ĐCV Huế 10/10/2026
Lc 11, 27-28

Cộng đoàn phụng vụ thân mến.
Lời Chúa Giêsu ngỏ với người phụ nữ lên tiếng khen ngợi thân mẫu Người, trong Tin Mừng thánh Luca (Lc 11,27-28) chúng ta vừa nghe, thiết tưởng cũng là lời nhắc nhở dành cho thừa tác viên được đề nghị chia sẻ đôi điều suy niệm trong thánh lễ tưởng nhớ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương hôm nay. Như thể đang có sự cảnh tỉnh rằng thay vì nhận định và đánh giá bất cứ ai dựa trên những tước hiệu và công trạng của họ theo quan điểm phàm trần, người chia sẻ chỉ nên gợi lên ở nơi họ, một cách trân trọng, dưới nhãn quan đức tin, những gì là đường nét và dấu ấn khắc ghi những tác động kỳ diệu của ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, để rồi nhờ đó cũng có thể nhận ra những đường nét và dấu ấn ít nhiều tương tự như thế trên cuộc đời hiện tại của chính mình, của mỗi người.
Trước hết, có thể nói Chúa đã thực hiện điều kỳ diệu khi làm cho một người trẻ ngoại giáo mang tên Nguyễn Khắc Dương được du nhập vào môi sinh công giáo nơi mái trường Thiên Hựu, được Chúa quyến rũ và sẵn sàng để cho Chúa quyến rũ, đến độ tha thiết đón nhận ơn đức tin với tâm tình và cảm nghiệm sâu đậm về một tình yêu trào tràn được Chúa ban tặng. Quia respexit humilitatem meam (vì Người đã đoái đến tôi tớ phận hèn), đó là lời tuôn ra từ nơi môi miệng của trinh nữ Maria trong kinh Magnificat mà người trẻ tân tòng ấy đã lấy làm thấm thía nên cũng đã từng thốt lên và về sau đã chọn làm phụ đề cho tác phẩm Hồi Ký của mình với bút hiệu Thế Tâm. Nhờ cảm nghiệm sâu đậm về tình yêu như thế, Kitô hữu Nguyễn Khắc Dương được thúc đẩy sống khiêm tốn, đơn sơ, với tinh thần thơ ấu noi gương thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, với lý tưởng thanh bần một thời gian đầu trong khuôn khổ dòng tu Phanxicô. Một sự lựa chọn sống khiêm hạ nhờ xác tín rằng mọi sự đều do bởi ơn Chúa, gắn liền với một thái độ không ít hiên ngang và hãnh diện, không phải vì vốn xuất thân từ một gia đình danh giá trọng vọng trong xã hội (một gia đình và dòng họ mà cho đến nay đa số các thành viên vẫn giữ vững lập trường đối kháng với niềm tin tôn giáo), nhưng hiên ngang và hãnh diện vì được đặc ân và diễm phúc làm con Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là Cha, được nên bạn nghĩa thiết với Đức Kitô. Chính thái độ vừa hãnh diện vừa yêu thương đã đưa dẫn người tín hữu đam mê ấy đến những nỗ lực mô phỏng chân dung của Đấng Tình Quân noi gương thánh bổn mạng Stêphanô, không chỉ đăm đuối ngước nhìn Cha trên trời nhưng còn tha thiết kết nối với muôn người trong mối quan tâm mau mắn hoà nhịp, khoan dung sẻ chia và miệt mài phục vụ. Chắc hẳn chính nhờ sự mô phỏng nối tiếp thánh Stêphanô này mà những hoa trái và thành quả trổ sinh là phong phú và đa dạng, những hoa trái và thành quả đã được nhìn nhận từ nhiều giới lớp với những kính phục, những mến mộ, những ca tụng và khen ngợi ngang qua những dấu chỉ nhan nhản và đầy ắp, không chỉ trên các trang mạng xã hội mà còn trên các môi miệng đó đây, trong những gặp gỡ trao đổi, cá nhân hay tập thể. Những hoa trái và thành quả vẫn còn vang vọng này không chỉ mời gọi quy chiếu vào khối óc và con tim của một nhà trí thức uyên thâm, một vị thầy lỗi lạc, một hành giả đức độ, một diễn giả say mê truyền đạt trực tiếp hơn là viết lách, nhưng còn mời gọi quy chiếu vào một chân dung không ngừng được nỗ lực mô phỏng, chân dung của chính Đức Giêsu Kitô.
