Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Thông Điệp Casti Connubii Của Đức Piô XI Về Hôn Nhân Kitô Giáo

Do nhu cầu học hỏi về môn Luân lý Hôn nhân và Gia đình, nhóm sinh viên Đại Chủng viện Huế đã dịch Thông điệp Casti Connubii sang tiếng Việt, và giờ đây xin giới thiệu đến Quý độc giả.

Thông điệp Casti Connubii (tạm dịch: Hôn nhân Thanh khiết) được Đức Piô XI công bố vào ngày 31.12.1930. Đây là tài liệu có ý nghĩa nhất xuất hiện sau Công đồng Trentô, và là bước chuẩn bị cho Công đồng Vatican II.

Qua Thông điệp này, Đức Piô XI muốn tiếp nối giáo huấn của Thông điệp Arcanum của Đức Lêô XIII về Hôn nhân Kitô giáo (ngày 10 tháng 02 năm 1880), đồng thời « xác nhận và lấy nó làm Thông điệp của Ta, và trong khi muốn trình bày đầy đủ hơn một số điểm cần thiết cho hoàn cảnh của thời đại, Ta vẫn tuyên bố rằng, thay vì lỗi thời, nó vẫn giữ nguyên hiệu lực đầy đủ của nó vào thời điểm hiện tại ».

Có thể nói lập trường cứng rắn của Thông điệp bị chỉ trích nhiều: bảo thủ, tự vệ, thiếu cởi mở. Dù vậy, đừng quên rằng lúc Thông điệp ra đời là trong bối cảnh chủ nghĩa tục hóa lên ngôi và đang là thời lên giá của phân tâm học Freud, nhất là điều gì cũng nói đến « libido » như là động cơ thúc đẩy khoái lạc xác thịt…Xu hướng cá nhân chủ nghĩa lúc đó càng ủng hộ thêm cho trào lưu phóng túng. Bên Anh, Mỹ, phong trào kết bạn thử tràn lan, khiến cho dây hôn nhân mất bền vững, đồng thời bỏ lơ nghĩa vụ sinh con và giáo dục. Tình yêu dường như chỉ đồng nghĩa với thú vui xác thịt. Cuốn « Le mariage parfait » của Vandevelde, một bản ca tụng quá đáng lạc thú xác thịt nam nữ, là một bằng chứng tiêu biểu cho bao tác phẩm văn học, tâm lý học…cổ động tự do luyến ái. Bầu khí như thế đòi buộc Giáo Hội bảo vệ giá trị đích thực và thánh thiện của hôn nhân. Vả lại, Thông điệp nhiều lần trích dẫn tác phẩm « De bono conjugali » (Về các thiện ích của Hôn nhân) của thánh Augustinô. 

Với Thông điệp này, bàn về một đề tài « luôn hiện đại », Đức Piô XI muốn đặt tầm quan trọng cho việc tái thẩm định giá trị của hôn nhân và gia đình như là nền tảng để tái tạo chương trình Kitô hóa thế giới. Đó là nơi « cội nguồn phát sinh ra xã hội ». Đó cũng là sự xác tín của ngài về vai trò căn bản của gia đình trong trật tự cứu độ của con người và của xã hội trần thế.

Mặc dù có một vài điểm giáo thuyết không còn phù hợp với thời nay (như phân biệt các mục đích chính yếu và thứ yếu của hôn nhân, hay việc cấm hôn nhân khác đạo; Giáo luật 1917…), đặc biệt kể từ Công đồng Vatican II, nhưng nhìn chung, Thông điệp này vẫn mang tính thời sự của nó liên quan đến giáo huấn luân lý hôn nhân và gia đình của Giáo hội Công giáo. Các nhà giáo dục, các linh mục, các nhân viên mục vụ, các gia đình, các bạn trẻ đều có thể tìm thấy ở đó những chỉ dẫn hữu ích cho một đời sống hôn nhân thanh khiết.

Ramon Garcia de Haro đã tóm tắt tính chất thời sự của những đường hướng chính của Casti Connubii như sau :

+ Kêu gọi sự chú ý của con người về sự toàn hảo của kế hoạch của Thiên Chúa. =} chuẩn bị cho Familiaris consortio.

+ Ý niệm về tình yêu vợ chồng như thiện ích chính yếu và là nguyên lý sinh động của hôn nhân. =} chuẩn bị cho Vatican II và Familiaris consortio. Tình yêu hôn nhân cần phải thấm nhuần vào trong tất cả mọi bổn phận vợ chồng, bởi vì nó như là linh hồn của gia đình ; không có tình yêu, gia đình sẽ không thể tăng trưởng và sống như cộng đồng các nhân vị, một tình yêu phục vụ cho sự sống và đó cũng chính là mục đích của cộng đoàn ấy (FC 18, 28).

