Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Lịch Sử Đại Chủng Viện Huế

Đại Chủng viện Huế xuất hiện từ gần một trăm năm mươi năm nay (1881-2026). Trước khi nó được thành lập, các ứng viên linh mục đều được gởi sang Chủng viện Miền hay Tổng Học viện của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (Collège Général des Missions Étrangères), được lần lượt đặt ở nhiều nơi khác nhau tại Đông Nam Á và cuối cùng là ở Penang, Malaysia. Tại đây, họ được huấn luyện làm giáo sĩ và khi học xong thần học, thì trở lại Vùng Truyền giáo của mình để lãnh nhận các chức thánh. Sự việc đã là như thế từ thời Đức Cha Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong hậu bán thế kỷ XVII.

Vào năm 1850, khi Vùng Truyền giáo Huế (bấy giờ gọi là Bắc Đàng Trong) được nâng lên thành Giáo phận Đại diện Tông tòa biệt lập, thì vẫn còn 30 năm không có Đại Chủng viện nào khác ngoài Đại Chủng viện Penang. Chẳng hơn gì hai thế kỷ trước, việc thành lập một Đại Chủng viện là điều bất khả hoặc bất cẩn, vì lúc đó cuộc bách hại vẫn luôn năng động hay luôn đe dọa. Vả lại, nói cho cùng, người ta đã có thể thiết lập một Đại Chủng viện, nhưng điều này tuyệt đối không cần thiết, vì vào thời đó, Tổng Học viện của Hội Thừa sai là đã đủ.

1. Đại Chủng viện Thợ Đúc (1882-1888)

Kế vị các Giám mục François Pellerin, Joseph Sohier và Martin-Jean Pontvianne, Đức cha Antoine Caspar, cho tới lúc đó là Thừa sai tại Sài Gòn, đã ra Huế ngày 19 tháng 09 năm 1880 và nắm quyền điều khiển Vùng Truyền giáo Bắc Đàng Trong. Vào thời điểm ấy, tín hữu Công giáo miền Trung đang hưởng một nền hòa bình tương đối từ một vài năm trở lại. Vì thế vị tân Mục tử nghĩ rằng đã đến lúc thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc truyền bá Tin Mừng và trang bị cho Vùng Truyền giáo của mình một Đại Chủng viện riêng biệt (*).

Lúc bấy giờ tại Tòa Giám mục Kim Long và trong nhiều cộng đoàn Kitô hữu khác nhau, có khoảng vài chục chủng sinh, phần đông là cựu học viên của Tổng Học viện Pénang, đang chu toàn nhiều nhiệm vụ đa dạng, chủ yếu là làm Thầy giảng, trong khi chờ được cất nhắc lên các chức thánh. Đức Cha Caspar đã trao phó cho Cha Eugène Allys (Lý) (Quản xứ Dương Sơn lúc ấy, Giám mục Giáo phận sau này) việc tập hợp các chủng sinh ở Kim Long và dạy họ một số môn học, chủ yếu là Thánh Kinh, với sự cộng tác của Cha Alfred Barthélémy (Mỹ). Đây là một mầm mống Chủng viện. Điều này đã xảy ra vào những tháng cuối cùng của năm 1881. Ngày 25-03-1882, Đức Cha Caspar cử hành lễ truyền chức đầu tiên của mình và hai chủng sinh lãnh chức Linh mục.

Công trình phác thảo bấy giờ có một hình dạng rõ rệt. Ngày 01-04-1882, Cha Jean-Nicolas Renauld (Đồng) kế nhiệm Cha Allys làm Giám đốc Chủng viện và Cha Pierre Guillot (Cao) phụ tá cho ngài, thế chỗ Cha Barthélémy. Cùng lúc Đức Cha Caspar trao phó cho vị tân Giám đốc nhiệm vụ thiết lập Đại Chủng viện tại Thợ Đúc (ở làng Trường An), bên hữu ngạn sông Hương, gần đối diện Kim Long, bên tả ngạn.

Cha Renauld mua một thửa đất ven sông, phía trên Nhà thờ Giáo xứ một chút. Khi đã mua được đất, công việc thành lập khởi sự và tiếp tục cho tới những ngày đầu tháng 11. Ngày 04-11-1882, buổi tựu trường đầu tiên ở Chủng viện Thợ Đúc đã diễn ra với 42 chủng sinh; phần đông, trở về từ Penang, đã học xong chương trình; một vài người chưa bắt đầu thần học. Thửa đất mà người ta đã tậu được cho Chủng viện thì thấp và sình lầy, gồm nhiều mảnh, độ cao không đều nhau. Để xây nhà, đã phải thực hiện nhiều cuộc san lấp quan trọng và do đó phải chuyển một lượng lớn đất và bùn. Vì thế, chưa tròn hai tháng kể từ ngày mở Chủng viện mới, các chủng sinh đã mắc phải một căn bệnh truyền nhiễm gọi là tê phù (béribéri). Ngày 04-01-1883, phải cho họ giải tán. Được tái triệu vào ngày 17-02, họ lại mắc bệnh dịch, và ngày 24-03, các lớp học một lần nữa tạm ngưng để chỉ mở lại ngày 15-05.

