơi dậy nơi ngài một lòng khao khát loan báo Tin Mừng mãnh liệt. Tất cả kinh nghiệm đời sống nội tâm của ngài đều hướng về đời sống truyền giáo: « Tôi có một ước muốn bao la là cứu cả thế giới, truyền bá nhiệt huyết tình yêu và vinh quang của Thiên Chúa trong trái tim của muôn dân… ». Ở nơi khác, ngài nói: « Tôi khẩn nài hãy tha thiết và siêng năng cầu xin cho tôi có được tinh thần tông đồ ». Cha Pitaud giải thích: phải hiểu kiểu nói này theo nghĩa mạnh: tinh thần tông đồ là chính Chúa Thánh Thần, Đấng sinh động các Tông đồ từ nội tâm và làm phát sinh những chứng tá của các ngài. Thực sự, đối với cha Olier, chính trong sự hiệp thông với Chúa Kitô mà người Kitô hữu kín múc được lòng khao khát tham dự vào ơn cứu độ thế giới, bởi vì, như ngài cho thấy, « những năng khiếu và tâm tình nội tâm » của Chúa Giêsu đã hướng đến « tình yêu đối với tha nhân » rồi. Do đó, mặc lấy những tâm tình của Chúa Kitô cũng là kết ước với ý muốn của Người dâng mình cho Chúa Cha vì nhân loại. Vì vậy, nơi cha Olier, đời sống nội tâm không bao giờ là quy ngã, mà là một cuộc sống mãnh liệt của Thiên Chúa trong ta lan tràn ra bên ngoài bằng chứng tá của lời nói và việc làm. Và đó cũng chính là những gì ngài nói về đời sống bên ngoài của Chúa Giêsu. Chính Cha cũng để mình tràn ngập bởi tinh thần tông đồ: « Ôi Mọi Sự của con, con muốn tất cả mọi thụ tạo đều được đổi thành những miệng lưỡi để ngợi khen và chúc tụng Ngài. » Hoặc: « Linh mục phải cầu nguyện cho cả thế giới. Họ phải có một con tim cũng rộng rãi và cũng cởi mở như Giáo hội; để Thánh Thần Thiên Chúa diễn đạt và triển nở trong họ theo như mức độ Ngài làm trong toàn thể Giáo Hội và trong mọi dân tộc. » Dầu sao, ngài cũng luôn xác tín: « Việc cải hóa các tâm hồn là công việc của ơn thánh, mà nhiều khi chúng ta đặt trở ngại bằng chính ý nghĩ riêng của mình, và rằng Thiên Chúa luôn hành động, hoặc trong hư vô, hoặc qua hư vô, nghĩa là trong hoăc nhờ những người biết thừa nhận sự bất lực và sự vô dụng của mình ». Quả thế, chính khi dấn thân cho sứ mạng tông đồ mà ngài cảm nhận được rằng không được dựa vào sức riêng mình nữa, không được gán những thành công tông đồ cho mình nữa, mà do sức mạnh và ơn ban nhưng không của Chúa Thánh Thần. Qua cuộc thử thách, ngài thấu hiểu được điều sẽ làm sinh động toàn thể cuộc sống của ngài : chính sự phó thác cho Thánh Thần trong khiêm nhượng là nguồn suối duy nhất của mọi liên hệ với Thiên Chúa và của mọi động lực tông đồ. Điều đó có nghĩa là, chính khi đi ra đến các vùng ngoại vi, đến những miền quê nghèo để loan báo Tin Mừng, mà ngài ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống nội tâm của mình trước để có thể đối diện và vượt qua những khó khăn và thử thách. Nói cách khác, chính sứ vụ tông đồ cũng là nơi chứng thực, đào sâu và củng cố đời sống nội tâm. Quả thế, như cha Pitaud nhận xét, người ta nhận thấy rằng lòng khát khao loan báo Tin Mừng nơi ngài cho thấy theo mức độ ngài tiến triển trong sự hợp nhất với Thiên Chúa mỗi ngày một trút bỏ hơn, một hóa mình ra không hơn, như ngài nói, thì lòng ao ước tông đồ lại càng lớn mạnh hơn trong ngài. Đối với cha Olier, người tông đồ phải là « những người mang Chúa Giêsu Kitô như những nhiệm tích mang Người, để dưới họ và qua họ, Người cao rao vinh quang của Cha Người; trong trạng thái đó, những hành động của bạn là những hành động của Chúa Giêsu Kitô, những hành động của bạn được thể hiện theo mọi lý do và ý muốn của Chúa Giêsu Kitô ».