+ Thông điệp đặt tin tưởng vào khả năng có thể thực hiện được việc canh tân Kitô giáo của hôn nhân, nếu con người biết chạy đến với những phương thế mà Thiên Chúa đã muốn.

-----------------------------------

THÔNG ĐIỆP CASTI CONNUBII CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XI VỀ HÔN NHÂN KITÔ GIÁO

Gửi Anh Em Đáng Kính, Các Thượng Phụ, Giáo Chủ, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Và Các Vị Bản Quyền Địa Phương Khác Đang Hưởng Hòa Bình và Hiệp Thông Với Tòa Thánh.

Kính gởi Anh Em đáng kính và Các Con yêu dấu, Lời chào Sức khỏe và Phép Lành Tòa Thánh.

1. Thưa Anh Em đáng kính, thật cao cả biết bao phẩm giá của hôn nhân thanh khiết, vốn có thể được nhận thấy rõ nhất qua Chúa Kitô, Chúa chúng ta, Con của Chúa Cha Hằng Hữu: vì lòng khao khát yêu thương muốn cứu chuộc nhân loại, nên sau khi đảm nhận bản tính con người sa ngã, Người không những đã thiết lập hôn nhân một cách đặc biệt làm nguyên lý và nền tảng cho xã hội gia đình, và do đó cho mọi mối tương giao của con người, mà còn nâng nó lên hàng bí tích đích thực và cao cả của Luật Mới, khôi phục cho hôn nhân sự tinh tuyền nguyên thủy của định chế thần linh, và qua đó, trao phó toàn bộ việc gìn giữ kỷ luật cũng như sự chăm sóc hôn nhân cho Hiền Thê của Người là Giáo hội.

2. Tuy nhiên, để con người ở mọi quốc gia và mọi thời đại có thể gặt hái được những hoa trái mong muốn từ sự canh tân hôn nhân này, trước hết, tâm trí con người cần được soi sáng bởi giáo huấn chân thật của Chúa Kitô về hôn nhân; và kế đến, các cặp vợ chồng Kitô hữu, mà ý chí yếu đuối của họ được củng cố nhờ ân sủng nội tại của Thiên Chúa, cần uốn nắn mọi lối suy nghĩ và hành vi của họ phù hợp với luật tinh tuyền của Chúa Kitô để đạt được sự bình an và hạnh phúc đích thực cho bản thân và gia đình họ.

3. Nhưng, từ Tông Tòa này như từ một tháp canh, không chỉ Ta nhìn thế giới hoàn vũ với ánh mắt phụ tử, mà cả Anh Em đáng kính cũng thấy và cùng chia sẻ nỗi đau sâu sắc với Ta rằng nhiều người lãng quên công trình cứu chuộc thánh thiêng này, hoặc hoàn toàn phớt lờ, hoặc phủ nhận một cách trắng trợn sự thánh thiện cao cả của hôn nhân Kitô giáo, hoặc dựa vào những nguyên tắc sai lầm của một nền đạo đức mới và hoàn toàn lệch lạc, đã quá thường xuyên chà đạp nó dưới chân. Những sai lầm cực kỳ nguy hại và những nền đạo đức suy đồi này đã bắt đầu lan rộng ngay giữa các tín hữu và đang dần dần thâm nhập sâu hơn, nên trong sứ vụ của Ta là Đại Diện Chúa Kitô trên trần gian, là Mục Tử và Thầy Dạy Tối Cao, Ta coi bổn phận của Ta là lên tiếng để giữ cho đàn chiên được giao phó cho Ta chăm sóc khỏi những đồng cỏ bị đầu độc và, trong phạm vi Ta có, để bảo vệ chúng khỏi bị tổn hại.

4. Vì vậy, Ta quyết định nói với Anh Em, và qua Anh Em, với toàn thể Hội Thánh Chúa Kitô và thực sự với toàn thể nhân loại, về bản chất và phẩm giá của hôn nhân Kitô giáo, về những lợi thế và ích lợi mà hôn nhân mang lại cho gia đình và cho chính xã hội loài người, về những sai lầm trái ngược với điểm trọng yếu nhất này của giáo huấn Tin Mừng, về những thói xấu trái nghịch với đời sống hôn nhân, và cuối cùng là về những phương thế chủ yếu cần được áp dụng. Khi làm như vậy, Ta theo bước chân Vị tiền nhiệm đáng kính của Ta là Đức Lêô XIII, mà Thông điệp Arcanum [1] của ngài được công bố cách đây năm mươi năm. Ta xác nhận và lấy nó làm Thông điệp của Ta, và trong khi muốn trình bày đầy đủ hơn một số điểm cần thiết cho hoàn cảnh của thời đại, Ta vẫn tuyên bố rằng, thay vì lỗi thời, nó vẫn giữ nguyên hiệu lực đầy đủ của nó vào thời điểm hiện tại.