Đó là khởi đầu không mấy khích lệ. Niên học kế tiếp (từ tháng 09-1883 đến tháng 09-1884) càng khốn khó hơn nữa. Nhiều biến cố chính trị nghiêm trọng xảy ra. Vua Tự Đức, mà 36 năm trị vì chỉ là cuộc bách hại lâu dài nhắm vào Công giáo, đã băng hà vào ngày 19-07-1883. Các năm tiếp theo là một thời kỳ hỗn loạn. Những kẻ kế vị Tự Đức: mấy vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phước đều qua đời bằng cái chết hung dữ, ông đầu tiên chỉ sau ba hôm trị vì, hai ông kia chỉ sau vài tháng. Những ông chủ thật sự là hai quan Nhiếp chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, đối nghịch với Pháp và thù nghịch với đạo. Năm 1884, họ đặt cậu hoàng Hàm Nghi lên ngôi. Hòa bình cũng chẳng còn ngự trị bên ngoài các bức tường của Kinh đô nữa. Lợi dụng các biến loạn cung đình ấy, nhiều băng đảng vũ trang tung hoành khắp đất nước, tin chắc là không bị trừng phạt. Vả lại, chúng được thúc đẩy bởi nhiều quan lại giận dữ vì việc nước Pháp đến can thiệp để trả thù cho những lăng nhục đối với quốc kỳ của họ. Trong tháng 12-1883, các tín hữu Công giáo ở Châu Mới, Nước Ngọt, Truồi và Buồng Tằm, những cộng đoàn Kitô hữu khá xa Huế, đã bị tàn sát. Ở Chủng viện Thợ Đúc, thầy và trò liên tục sống trong cảnh giác, thấy mình bị phong tỏa nhiều lần. Vì không thể học hành, người ta cho phép chủng sinh trở về gia đình và chỉ giữ lại những ai tình nguyện.

Vào khoảng giữa tháng 01-1884, các biến loạn dịu bớt và, ngày 07-02, những lớp học bắt đầu lại. Ngày 29-03, Đức Cha Caspar đã có thể thực hiện một cuộc phong chức trong Nhà thờ Giáo xứ Thợ Đúc. Buổi lễ này cho ra một Linh mục và bốn phó tế, vốn sẽ được nâng lên hàng tư tế ngày 20-12 cùng năm. Từ tháng 2-1884 đến tháng 7-1885, Chủng viện tiến bước gần như đều đặn. Cha Renauld và cộng sự viên tận tụy của ngài là Cha Guillot, dù hết sức chăm lo đào tạo luân lý và trí thức cho chủng sinh, vẫn không hề lơ là khía cạnh vật chất. Vì việc thành lập khá vội vã, nên cần phải hoàn thành. Trước hết, khu vườn của Chủng viện được mở rộng nhờ mua những thửa đất kế cận; rồi người ta làm cho nó sạch sẽ trong lành bằng cách đào nhiều hố, lấp nhiều ao; bao quanh cơ sở bằng nhiều hàng rào tre dày đặc; xây dựng nhiều ngôi nhà mới. Hẳn nhiên đó chỉ là những ngôi nhà mái rơm rạ, sàn đất nện, vách liếp tre trát vôi, vừa vặn để trú mưa tránh nắng. Thời bấy giờ người ta thấy như thế là đủ, vì điều ao ước lúc đó không phải là tiện nghi nơi ở, mà là yên tĩnh và bình an.

Sự yên tĩnh này đã kéo dài được 18 tháng thì một cơn giông tố dữ dội hơn bao giờ hết ập đến trên Giáo hội miền Trung. Sáng sớm ngày 05-07-1885, Tôn Thất Thuyết bất ngờ tấn công quân Pháp trong Khu Nhượng địa tại Thành nội. Ông ta bị đánh bại; Kinh thành bị Pháp chiếm cứ; nhưng chính ông thoát được dẫn theo vị vua trẻ Hàm Nghi với một đám tùy tùng gồm vài quan lại. Đây là kế hoạch được chuẩn bị từ trước trong trường hợp không thành công, quan Nhiếp chính Nguyễn Văn Tường thì vẫn ở lại Huế để thương lượng với đại diện của nước Pháp.