Nỗ lực mô phỏng đáng quý vừa nêu chính là động lực thôi thúc hành giả Kitô hữu của chúng ta đảm nhận những gì là gay cấn và dằng co của một hành trình tu luyện trong Chúa, một hành trình sống đức tin, men theo châm ngôn thánh Augustinô để lại: fides quærens intellectum (đức tin đi tìm sự hiểu biết). Gay cấn và dằng co bởi vì từ chỗ không cảm thấy thích ứng với một nền linh đạo theo khuôn khổ của dòng Phanxicô, nhà hành giả tín hữu của chúng ta lại không thể không tiếp tục thao thức kiếm tìm, kiếm tìm một nền linh đạo lý tưởng vốn mãi cho đến lúc lìa đời vẫn chưa gặp được, kể cả ngang qua dòng tu chiêm niệm Cát Minh và ngang qua không ít những hình thức tu trì khác giữa đời. Từ chối làm linh mục mặc dầu được khích lệ và mời mọc bởi hơn vài ba vị giám mục đáng kính, nhà đạo hữu của chúng ta như thể muốn lựa chọn cư ngụ trong triều đại của đức tin và tình yêu chứ không chấp nhận sống dưới chế độ lề luật (theo như lời chỉ dẫn của thánh Phaolô trong bài đọc I hôm nay, Gal 3,22-29), muốn nghiêng phía Giáo hội đặc sủng hơn là phía Giáo hội cơ chế, muốn nêu cao tự do trong tình yêu hơn là sự ràng buộc trong nghĩa vụ. Dầu vậy, sự lựa chọn hầu như chao nghiêng này vẫn không hề làm cho người giáo dân luôn trên đường truy tầm linh đạo này thiếu kính trọng đối với các đấng bậc trong Giáo hội mà ngược lại, không những rất kính trọng mà còn quý mến các ngài bằng những mối quan tâm nhiệt tình nhất mực, luôn sẵn sàng góp ý xây dựng, sẵn sàng cống hiến những lời tham vấn khôn ngoan và tích cực. Nếu có cơ hội nhìn thấy cung cách quỳ mọp trang nghiêm và lặng yên trước Thánh Thể Chúa của người Kitô hữu xương xẩu và nhỏ thó ấy, nếu có cơ hội thưởng thức bản trường ca Ave Maria dệt nên bởi một tâm hồn gắn bó thắm thiết với Mẹ Maria, nếu có cơ hội nghe hay đọc những chia sẻ nồng cháy về việc suy niệm Lời Chúa, về lòng quý mến Chuỗi Mân Côi, về không ít những chủ đề thần học và giáo lý của một người đã từng ngụp lặn và tắm gội trong tình yêu và ánh sáng của Thầy Giêsu nay đang tự nguyện đóng vai loan báo và diễn giải cho các bạn hữu và các anh em, đặc biệt cho những anh em trong cùng một đức tin, hẳn người ta sẽ không ngần ngại ghi nhận nơi con người ấy hình dạng của một môn đệ thừa sai công giáo, một môn đệ thừa sai mong muốn góp phần tối đa vào nhịp đập và sức sống của Giáo hội toàn cầu, của Giáo hội phổ quát, thậm chí muốn chính mình trở thành con tim của toàn bộ nhân trần, toàn thể thế giới : trở thành Thế Tâm. Hoá ra cần phải chấp nhận dằng co, chấp nhận chao nghiêng, nghĩa là không ngừng khao khát, khắc khoải, thao thức và không ngừng tìm kiếm thì mới có thể sẵn sàng để cho Chúa nhào nặn, lay chuyển, soi sáng, để rồi được Ngài cắt đặt làm khí cụ lợi hại và sắc bén trong tay Ngài, làm sứ giả chuyển trao và lan tỏa kho tàng tình yêu khôn vơi từ nơi Ngài.