5. Và để bắt đầu với chính Thông điệp này, vốn gần như hoàn toàn quan tâm đến việc chứng minh định chế thánh thiêng của hôn nhân, phẩm giá bí tích và tính bền vững vĩnh cửu của nó, hãy nhắc lại một giáo thuyết nền tảng bất biến và bất khả xâm phạm: hôn nhân không phải do con người thiết lập hay phục hồi, nhưng do Thiên Chúa; không phải do con người đặt ra luật lệ để củng cố, xác nhận và nâng cao nó, nhưng do Thiên Chúa, Tác Giả của tự nhiên, và do Chúa Kitô, Chúa chúng ta, Đấng đã cứu chuộc tự nhiên, và vì thế, những luật lệ này không thể bị chi phối bởi bất kỳ sắc lệnh nào của con người hoặc bất kỳ một khế ước trái ngược nào ngay cả giữa vợ chồng. Đây là giáo thuyết của Thánh Kinh;[2] đây là truyền thống liên tục của Giáo hội hoàn vũ; đây là tín điều long trọng của Công đồng Trentô, vốn công bố và thiết lập từ chính lời của Thánh Kinh rằng Thiên Chúa là Tác Giả của sự bền vững vĩnh cửu cho mối dây hôn phối, sự duy nhất và sự vững chắc của nó.[3]

6. Mặc dù hôn nhân tự bản chất là một định chế thánh thiêng, nhưng ý chí con người cũng tham dự vào đó và đảm nhận một vai trò hết sức cao quý. Đối với mỗi cuộc hôn nhân riêng biệt, xét như là sự kết hợp vợ chồng giữa một người nam và một người nữ cụ thể, chỉ phát sinh từ sự ưng thuận tự do của đôi bạn; và hành vi tự do của ý chí này, mà mỗi bên trao ban và đón nhận những quyền lợi riêng của bậc hôn nhân,[4] là điều cần thiết để tạo nên một cuộc hôn nhân đích thực đến nỗi không một quyền lực nhân loại nào có thể thay thế được.[5] Tuy nhiên, sự tự do này chỉ liên quan đến vấn đề liệu đôi bên có thực sự muốn bước vào hôn nhân hay kết hôn với người này hay không; nhưng bản chất của hôn nhân hoàn toàn độc lập với ý chí tự do của con người, để nếu một người đã một lần kết hôn, thì người đó phải tuân theo những luật lệ do Thiên Chúa thiết định và những đặc tính thiết yếu của hôn nhân. Khi bàn về phẩm giá hôn nhân và về con cái như là hoa trái của hôn nhân, vị Tiến sĩ Thiên Thần đã nói: “Những điều này vốn được bao hàm trong hôn nhân do chính khế ước hôn phối, đến nỗi nếu trong sự ưng thuận làm nên hôn nhân có điều gì trái ngược với chúng, thì đó sẽ không phải là một cuộc hôn nhân đích thực.”[6]

7. Do đó, nhờ hôn nhân, tâm hồn của hai người kết ước được gắn kết và hòa quyện với nhau một cách trực tiếp và mật thiết hơn cả thể xác của họ; và sự gắn kết này không do bởi bất cứ cảm xúc thoáng qua nào của trạng thái cảm giác, nhưng do bởi một hành vi có chủ đích và kiên định của ý chí; và từ sự kết hợp tâm hồn này theo thánh ý của Thiên Chúa, phát sinh một mối dây liên kết thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Do đó, bản chất của khế ước này, vốn là đặc thù và riêng biệt của hôn nhân, khiến nó hoàn toàn khác hẳn với sự kết hợp của loài vật vốn chỉ do bản năng mù quáng của tự nhiên, mà không có sự tham dự của lý trí hay ý chí tự do, và cũng khác biệt với những sự kết hợp bừa bãi của con người, vốn hoàn toàn khác xa với mọi sự kết hợp chân thật và cao quý của ý chí, đồng thời không được hưởng bất kỳ quyền lợi nào của đời sống gia đình.

8. Từ điều này, rõ ràng chính quyền hợp pháp có quyền và, do đó, có nghĩa vụ hạn chế, ngăn chặn và trừng phạt những cuộc hôn nhân bất hợp pháp trái ngược với lý trí và tự nhiên. Nhưng vì đây là vấn đề xuất phát từ chính bản tính con người, nên lời dạy của vị tiền nhiệm đáng kính của Ta là Đức Lêô XIII cũng chắc chắn không kém:[7] “Khi lựa chọn bậc sống, chắc chắn rằng mỗi người có quyền và tự do lựa chọn: hoặc tuân theo lời khuyên của Chúa Giêsu Kitô về đức khiết tịnh, hoặc ràng buộc mình vào mối dây hôn phối. Việc tước bỏ khỏi con người quyền tự nhiên và nguyên thủy của hôn nhân, việc hạn chế bằng bất kỳ cách nào những mục đích chính yếu của hôn nhân mà chính Thiên Chúa đã thiết lập ngay từ khởi nguyên qua lời phán: 'Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều',[8] đều vượt quá quyền hạn của bất kỳ luật lệ nào của con người.