Các chủng sinh, nghỉ hè vào ngày 30-07, năm hôm trước những biến cố trên, đã tựu lại vào ngày 01-09. Năm 1882 họ gồm 42 người, nay chỉ còn 23. Thật ra, 5 thầy đã được phong chức Linh mục hồi 1884, nhưng 5 thầy mới, xuất từ Tiểu Chủng viện An Ninh, đến lấp vào chỗ trống này. Thành ra hao hụt khoảng một nửa. Chắc hẳn điều đó là lớn lao, nhưng người ta sẽ không ngạc nhiên nếu lưu ý rằng trước khi tập trung thành cộng đoàn ở Thợ Đúc, đa số các bạn trẻ này đã trải qua nhiều năm dài ở đời, thường bị bỏ mặc và đối diện với nhiều hiểm nguy đủ loại vốn đi kèm các thời kỳ hỗn loạn. Cuộc sống ở chính Chủng viện, do bệnh tật và chiến tranh, quá bị gián đoạn và quá ít đều đặn đến nỗi đã không thể mang lại cho các ứng viên Linh mục bầu khí bình an để các ơn gọi chín muồi trong sự kết hiệp với Thiên Chúa. Tựu lại Thợ Đúc ngày 01-09-1885, họ đã bị giải tán hai hôm sau do một trận dịch tả. Họ chỉ phải trở lại vào những ngày đầu tiên của tháng 03-1886.

Đó là do cuộc bách hại vốn từ lâu được thực hiện chống lại Công giáo đạt đến giai đoạn kinh khủng nhất. Nhiều mệnh lệnh bí mật tổng diệt các Kitô hữu được đưa ra từ năm 1883 bởi 2 ông Thuyết và Tường lúc đó bắt đầu được thi hành. Sau khi Huế bị Pháp chiếm vào năm 1885, chúng được nhắc lại bởi một Sắc lệnh đề ngày 11-08 âm lịch. Quân Văn Thân đã thiêu hủy các cộng đoàn Kitô và tàn sát mọi Kitô hữu. Trong toàn cõi Việt Nam, máu chảy lênh láng ; tại Miền Truyền giáo Qui Nhơn, 24 ngàn nạn nhân trong một vài ngày ; ở Miền Truyền giáo Huế, chỉ riêng tỉnh Quảng Trị có 8 ngàn Kitô hữu bị sát hại, và con số này còn cao hơn nhiều nếu cuộc kháng cự đã không được tổ chức ở Tiểu Chủng viện An Ninh, nơi mà 4 ngàn Kitô hữu từ nhiều vùng lân cận đến lánh nạn : họ đã chiến thắng một cuộc vây hãm trong ba tuần lễ. Tại Huế, nhờ sự hiện diện của một toán lính Pháp, Kitô hữu đã thoát khỏi cuộc tàn sát man rợ.

Hòa bình trở về, Chủng viện Thợ Đúc tái mở cửa vào đầu tháng 03-1886. Hai chủng sinh, đều có chức cắt tóc, đã không tiếp tục được ơn gọi : một chết vì bị dịch tả, và thầy kia, tên Lượng, đã bị quân Văn Thân sát hại ở Quảng Trị. Niên học còn buồn thêm do cái chết, vào đầu tháng Tư, của một thầy thứ ba đã có chức cắt tóc và do việc hồi tục của hai người khác. Hai niên khóa tiếp (từ tháng 09-1886 đến tháng 09-1888) trôi qua mà không có biến cố bên ngoài nào đáng kể. Nhưng cơ sở thì leo lắt. Nhiều chủng sinh hồi tục. Ngày 13-04-1887, Cha Guillot đi cai quản một giáo xứ và Cha Renauld còn lại một mình, đứng đầu 10 thầy, bao gồm cả hai thầy vừa trở về từ Penang. Tuy nhiên, một cuộc tấn phong đã diễn ra ngày 25-02-1888 và một chủng sinh lãnh nhận chức linh mục trong lễ này.

2- Chủng viện Phú Xuân (1888-1953)

Một biến cố quan trọng trong cuộc sống của Chủng viện đánh dấu năm 1888 này. Ngày 20-10, Cha Renauld, được bổ nhiệm làm Tuyên úy quân đội và Quản xứ Thuận An, đã thôi điều hành Chủng viện, và chính cơ sở này được chuyển sang Phú Xuân, bên tả ngạn sông Hương, khoảng 600m về phía hạ lưu Thợ Đúc. Hôm nay, nó vẫn còn ở chính chỗ đó.

Vậy là Chủng viện Thợ Đúc chấm dứt 6 năm tồn tại. Các nỗ lực đóng góp và các hy sinh chấp nhận tại đó thì lớn lao, tuy nhiên kết quả lại nghèo nàn : chỉ có 6 chủng sinh đã được nâng lên hàng tư tế và chỉ còn chừng 10 người ở Chủng viện.