Cha Olier có tình yêu đặc biệt dành cho người nghèo, ưa sống bè bạn với những người nghèo khó. Ngài bước xuống khỏi xe ngựa để chuyện trò với người nghèo và ôm hôn vết thương của họ. Không chỉ bằng lòng điều hành giáo xứ mình từ ngôi nhà xứ, ngài còn tiêu hao chính bản thân khi không ngại đi tới cả những khu vực nghèo khổ nhất để gặp gỡ người dân. Từ đó, có những bản văn trong Hồi Ký của cha diễn đạt mạnh mẽ vừa về trách nhiệm của cha đối với tội nhân, vừa về lòng thương xót của cha đối với họ: « Nếu các linh mục tiếp xúc với tội nhân và luận giải với họ, các ngài phải coi mình như là mang tội lỗi của họ trước mặt Thiên Chúa, phải tự thấy mình buộc phải đền tội cho họ, như là của lễ đền tội thiên hạ, xét vì là chi thể của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và cùng làm linh mục nên một với Người, Đấng đã mang lấy tội lỗi của tất cả trần gian. Như vậy, linh mục với lòng khiêm nhường thẳm sâu phải tiếp xúc với tội nhân bằng sự dịu dàng lớn lao trong khi mời gọi họ ăn năn thống hối tội lỗi của họ, uốn lòng Thiên Chúa về phía họ, rồi cùng kêu cầu và mời gọi Ngài tỏ lòng cảm thương và nhân từ trên họ cả hai ». Vả lại, người ta cũng thường lưu ý rằng cha sở xứ Saint-Sulpice, trong những cuộc hành trình của ngài, khi ngừng lại một địa điểm nào, trước hết ngài vào nhà thờ để thờ lạy Thánh Thể, sau đó đến cứu tế viện của bệnh nhân hoặc nhà tế bần cho người nghèo để thăm viếng những người đau khổ tại đó. Đối với cha Olier, sự hiện diện của Chúa Kitô được tỏ lộ nơi những người nghèo khổ: « Những kẻ đau khổ nhất là những chi thể đặc biệt của Người hơn những người khác : họ có quyền ưu tiên đối với lòng trắc ẩn và yêu thương của chúng ta ». Đó là lời của cha Alexandre de Bretonvilliers, kế vị cha Olier đứng đầu Hội Xuân Bích, nói về tư tưởng của đấng sáng lập trong tiểu sử của ngài. Và những lời này đã cho thấy chọn lựa ưu tiên và tình yêu đối với người nghèo mà Đức Lêô XIV kêu gọi qua Tông huấn « Dilexi te ». Sứ vụ tông đồ nơi cha Olier như thế thể hiện những gì mà Huấn quyền hiện đại gọi là « đức ái mục tử », trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Mục Tử giàu lòng thương xót.

Qua những gì vừa được trình bày, chúng ta có thể nhận thấy việc xây dựng đời sống nội tâm chiếm một chỗ quan trọng hàng đầu trong ơn gọi và sứ mạng của cha Olier. Nó mang lại cho ngài sức mạnh trong cuộc chiến đấu nội tâm vượt qua những cám dỗ quy ngã, trần tục để tự do sống hết mình cho Thiên Chúa, trong Chúa Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần, và từ đó, một khi nội tâm hóa những tâm tình và ước muốn của Chúa Giêsu, theo gương đời sống nội tâm của Đức Mẹ, ngài dâng hiến đời mình phục vụ Giáo hội và tha nhân. Khi phục vụ giáo dân, chủng sinh, tu sĩ và linh mục, ngài cũng mong muốn được thấy họ tái hiện những tâm tình nội tâm của Chúa Giêsu trên con đường nên thánh, để hiến thân phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Hội Thánh và con người.

Lm. Võ Xuân Tiến, PSS.

------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

+  Bernard Pitaud, Tiểu sử cha Jean-Jacques Olier (bản dịch tiếng Việt của linh mục Antôn Trần Minh Hiển, PSS).

+ Bernard Pitaud, 15 ngày cầu nguyện với cha Olier (bản dịch tiếng Việt của linh mục Phêrô Võ Xuân Tiến, PSS).

+ Jean-Jacques Olier, Sự thánh thiện Kitô giáo, (văn bản chọn lọc do cha Gilles Chaillot, PSS, và do cha Antôn Trần Minh Hiển, PSS, dịch).

+ Hội Linh Mục Xuân Bích, Một Truyền Thống Đào Tạo Linh Mục.

+ Hội Linh Mục Xuân Bích, Khoa sư phạm về tự do thiêng liêng… (2021).

------------------------------------------------------------------

[1] Theo cha B. Pitaud, xét theo một khía cạnh nào đó, đời sống nội tâm có cùng ý nghĩa như đời sống thiêng liêng, bởi vì đời sống thiêng liêng là sống hiệp thông với Chúa Thánh Thần; nhưng theo một khía cạnh khác thì không, bởi vì đời sống thiêng liêng bao gồm đời sống nội tâm và đời sống bên ngoài (các hành vi). Các hành vi là một phần của đời sống thiêng liêng, nhưng chúng đương nhiên phải được sinh động bởi đời sống nội tâm, trong trường hợp ở đây, đó là đời sống hiệp thông nội tâm với Chúa Giêsu.

[2] Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II nói rằng lời cầu nguyện này chứa đựng một bản tóm tắt toàn bộ thần học về Đức Maria (Hồng y J. Hickey, Mary at the Foot of the Cross: Teacher and Example of Holiness of Life for Us (San Francisco: Ignatius Press, 1988).

[3] Đây cũng là kinh nghiệm của các thánh, chẳng hạn như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu: « Chúa Giêsu làm tất cả, còn con không làm được gì cả ». Sự thánh thiện không phải là con đường duy ý chí, nhưng là một quà tặng phải đón nhận.

[4] Trên thực tế, cha B. Pitaud chỉ nói đến 4 cột trụ. Tuy nhiên, chúng tôi thêm vào phần sứ vụ tông đồ, vốn là nét quan trọng trong cuộc đời của ngài.

[5] Phương pháp nguyện gẫm gồm ba bước: Chúa Giêsu ở trước mắt, Chúa Giêsu ở trong tâm hồn, và Chúa Giêsu ở trên tay.