9. Do đó, sự kết hợp thánh thiêng của hôn nhân đích thực được thiết lập bởi cả ý muốn của Thiên Chúa lẫn ý muốn của con người. Chính Thiên Chúa thiết lập hôn nhân, định ra các mục đích của nó, ban hành các luật lệ chi phối nó và tuôn đổ những thiện ích từ đó; trong khi con người, qua việc hiến dâng quảng đại bản thân mình cho người kia trong suốt cuộc đời, với sự trợ giúp và cộng tác của Thiên Chúa, trở thành tác nhân của mỗi cuộc hôn nhân riêng biệt, với những bổn phận và thiện ích kèm theo từ định chế thần linh.

10. Thưa Anh Em đáng kính, giờ đây, khi Ta cố gắng trình bày những thiện ích mà Thiên Chúa đã ban cho hôn nhân đích thực là gì, và chúng cao cả đến mức nào, thì Ta chợt nhớ đến lời của vị Tiến sĩ Hội Thánh lỗi lạc mà Ta đã tưởng nhớ gần đây trong Thông điệp Ad salutem nhân dịp kỷ niệm 1500 năm ngày mất của ngài.[9] Thánh Augustinô nói : “Đây là tất cả những thiện ích của hôn nhân, nhờ đó hôn nhân tự nó trở nên một thiện ích: con cái, lòng trung thành vợ chồng và Bí tích.”[10] Và dưới ba tiêu điểm này chứa đựng một bản tóm lược tuyệt vời toàn bộ giáo thuyết về hôn nhân Kitô giáo, mà chính thánh Tiến sĩ đã tuyên bố rõ ràng khi nói: “Về lòng trung thành vợ chồng, không được quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân với người nam hay người nữ khác; về con cái, chúng phải được sinh ra trong tình yêu, được chăm sóc và giáo dục trong bầu khí đạo đức; cuối cùng, về mặt Bí tích, mối quan hệ hôn nhân không được phép phá vỡ, và nếu vợ hoặc chồng đã ly thân thì không được kết hợp với người khác ngay cả vì lợi ích của con cái. Chúng tôi coi đây là luật hôn nhân, nhờ đó sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên được tô điểm và tội ác của sự phóng túng được hạn chế.”[11]

11. Vậy nên, trong số những thiện ích của hôn nhân, con cái chiếm vị trí hàng đầu. Và quả thực, chính Đấng tạo dựng con người, Đấng vì lòng nhân lành muốn dùng con người như cộng tác viên của Ngài trong việc lưu truyền sự sống, đã ban cho chúng ta giáo huấn này. Khi thiết lập hôn nhân trong Vườn Địa đàng, Ngài đã nói với tổ tiên chúng ta, và qua họ, với tất cả các phối ngẫu tương lai: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất.”[12] Thánh Augustinô đã diễn đạt rất hay từ lời của thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Timôthê [13] khi ngài nói: “Chính thánh Tông đồ làm chứng rằng hôn nhân là vì mục đích sinh sản. Ngài nói : 'Tôi muốn các bà góa trẻ hãy tái giá.' Và, như thể có ai đó hỏi ngài, 'Tại sao?', ngài liền nói thêm: 'Để sinh con cái, để làm mẹ gia đình'.”[14]

12. Đây quả là một ân huệ lớn lao của Thiên Chúa, và thiện ích của hôn nhân thật là lớn lao khi xét đến phẩm giá và mục đích cao cả của con người. Bởi vì con người vượt trội hơn mọi thụ tạo hữu hình khác nhờ bản tính lý trí vượt trội của mình. Hơn nữa, Thiên Chúa mong muốn con người được sinh ra không chỉ để sống và tràn đầy trái đất, mà còn hơn thế nữa để họ trở thành những người thờ phượng Thiên Chúa, để họ nhận biết Ngài, yêu mến Ngài và cuối cùng được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng với Ngài; và vì con người được Thiên Chúa nâng lên một cách kỳ diệu vào trật tự siêu nhiên, nên mục đích này vượt xa tất cả những “điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới”.[15] Từ đó, chúng ta dễ dàng thấy được ân huệ của lòng nhân lành của Thiên Chúa lớn lao biết bao, và hoa trái tuyệt vời của hôn nhân là những đứa con được sinh ra bởi quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa thông qua sự hợp tác của đôi vợ chồng.