Tại Phú Xuân, Đức Cha Caspar đã mua nhiều đất đai trong khu phố vốn thuộc các gia đình hoàng thân và liền kề với nhau. Tại đây, ngài lập Tòa Giám mục, Sở Quản lý, Nhà Dục Anh và Đại Chủng viện. Đại Chủng viện chiếm một khu vườn rộng lớn mà ngày xưa thuộc về trưởng nữ của vua Thiệu Trị (công chúa An Thạnh Nguyễn Phúc Nhàn Yên), như một bản khắc tìm thấy trên cổng vào và nay đặt gần tòa nhà chính chứng thực.

Chủng viện được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Cha Caspar, vốn ở kề cận. Chính ngài đã giảng dạy ở đây, được trợ giúp và khi cần, được thay thế bởi Cha Auguste Chaiget (Soái), thư ký của ngài. Đây chỉ là việc tạm quyền trong thời gian ngắn, tuy nhiên nó kéo dài đến năm 1891. Vào thời điểm này, Cha Ernest Girard, Giám đốc Tiểu Chủng viện An Ninh, đã được đặt đứng đầu Đại Chủng viện, cùng với Cha Charles Ruel, một cựu Thừa sai ở Quảng Châu (Trung Quốc), làm cộng tác viên. Vào tháng 09-1893, Cha Girard trở lại Tiểu Chủng viện An Ninh (nơi ngài sẽ không rời nữa cho đến lúc qua đời vào tháng 2 năm 1924) và Cha Renauld lấy lại việc điều hành Đại Chủng viện.

Về lại Phú Xuân ngày 15-09-1893, ngài đã tìm thấy ở đó một đoàn chiên nhỏ, tương tự đoàn chiên ngài đã từng để lại khi rời Thợ Đúc. Chủng viện gồm 13 chủng sinh, trong đó ba thầy có «chức thánh» và tám người khác vẫn còn là giáo dân. Việc phong chức cho hai linh mục ngày 24-04-1894 đã giảm con số còn 11; nhưng với 9 người nhập học ngày 15-9 tiếp đó, đã nâng con số lên 20. Cha Giám đốc, vốn vẫn lẻ loi trong vòng một năm, thì vào ngày 04-10-1894 nhận được một sự trợ giúp quý giá nơi bản thân Cha Léopold Cadière. Sau một năm, ngày 27-09-1895, Cha Cadière được thay thế bởi Cha André Chapuis vốn cũng chỉ ở lại chừng 18 tháng. Các nhu cầu cấp bách của Vùng Truyền giáo giải thích cho những thay đổi liên tục này, nhưng không phải là không tác hại đến việc học hỏi và sự vận hành đều đặn của Chủng viện. May thay từ nay hoàn cảnh sẽ trở nên ổn định hơn. Cha Martin Mendiboure (sau đó là Dom Bernard, Phó Đan viện phụ Phước Sơn) kế nhiệm Cha Chapuis ngày 20-10-1897 và ở Chủng viện gần 20 năm với tư cách là giáo sư Tín lý và Thánh Kinh. Cha Renauld qua đời ngày 11-03-1898. Trong nhiệm kỳ Giám đốc thứ hai của mình, Cha đã có được niềm an ủi khi thấy 12 chủng sinh được nâng lên hàng tư tế.

Kế tục Cha Renauld là Cha Alphonse Izarn (Ý), được bổ nhiệm ngày 29-04-1898. Vị tân Giám đốc, vẫn còn trẻ và đầy hăng say, đã biến đổi Chủng viện về mặt vật chất và mang lại cho nó một đà tiến mạnh mẽ về mặt học tập. Vào năm 1899, ngài xây một Nguyện đường thanh lịch, và năm 1904, một ngôi nhà khiêm tốn có tầng dành cho các giáo sư ở. Hai tòa nhà này vẫn tồn tại đến hôm nay. Vì con số các chủng sinh đã gia tăng, nên các nhà lều với dáng vẻ thê thảm làm nơi ở cho họ, đã được mở rộng lẫn trùng tu, và mỗi thầy có một phòng riêng, vì cho đến lúc đó tất cả đều chung nhà ngủ. Vào năm 1899, Cha Izarn cho chuyển đến Phú Xuân môn triết học, mà cho tới tới khi ấy được dạy ở Tiểu Chủng viện. Do đó, độ dài của thời gian học tập được định thành 6 năm (2 năm triết và 4 năm thần) và con số các giáo sư, vốn chưa bao giờ vượt quá 2, nay nâng lên 3 vị.

Người đầu tiên nắm giữ ghế mới này vào tháng 09-1899 là Cha Alexandre Chabanon (Giám mục tương lai). Lúc đó việc học hành nhận được một sự thúc đẩy mới, vài quy tắc kỷ luật được hiệu chỉnh, bình ca và các nghi thức phụng vụ được biểu dương hơn. Tắt một lời, Đại Chủng viện Huế nhận được một sự tổ chức hoàn toàn giống với các Đại Chủng viện bên Pháp, trừ vài chi tiết do môi trường đòi hỏi. Đó là một luống cày sâu và bền vững mà Cha Izarn đã vạch ở Chủng viện Phú Xuân.