Có điều khá thú vị là vài ba năm trước khi an nghỉ, người giáo sư xuất sắc lại muốn làm học trò để viết một bài luận văn về tình yêu, với ý hướng phân biệt tình yêu đương giữa vợ chồng với tình yêu thương giữa cha con và ngang qua đó nêu cao mối tình thắm thiết cao quý mà người Kitô hữu được hạnh phúc hưởng nếm mỗi lần cất tiếng thưa “Abba, Lạy Cha”. Bài luận văn được biết là chưa hoàn thành, còn dang dở, khiếm khuyết, hầu chắc do bởi sự suy yếu của khả năng vận dụng trí não nhưng hẳn còn do tầm vóc chưa hoàn chỉnh của một học trò vẫn còn cần thụ huấn về tình yêu. Tình tiết này giúp liên tưởng tới thánh Gioan với hai danh xưng “người môn đệ Chúa yêu” và “người môn đệ dựa đầu vào ngực Chúa”, một người môn đệ, nói nôm na, muốn mãi là học trò dưới mái trường tình yêu của Thầy Giêsu. Nếu thánh Phêrô đã lấy làm sửng sốt và vô cùng khó hiểu khi nghe Thầy Giêsu như thể tuyên bố về Gioan rằng “người môn đệ này sẽ không phải chết”, chúng ta ngày nay thiết tưởng sẽ đón nhận dễ dàng hơn một lời tuyên bố như thế khi đã từng được khai sáng khá quyết liệt rằng tình yêu mạnh hơn sự chết, tình yêu vượt thắng sự chết và sự chết không là một dấu chấm hết nhưng là một cánh cửa mới đang được mở ra: trở về cát bụi không phải là để rồi chìm khuất và tan biến nhưng để được hoàn nguyên thể sẵn sàng cho một khởi đầu mới. Rất có thể có ai đó khi lặp lại những vần thơ bộc bạch những tâm tình trăn trối với đề tựa là Sở Nguyện của người chiến hữu Kitô giáo đang trên đường lữ hành sẽ nghi hoặc và ngờ ngợ tìm gặp nơi đó sự vương vấn của cám dỗ theo đuổi bả vinh hoa, của tham vọng “lưu danh muôn thuở”, của khuynh hướng vun quén một cái tôi trường tồn. Một nghi hoặc như thế thiết tưởng sẽ không đứng vững bởi lẽ nếu đi sâu vào những hành xử, những bộc lộ và sẻ chia của thầy Stêphanô, của vị hành giả thâm trầm, điềm tĩnh và sâu lắng, người ta khó mà tìm gặp được một cái tôi tự khẳng định chính mình hay tự phô trương chính mình nơi mặt nổi nhằm lôi kéo những tán thưởng và hoan nghênh, để rồi phải thừa nhận một sự trổi trang do bởi “hữu xạ tự nhiên hương”, thậm chí thừa nhận rằng “xạ” và “hương” ở đây vốn được chuyển trao qua vai trò của một trung gian chớ không phải qua tư thế của một chủ sở hữu. Quả vậy, nhiều lần nhiều lượt, hành giả Nguyễn Khắc Dương đã nhấn mạnh quan niệm đặc sắc của Kitô giáo về sự chết, về một mầu nhiệm vượt qua của sự sống, vừa tiếp nối vừa biến đổi vừa khởi đầu lại, với nhịp cầu là dòng chảy tình yêu xuyên qua thánh giá của Đấng là Tình Yêu Nhập Thể và Phục Sinh. Hiểu như thế, chúng ta sẽ mạnh dạn xác tín rằng không chỉ riêng thánh Gioan, không chỉ riêng Stêphanô Nguyễn Khắc Dương mà tất cả chúng ta dường như đều được hứa hẹn sẽ không phải chết. Thân xác mỗi người rồi sẽ rã nát, cái ngã của mỗi người rồi sẽ phải ngang qua tiến trình thanh luyện, nhưng những dấu tích tình yêu hay, nói đúng hơn, những hạt mầm tình yêu đã từng được đón nhận và đã từng hoà quyện vào cuộc đời chúng ta sẽ nhất thiết tiếp tục trổ sinh hoa trái. Thật vô nghĩa và bất hạnh cho cuộc đời nào vì không đón nhận tình yêu nên không có gì để chuyển trao và ban tặng. “Thật hạnh phúc cho những ai biết lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” , để rồi sống khiêm hạ và yêu thương phục vụ, cách riêng phục vụ cho những người bé nhỏ và yếu thế. Vần thơ tâm huyết của thầy Nguyễn Khắc Dương quả là lời nhắc nhở quý báu và khẩn thiết cho những ai mong mỏi tiến bước trên con đường hành hương tiến về Vương Quốc Tình Yêu của Cha trên trời:
Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể
Nguyện lót êm chân khách vỉa hè
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo hội, cho nhân loại và cho chúng con một người thầy là Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, đã soi sáng cho chúng con nhận ra được nơi thầy những can thiệp và tác động kỳ diệu của ân sủng Chúa.
Chúng con xin dâng linh hồn thầy lên tôn nhan Chúa với niềm hy vọng và niềm tín tưởng rằng đây chính là của lễ đẹp lòng Chúa.
Xin cho chúng con biết tận dụng và thụ hưởng những hoa trái tình yêu tươi ngon và bổ dưỡng thầy để lại mà đang được chuyển trao dưới nhiều hình thức, để chúng con cũng sẽ nối tiếp thầy làm môn đệ, làm trung gian và làm sứ giả thừa sai nhiệt tình và quảng đại gieo rắc Tin Mừng Tình Yêu của Chúa.
Amen.