13. Nhưng các bậc cha mẹ Kitô giáo cũng phải hiểu rằng họ được định liệu không chỉ để sinh sản và duy trì nòi giống trên mặt đất, hay thực sự không chỉ để giáo dục những người tôn thờ Thiên Chúa thật, nhưng còn để giáo dục con cái trở thành chi thể của Hội Thánh Chúa Kitô, để sinh ra những người đồng hương với các Thánh và là người nhà của Thiên Chúa,[16] để cho số những người thờ phượng Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ của chúng ta có thể gia tăng từng ngày.

14. Bởi vì mặc dù các cặp vợ chồng Kitô hữu, cho dầu đã được thánh hóa, cũng không thể truyền thông sự thánh hóa cho con cái của mình; thậm chí chính quá trình tự nhiên của việc sinh sản đã trở thành con đường của sự chết, qua đó tội nguyên tổ được truyền lại cho thế hệ sau. Tuy nhiên, họ vẫn được tham dự phần nào vào những thiện ích của cuộc hôn nhân nguyên thủy trong Vườn Địa đàng, vì họ có trách nhiệm dâng con cái mình cho Giáo hội để nhờ Người Mẹ đầy ơn phúc nhất của con cái Thiên Chúa, họ có thể được tái sinh qua Bí tích Rửa Tội để đạt đến sự công chính siêu nhiên và cuối cùng trở thành những chi thể sống động của Chúa Kitô, tham dự vào sự sống bất diệt và trở thành những người thừa hưởng vinh quang vĩnh cửu mà tất cả chúng ta đều khao khát từ đáy lòng.

15. Nếu một người mẹ Kitô hữu đích thực suy gẫm về những điều này, bà sẽ thực sự cảm nghiệm được niềm an ủi sâu sắc lời Đấng Cứu Thế đã phán về bà: “Người đàn bà... sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian”;[17] và khi cho thấy mình vượt qua tất cả những đau đớn, lo lắng và bận tâm của thiên chức làm mẹ bằng một niềm vui chính đáng và thánh thiện hơn cả niềm vui của người phụ nữ Rôma xưa, mẹ của anh em nhà Gracchi, bà sẽ vui mừng trong Chúa, như thể được đội vương miện bằng vinh quang của con cái mình. Tuy nhiên, cả hai vợ chồng, khi đón nhận những đứa con này từ tay Thiên Chúa với niềm vui và lòng biết ơn, sẽ xem chúng như một nén bạc được Thiên Chúa giao phó cho mình, không chỉ để sử dụng cho lợi ích của riêng họ hay cho trần gian, mà sẽ hoàn trả lại cho Thiên Chúa với phần sinh lời vào ngày phán xét.

16. Tuy nhiên, thiện ích con cái không chỉ dừng lại ở việc sinh ra chúng, mà còn phải thêm điều khác nữa, đó là việc giáo dục con cái cách xứng hợp. Bởi vì Thiên Chúa, Đấng rất khôn ngoan, sẽ không thể lo liệu tốt cho những đứa trẻ đã chào đời, và cho toàn thể nhân loại, nếu Ngài không ban cho những người mà Ngài đã giao phó khả năng và quyền hạn sinh ra chúng, quyền hạn và bổn phận giáo dục chúng. Bởi vì không ai có thể không nhận thấy rằng trẻ em không có khả năng tự lo liệu cho chính mình, ngay cả trong những vấn đề liên quan đến đời sống tự nhiên, và càng không thể trong những vấn đề liên quan đến đời sống siêu nhiên, mà còn cần nhiều năm để được người khác giúp đỡ, hướng dẫn và giáo dục. Giờ đây, chắc chắn rằng theo luật tự nhiên và luật Thiên Chúa, quyền và bổn phận giáo dục con cái trước hết thuộc về những người đã bắt đầu công trình của tự nhiên bằng việc sinh hạ chúng, và họ tuyệt đối không được để công trình này dang dở và do đó khiến nó chắc chắn bị hủy hoại. Nhưng trong hôn nhân, việc giáo dục con cái được thực hiện theo cách tốt nhất có thể, điều này rất cần thiết vì cha mẹ gắn bó với nhau bằng một mối dây bất khả phân ly, nên sự chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau luôn sẵn sàng.