Sau khi Cha Chính Dangelzer mất, ngày 11-09-1904, Cha Izarn lên kế tục chức vụ. Năm 1908, ngài từ chức Cha chính và Giám đốc Chủng viện.

Tháng 8 năm 1908, Cha Alfred Barthélémy (Mỹ) đến giữ vị trí đứng đầu Chủng viện kiêm Cha Chính Giáo phận. Lúc ấy, việc học hành và lòng đạo đức cùng sánh đôi trong cơ sở này cách tốt đẹp. Nhưng vì nhắm đến sự hoàn hảo, nên ngài cố gắng in sâu vào trong các chủng sinh một tình yêu ngày càng mãnh liệt cho công việc trí thức và nhất là cho việc tiến triển đường thiêng liêng. Để đạt được kết quả đó, ngài không tiếc những bài huấn giáo, những lời khuyên răn, những sự hướng dẫn, Các cố gắng của ngài trổ hoa kết trái tuyệt vời. Dưới thời giám đốc 10 năm của Cha (1908-1918), có 33 tân Linh mục, một kỷ lục thời ấy.

Nhưng không phải chỉ có Đại Chủng viện, Cha Barthélémy còn quan tâm đến các nữ tu Dòng Kín (có cơ sở kề bên từ năm 1910) mà ngài đã được trao nhiệm vụ hướng dẫn. Ngài không tiếc thì giờ và vất vả để giúp các chị em hoặc về phương diện tinh thần (trung thành đến giải tội theo các ngày giờ ấn định), hoặc về phương diện vật chất. Nhờ sự can thiệp của ngài, đan viện được dựng lên nhanh chóng và chẳng bao lâu thành một cơ sở đẹp đẽ, tiện lợi.

Dựa trên ý kiến của ban giáo sư Chủng viện, năm 1914, Đức Cha Allys đã quyết định việc học tại Đại Chủng viện sẽ được kéo dài thêm một năm để cho phép giảng dạy các khoa vật lý và tự nhiên. Từ nay ba năm sẽ được dành cho việc nghiên cứu triết học lẫn các khoa học, và bốn năm như trước đây, dành để nghiên cứu thần học.

Cha Barthélémy mất vào tháng 5 năm 1918 tại nhiệm sở. Cha Chabanon - từng là giáo sư triết học tại Chủng viện từ 1899 đến 1905 - lên kế tục. Ngài duy trì và tiếp tục công trình của các vị tiền nhiệm. Từ nhiều năm, cơ sở này đã được tổ chức theo các phương pháp khôn ngoan của Hội Xuân Bích về việc học tập cũng như đời sống thiêng liêng và tinh thần đang có nơi đó thật tuyệt.

ĐCV Huế năm 1921. Ban Giáo sư ngồi hàng đầu. Từ trái qua: Cha JB. Roux, Cha Alexandre Chabanon (Giám đốc), Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ.

Qua những bài huấn đức và hơn nữa qua gương sống của mình, Cha Chabanon thúc đẩy chủng sinh sống các nhân đức nền tảng của ngườilLinh mục: khiêm tốn, siêu thoát, hy sinh, yêu thích cầu nguyện và học hành. Ngài dạy các môn thần học luân lý và giáo luật một cách thông thạo và rõ ràng, mà cũng không lơ là khía cạnh vật chất của trách vụ; ngài thực hiện những sửa sang quan trọng cho những khu nhà khác nhau của cơ sở và xây thêm những khu mới. Trong 13 năm làm Giám đốc (1918-1931), ngài vui mừng thấy 35 chủng sinh của mình lên chức linh mục. 

ĐCV Huế năm 1926. Ban Giáo sư ngồi hàng đầu: Cha Ernest Boillot, Cha Giám đốc  Alexandre Chabanon, Đức Cha Eugène Allys (Bề trên), Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ.

Năm 1930, Cha Chabanon được nâng lên hàng Giám mục, làm phó cho Đức Cha Allys, nhưng vẫn giữ trách nhiệm Giám đốc Chủng viện. Năm sau, vì Đức Cha Allys từ chức và Đức Cha Chabanon nắm trong tay việc điều hành Miền Truyền giáo, nên Cha Jean-Baptiste Roux - từng là giáo sư tại Phú Xuân từ 1911 đến 1917- được gọi điều khiển nhà trường ngày 23 tháng 9 năm 1931, với các cộng tác viên là Cha Jean Viry (1926-1933), Cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (Giám mục tương lai) (1931-1933) và Cha Philipphê Lê Thiện Bá (1933-1945).

Cha Jean-Baptiste làm Giám đốc Chủng viện cho tới cuộc đảo chánh của Nhật năm 1945. Ngoài hai kỳ thực nghiệm về đời sống Giáo xứ tại An Lộng (1905-1909) lẫn Kẻ Bàng (1910) và hai kỳ nghỉ tại Pháp để phục hồi sức khỏe, tổng cộng thời gian của ngài ở An Ninh và Phú Xuân là 40 năm trời.

Người ta có thể cho rằng ba phần tư số linh mục Giáo phận Huế thời ấy đều đã nhận được từ cha Roux, ở Tiểu hay Đại Chủng viện, điều cốt yếu trong việc đào tạo linh mục. Dấu ấn nầy được ghi rõ đến nỗi một trong hai vị Giám mục Việt Nam từng là học trò của Cha Roux không ngần ngại tuyên bố rằng mình đã chẳng bao giờ gặp được ngay cả tại Rôma một vị Giám đốc Chủng viện có ảnh hưởng như thế. Uy thế của Cha Roux nằm ở chỗ ngài tự buộc chính mình vào tất cả những gì ngài muốn đòi hỏi nơi các chủng sinh với một sự đúng đắn và hiền lành gây xúc động. Đàng khác, sự ngay thẳng này liên kết với những tài năng nổi bật về giáo dục được ngài thực hiện suốt 40 năm.

Vì hầu hết các Thừa sai Pháp bị Nhật quản thúc tại Sở Quản lý Giáo phận sau cuộc đảo chánh tháng 3-1945 rồi bị Việt Minh đưa đi an trí ở Vinh từ cuối năm 1946 đến giữa năm 1963, nên Cha Phaolô Lê Văn Đẩu (đang là giáo sư TCV An Ninh từ 1942) được đặt làm giám đốc ĐCV Phú Xuân từ 1945 đến 1947. Chức vụ này chuyển sang cho Cha Ximong Hòa Nguyễn Văn Hiền (Giám mục tương lai) từ 1947-1953.

Khi sắp xảy ra cuộc qua phân đất nước do Hiệp định Genève (7-1954) thì tháng 5-1953, Tiểu Chủng viện An Ninh, bên kia vĩ tuyến 17, được lệnh di chuyển vào Huế và đặt tại Đại Chủng viện Phú Xuân. Các thầy phải vào Đại Chủng viện Thánh Giuse của Tổng Giáo phận Sài Gòn để học tiếp.

ĐCV Huế 1930. Ban Giáo sư từ trái qua: Cha Jean Viry, Cha Giám đốc Alexandre Chabanon, Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ.

ĐCV Huế năm 1933. Ban Giáo sư từ trái qua: Cha Raphael Fasseaux, Cha Giám đốc JB Roux, Cha Philipphê Lê Thiện Bá. 

Các vị Giám đốc kể từ khi Đức Cha Antoine Caspar Lộc thiết lập cơ cấu Đại Chủng viện một cách chính thức và ổn định, từ năm 1881 cho tới năm 1953.

– Cha Eugène Allys Lý: 1881-1882

– Cha Jean-Nicolas Renauld Đồng: 1882-1888

– Đức Cha Antoine Caspar Lộc: 1888-1890

– Cha Ernest Girard Hoà: 1890-1893

– Cha Alphonse Izarn Ý: 1893-1908

– Cha Alfred Barthélémy Mỹ: 1908-1918

– Cha Alexandre Chabanon Giáo: 1918-1931

– Cha Jean-Baptiste Roux Ngôn: 1931-1945

– Cha Phaolô Lê Văn Đẩu: 1945-1947

– Cha Ximong Hoà Nguyễn Văn Hiền: 1947-1953

Có thể kể thêm vài vị Giáo sư người Việt:

– Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ, 1920-1931.

– Cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, 1931-1933.

– Cha Philipphê Lê Thiện Bá, 1933-1945.

– Cha Philipphê Nguyễn Như Danh, 1948-1953.        

3- Chủng viện Xuân Bích Huế (1962-1975)

Từ năm 1961, Đức Tổng Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục mời các Linh mục Hội Xuân Bích (Prêtres de Saint-Sulpice, PSS) đang ở miền Nam (Đại Chủng viện Vĩnh Long) ra điều hành Đại Chủng viện của Giáo phận. Từ đó đến 1975, nó mang tên Đại Chủng viện Xuân Bích-Huế. Chủng viện thâu nạp các chủng sinh thuộc Giáo tỉnh miền Trung, tức từ các Giáo phận Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Kontum, Nha Trang và Ban Mê Thuột.