17. Tuy nhiên, vì Ta đã trình bày đầy đủ ở nơi khác về việc giáo dục Kitô giáo cho giới trẻ,[18] nên Ta xin tóm tắt lại tất cả bằng cách trích dẫn một lần nữa lời của thánh Augustinô: “Về phương diện con cái, điều quan trọng là chúng phải được sinh ra trong tình yêu và được giáo dục trong đức tin,”[19] ; và điều này cũng được diễn đạt cách súc tích trong Bộ Giáo luật : “Mục đích chính yếu của hôn nhân là sinh sản và giáo dục con cái.”[20]

18. Cuối cùng, Ta không thể không nhấn mạnh rằng bổn phận được giao phó cho cha mẹ vì lợi ích của con cái là một bổn phận cao cả và vô cùng quan trọng, nên mọi việc sử dụng khả năng mà Thiên Chúa ban cho để sinh ra sự sống mới đều là quyền lợi và đặc ân chỉ dành riêng cho bậc hôn nhân, theo luật Thiên Chúa và luật tự nhiên, và phải được giới hạn tuyệt đối trong phạm vi thánh thiện của hôn nhân.

19. Thiện ích thứ hai của hôn nhân mà Ta đã nói đã được thánh Augustinô nhắc đến, đó là thiện ích về lòng trung thành vợ chồng bao gồm sự chung thủy vợ chồng trong việc tuân giữ khế ước hôn nhân, để những gì thuộc về một trong hai bên theo khế ước này được luật Thiên Chúa chấp thuận, thì không thể bị từ chối đối với người đó hoặc được phép cho bất kỳ người thứ ba nào; cũng không thể được nhượng bộ cho một trong hai bên bất cứ điều gì vốn không bao giờ có thể được nhượng bộ, vì trái với các quyền và luật của Thiên Chúa và hoàn toàn trái ngược với lòng trung thành hôn nhân.

20. Vì vậy, lòng trung thành hôn nhân, hay lòng kính trọng, trước hết đòi hỏi sự hiệp nhất trọn vẹn trong hôn nhân mà chính Đấng Tạo Hóa đã thiết lập ngay từ đầu khi Ngài muốn rằng hôn nhân chỉ là giữa một người nam và một người nữ. Và mặc dù về sau luật nguyên thủy này đã được Thiên Chúa, Đấng Lập Pháp Tối Cao, nới lỏng phần nào, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, luật Phúc Âm đã khôi phục hoàn toàn sự hiệp nhất nguyên thủy và hoàn hảo ấy, cũng như bãi bỏ mọi sự miễn chuẩn như lời Chúa Kitô và giáo huấn cũng như thực hành liên lỉ của Hội Thánh đã chứng minh rõ ràng. Vì vậy, Công đồng Trentô long trọng tuyên bố một cách chính đáng rằng “Chúa Kitô, Chúa chúng ta, đã dạy rất rõ ràng rằng, trong mối dây liên kết này, chỉ có hai người mới được kết hợp và gắn bó với nhau khi Người phán: 'Vì vậy, họ không còn là hai, nhưng là một xương một thịt'.”[21]

21. Chúa Kitô, Chúa chúng ta, không chỉ muốn lên án bất kỳ hình thức đa thê hay đa phu nào, như chúng được gọi, dù là liên tiếp hay đồng thời, và mọi hành vi bất lương bên ngoài khác, nhưng, để bảo vệ tuyệt đối những ràng buộc thánh thiêng của hôn nhân, Người còn cấm cả những tư tưởng và ước muốn cố ý về những điều tương tự: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.”[22] Những lời này của Chúa Kitô, Chúa chúng ta, không thể bị hủy bỏ ngay cả bởi sự đồng ý của một trong hai người bạn đời, vì chúng diễn tả luật của Thiên Chúa và của tự nhiên mà không ý chí nào của con người có thể phá vỡ hoặc làm sai lệch được.[23]

22. Nếu muốn cho thiện ích lòng trung thành vợ chồng tỏa sáng rực rỡ, thì mối tương giao mật thiết giữa vợ chồng phải mang dấu ấn của đức thanh khiết, để vợ chồng tuân theo luật Thiên Chúa và luật tự nhiên trong mọi sự, và luôn cố gắng tuân theo thánh ý khôn ngoan và chí thánh của Đấng Tạo Hóa với lòng tôn kính sâu sắc nhất đối với công trình của Thiên Chúa.