Niên khóa 1961-1962, vì cơ sở chưa ổn định, chủng sinh các Giáo phận miền Trung nói trên tựu trường ở Thị Nghè, niên khóa sau mới ra Huế cùng với Cha Giám đốc Pierre Gastine (người Pháp) và ban giáo sư. Các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres cũng được mời đến phục vụ Đại Chủng viện (ẩm thực, y tế, giặt ủi…) từ đây. Thời gian sau là những năm rối ren ở miền Nam. Ban Triết học được gởi vào Giáo phận Nha Trang, năm 1965 về lại Huế, với Cha Giám đốc Đôminicô Trần Thái Đỉnh (1964-1966). Từ 1966 đến 1975, Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm làm Giám đốc. Sau biến cố Mậu Thân, Chủng viện đưa Ban Thần học vào Đà Nẵng (niên khóa 1968-1969). Sau vụ Mùa hè Đỏ lửa (1972), vì số chủng sinh gia tăng nên Đại Chủng viện Hòa Bình được thiết lập tại Giáo xứ Hòa Khánh, Đà Nẵng để nhận Ban Triết học.

Ban Giáo sư ĐCV Xuân Bích-Huế năm 1970.

Mùa xuân năm 1975, Cha Giám đốc Nguyễn Sơn Lâm được chọn làm Giám mục Đà Lạt và Cha Giuse Nguyễn Chính Duyên lên thay thế. Lúc ấy, trước việc chiến tranh lan rộng, các Giám mục miền Trung muốn di tản 2 Đại Chủng viện Huế và Đà Nẵng vào bên kia Đèo Cả (Nha Trang), vì sợ đất nước sẽ lại cắt ngang giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi. Nhưng chưa thực hiện được ý định thì biến cố tháng 4-1975 xảy ra, Đại Chủng viện Xuân Bích-Huế đành phải giải tán. Các Cha giáo thì tản mác khắp nơi, chủ yếu về các giáo xứ để làm mục vụ hoặc lo cho các chủng sinh đang cố gắng quy tụ với nhau hầu bảo tồn ơn gọi. Các Cha giáo người Pháp như Emile Stutz, François Bouyer bị chế độ mới trục xuất khỏi Việt Nam. Cơ sở Đại Chủng viện Hòa Bình sau vài tháng phải bán lại với giá rẻ mạt cho nhà nước (6000 đồng bạc Bắc lúc ấy, chia ra mỗi Giáo phận được 1000). Nhóm chủng sinh đang ở đó cùng với Cha Nguyễn Chính Duyên phải kéo nhau lên Giáo xứ Phú Thượng, Giáo phận Đà Nẵng, nhưng rồi cũng đành giải thể vào năm 1982.

 4- Chủng viện Giáo phận (1975-1994)

Tháng 05-1975, Đại Chủng viện Huế được mở lại với 45 đại chủng sinh thuộc Giáo phận (từ Giáo hoàng Học viện Piô X Đà Lạt, từ Chủng viện Hòa Bình Đà Nẵng, từ Chủng viện Xuân Bích-Huế), với Cha Augustinô Hồ Văn Quý làm Giám đốc, có Cha Antôn Ngô Văn Vững SJ đến phụ lực, sau khi Trung tâm sinh viên Xavie của Dòng mà ngài đang phụ trách bị nhà nước quản lý. Hai ngài dạy đủ các môn học vì thiếu giáo sư.

Ngày 04-01-1976 có lễ truyền chức cho 4 thầy, cuộc truyền chức cuối cùng của Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền. Ngày 08-09-1977, Cha Giám đốc Augustinô bị nhà nước bắt giam mấy tháng vì đã phổ biến cho các chủng sinh bài phát biểu của Đức TGM Philipphê ngày 22-04-1977 trước Mặt trận Tổ quốc Bình Trị Thiên. Cha Antôn Ngô Văn Vững phải lên thay thế.

Đến tháng 10-1978, nhà nước lấy cớ áp dụng Nghị quyết Tôn giáo 297 (ban hành tháng 11-1977) để tự ý loại 18 đại chủng sinh (đa phần lớp lớn) cùng Cha giáo Phêrô Phan Xuân Thanh khỏi ĐCV. Những anh em xấu số này, một số kiên trì đeo đuổi ơn gọi tại trong nước, một số vượt biên ra hải ngoại tiếp tục đời tu, vài người hồi tục. Các đại chủng sinh còn lại tiếp tục học nhưng không ai được chịu chức linh mục.

Ngày 08-06-1988, Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền qua đời, Cha Giám đốc Ngô Văn Vững vài năm sau cũng bị bệnh không tiếp tục công việc được. Đại Chủng viện sống leo lắt. Mãi đến ngày 01-09-1994 mới có lễ truyền chức cho 4 thầy (đã làm đại chủng sinh từ 1972 hoặc 1973).