23. Tuy nhiên, lòng trung thành vợ chồng này, mà thánh Augustinô đã gọi một cách rất đúng đắn là “lòng trung thành bằng đức thanh khiết”, sẽ triển nở, tươi đẹp và cao quý hơn, khi nó được bén rễ trên mảnh đất tuyệt vời hơn, là tình yêu vợ chồng vốn thấm nhuần mọi bổn phận của đời sống hôn nhân và chiếm vị trí ưu việt trong hôn nhân Kitô giáo. Bởi vì lòng trung thành hôn nhân đòi hỏi vợ chồng phải kết hợp với nhau trong một tình yêu đặc biệt thánh thiện và tinh tuyền, chứ không phải như những kẻ ngoại tình yêu nhau, nhưng như Chúa Kitô đã yêu thương Hội Thánh. Thánh Tông đồ đã đưa ra lời giáo huấn này khi ngài nói: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh.”[24] Hội Thánh mà thực ra Người đã ôm ấp bằng một tình yêu vô bờ bến, không phải vì lợi ích riêng của Người, mà chỉ vì tìm kiếm lợi ích cho Hiền Thê của Người.[25] Vậy, tình yêu mà chúng ta đang nói đến không phải là tình yêu dựa trên những ham muốn nhất thời, cũng không chỉ nằm ở những lời nói ngọt ngào, nhưng nằm ở sự gắn bó sâu xa của trái tim được thể hiện bằng hành động, bởi vì tình yêu được chứng minh bằng hành động.[26] Sự biểu lộ tình yêu ra bên ngoài này trong mái ấm gia đình không chỉ đòi hỏi sự nâng đỡ lẫn nhau, mà còn phải vươn xa hơn nữa; mục đích chính yếu là để vợ chồng giúp đỡ nhau hằng ngày trong việc đào luyện và kiện toàn đời sống nội tâm, để qua sự kết hợp trong đời sống, họ có thể ngày càng tiến triển hơn về nhân đức, và trên hết, họ lớn lên trong tình yêu chân thật đối với Thiên Chúa và tha nhân, điều mà “tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào.”[27] Vì tất cả mọi người ở bất kỳ bậc sống nào, trong những phận vụ lương thiện của mình, đều có thể và phải noi theo tấm gương thánh thiện tuyệt hảo nhất mà Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại, là chính Đức Kitô, Chúa chúng ta, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa để đạt tới đỉnh cao của sự trọn lành, như được chứng minh bởi tấm gương của nhiều vị thánh.

24. Sự giao thiệp với nhau giữa vợ chồng, cùng nỗ lực kiên trì để hoàn thiện cho nhau này, theo nghĩa rất thực tế, như Sách Giáo lý Rôma dạy, có thể được coi là lý do và mục đích chính yếu của hôn nhân, miễn là hôn nhân không được xem xét theo nghĩa hạn hẹp là được thiết lập để sinh sản và giáo dục con cái một cách đúng đắn, nhưng còn trong ý nghĩa rộng hơn là sự hòa quyện của toàn bộ đời sống cũng như sự trao đổi và chia sẻ cho nhau.

25. Cũng chính bởi tình yêu này mà mọi quyền lợi và bổn phận khác của bậc sống hôn nhân phải được điều chỉnh như lời của thánh Tông đồ: “Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy”[28], điều này không chỉ diễn tả luật công bằng, mà còn cả luật bác ái.

26. Do đó, khi đời sống gia đình được củng cố nhờ mối dây yêu thương này, thì nơi đó phải triển nở “trật tự tình yêu”, như thánh Augustinô gọi. Trật tự này bao hàm cả quyền ưu tiên của người chồng đối với vợ và con cái, cùng với sự sẵn lòng phục tùng và sự vui lòng vâng phục của người vợ, điều mà thánh Tông đồ đã khuyên nhủ bằng những lời này: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của người vợ, cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh.”[29]

27. Tuy nhiên, sự phục tùng này không hề phủ nhận hay tước đoạt đi sự tự do vốn hoàn toàn thuộc về người vợ, xét cả về phẩm giá nhân vị, cũng như trong thiên chức cao quý nhất của người vợ, người mẹ và người bạn đời; nó cũng không bắt buộc người vợ phải tuân theo mọi yêu cầu của chồng nếu những điều ấy không phù hợp với lý trí ngay thẳng hoặc với phẩm giá của người vợ; và cuối cùng, nó cũng không ngụ ý rằng người vợ bị đặt ngang hàng với những người mà pháp luật gọi là vị thành niên, những người mà theo thông lệ, không được phép tự do thực hiện các quyền của mình, do thiếu sự phán đoán chín chắn hoặc thiếu hiểu biết về các vấn đề của con người. Nhưng nó ngăn cấm sự tự do thái quá, vốn không quan tâm đến thiện ích của gia đình; nó ngăn cấm trong cơ thể này, tức là gia đình, trái tim tách lìa khỏi đầu óc, gây tổn hại nghiêm trọng đến toàn bộ cơ thể và dẫn đến nguy cơ sụp đổ. Bởi nếu người chồng là đầu, thì người vợ là trái tim, và như người chồng nắm giữ vị thế hàng đầu trong việc cai quản, thì người vợ cũng có thể và phải dành cho mình vị thế hàng đầu trong tình yêu.

28. Hơn nữa, mức độ và cách thức phục tùng của người vợ đối với người chồng có thể khác nhau tùy theo hoàn cảnh của từng người, nơi chốn và thời đại. Thực vậy, nếu người chồng lơ là bổn phận của mình, người vợ phải thay thế chồng trong việc quản lý gia đình. Tuy nhiên, cấu trúc gia đình và luật cơ bản của nó, do Thiên Chúa thiết lập và chuẩn nhận, cần phải được duy trì nguyên vẹn mọi nơi và mọi lúc.