5- Chủng viện Huế (từ 1994…)

Ngày 21-09-1994, Đại Chủng viện Huế mới được chính thức mở cửa trở lại, thu nhận các ứng viên linh mục đến từ 3 Giáo phận Huế, Đà Nẵng và Kontum (50 thầy). Đức Giám quản Tông tòa Têphanô Nguyễn Như Thể (nguyên Tổng Giám mục phó) tiếp tục mời các Linh mục Xuân Bích điều hành Chủng viện. Kể từ năm tu học 2014-2015, Đại Chủng viện Huế nhận thêm các chủng sinh của Giáo phận Hưng Hoá, trung bình mỗi năm nhận 5 chủng sinh (tính đến năm tu học 2019-2020 đã có 32 chủng sinh Hưng Hoá). Từ niên khóa 2021-2022 đến nay, Chủng viện nhận thêm các chủng sinh của Hội Thừa Sai Việt Nam (hiện có 9 thầy). Vắng bóng từ 1975, các nữ tu Dòng Thánh Phaolô lại tiếp tục đến phục vụ Đại Chủng viện, lo ẩm thực, y tế, công việc nhà.

Vì số chủng sinh ngày càng gia tăng, nên năm 1998, nhà cơm được xây mới lại, bên trên là một tầng lầu dùng làm thư viện. Năm 2005, dãy nhà hội được xây mới lại hoàn toàn gồm 3 tầng. Năm 2013, trên phần đất trước đây khu nhà bếp và khu nhà ở cho các nữ tu và nhân viên phục vụ, một tòa nhà mới ba tầng đồ sộ mọc lên.

Ngày 15-06-2013, Cha Giám đốc Anphongsô Nguyên Hữu Long được được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Hưng Hóa (nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Vinh).

Ban Giám đốc Đại Chủng viện Huế hiện nay gồm 11 thành viên, tất cả đều thuộc Hội Linh mục Xuân Bích, tỉnh hội Pháp. Từ ngày 01-07-2025 cho đến nay, Linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Văn Hào là Giám đốc Đại Chủng viện, phó Giám đốc là Phanxicô Xavie Trần Anh Duy. Ngoài các giáo sư nội trú thuộc Ban đào tạo (Ban Giám đốc), Đại Chủng viện Huế còn mời thêm rất nhiều giáo sư ngoại trú tham gia giảng dạy (trong đó có một nữ tu), nâng số lượng của Ban giảng huấn lên đến hơn 50, gồm Giám mục, Linh mục và giáo dân.

Kể từ năm 1994 đến nay (20/01/2026), Đại Chủng viện Huế đã góp phần đào tạo được 424 linh mục cho các Giáo phận Huế (152), Đà Nẵng (82), Kontum (107), Hưng Hóa (11), cùng với nhiều linh mục thuộc hai dòng Thánh Tâm (56) và Biển Đức Thiên An (18). Các chủng sinh nhập trường năm tu học 2025-2026 thuộc khoá XXV, nâng sĩ số chủng sinh năm nay lên đến 170 (148 chủng sinh nội trú + 222 chủng sinh thuộc Năm Thử, đang thực tập mục vụ ở các Giáo phận). Cộng đoàn Chủng viện được bốn nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, hai nữ tu Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm – Phú Xuân, Huế, và 10 nhân viên tham gia giúp đỡ việc hậu cần, văn phòng, thư viện v.v… cũng như nhiều việc trợ giúp khác.

Ban Giáo sư ĐCV Huế niên khóa 2025-2026.

Các vị Giám đốc thời gian Hội Xuân Bích trở lại Đại Chủng viện Huế:

– Cha Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, PSS: 1994-2000

– Cha Antôn Trần Minh Hiển, PSS: 2000-2005

– Cha Đôminicô Trần Thái Hiệp, PSS: 2005-2007

– Cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Đán, PSS : 2007-2009

– Cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long, PSS : 2009-2013

– Cha Giuse Hồ Thứ, PSS: 2013-2025

– Cha G.B. Nguyễn Văn Hào, PSS: 2025…

 --------------------------------------------------------------

(*) Thật ra, khi thiết lập Tòa Giám mục tại Giáo xứ Kim Long năm 1864, Đức Giám mục Joseph Sohier cũng lập một Đại Chủng viện lâm thời (1866). Số đại chủng sinh nơi đây (dưới mười thầy, đa số từ Penang, Malaysia về) thỉnh thoảng được cho lên sở Dục Anh (nuôi trẻ mồ côi) kiêm khu canh tác Thanh Tân (hay còn gọi là Trường trang trại Ồ Ồ-Ba Trục) để vừa lao động khai hoang, vừa học hành tu luyện. Đức Cha rất quan tâm đến vùng này, mỗi tháng một lần hay có thể lâu hơn chút ít, ngài ghé thăm sở Dục anh và cử hành vài cuộc truyền chức nơi đây, như ngày 6-4-1867 cho 8 thầy.

---------------------------------------------------------------------------------------------

(Nguồn: Tổng Giáo phận Huế, được cập nhật thêm ngày 20/01/2026)