29. Với sự khôn ngoan sâu xa, Đức Lêô XIII, vị tiền nhiệm khả kính của Ta, trong Thông điệp về hôn nhân Kitô giáo mà Ta đã nhắc đến, khi bàn về trật tự cần duy trì giữa người nam và người nữ, đã dạy rằng: “Người chồng là người cai quản gia đình, và là đầu của người vợ; nhưng vì người vợ là thịt bởi thịt chồng và xương bởi xương chồng, nên nàng hãy phục tùng và vâng lời chồng, không như một người đầy tớ, nhưng như một người bạn đồng hành, để sự vâng phục ấy không làm tổn hại đến danh dự hay phẩm giá của nàng. Hãy để đức ái thánh thiện luôn hướng dẫn mối quan hệ hỗ tương của họ, cả nơi người chồng cai quản lẫn nơi người vợ phục tùng, vì mỗi người đều mang hình ảnh: người chồng mang hình ảnh của Chúa Kitô, người vợ mang hình ảnh của Hội Thánh.”[30]

30. Như vậy, đây là những yếu tố tạo nên thiện ích của lòng trung thành vợ chồng: sự hiệp nhất, đức thanh khiết, đức ái, sự vâng phục cao quý đúng đắn, vốn đồng thời cũng là sự liệt kê những lợi ích được ban cho người chồng và người vợ trong đời sống hôn nhân, những lợi ích nhờ đó sự bình an, phẩm giá và hạnh phúc của hôn nhân được gìn giữ và thăng tiến một cách chắc chắn. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi lòng trung thành vợ chồng luôn được coi là một trong những thiện ích vô giá và đặc biệt nhất của hôn nhân.

31. Nhưng tất cả những lợi ích này được hoàn tất và, có thể nói, được nên hoàn hảo bằng chính thiện ích của hôn nhân Kitô giáo mà, theo lời thánh Augustinô, chúng ta gọi là Bí tích, qua đó biểu thị cả sự bất khả phân ly của mối dây liên kết hôn nhân, sự nâng cao và thánh hóa khế ước bởi chính Chúa Kitô, qua đó Người biến nó thành dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng.

32. Trước hết, chính Chúa Kitô nhấn mạnh đến tính bất khả phân ly và bền vững của dây hôn phối khi Người phán: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly,”[31] và: “Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.”[32]

33. Và thánh Augustinô đã diễn tả rất rõ ràng điều mà ngài gọi là thiện ích của hôn nhân trong sự bất khả phân ly này khi ngài nói: “Trong Bí tích, điều được ấn định là dây hôn phối không được tháo gỡ, và nếu người chồng hoặc người vợ đã ly thân, thì cũng không được kết hợp với người khác ngay cả vì lý do muốn có con cái.”[33]

34. Mặc dù không hoàn hảo như nhau trong mọi trường hợp, nhưng tính bền vững bất khả xâm phạm này vẫn thuộc về mọi cuộc hôn nhân đích thực, vì câu Lời Chúa “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” tất yếu phải bao gồm mọi cuộc hôn nhân đích thực, không có ngoại lệ, vì lời này đã nói về cuộc hôn nhân của tổ tiên đầu tiên chúng ta, khuôn mẫu của mọi cuộc hôn nhân tương lai. Do đó, mặc dù trước thời Chúa Kitô, sự cao cả và khắt khe của luật nguyên thủy đã được điều chỉnh đến mức Môsê cho phép dân được tuyển chọn của Thiên Chúa, vì lòng chai đá của họ, được phép viết đơn ly dị trong một số trường hợp nhất định, tuy nhiên, Chúa Kitô, nhờ quyền năng lập pháp tối thượng của Người, đã thu hồi lại sự nhượng bộ này và khôi phục lại tính toàn vẹn của luật nguyên thủy bằng những lời không bao giờ được quên: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Vì vậy, vị tiền nhiệm đáng kính của Ta, là Đức Piô VI, đã viết một cách rất khôn ngoan cho Giám mục của Agria: “Vì vậy, rõ ràng hôn nhân, ngay cả trong tình trạng tự nhiên, và chắc chắn là từ lâu trước khi được nâng lên hàng Bí tích, đã được Thiên Chúa thiết lập theo cách thức mà nó hàm chứa một mối dây liên kết vĩnh viễn và bất khả phân ly, do đó không thể bị tháo gỡ bởi bất kỳ luật dân sự nào. Do đó, cho dù yếu tố Bí tích có thể không hiện diện trong hôn nhân như trường hợp của những người không tin, thì trong một cuộc hôn nhân như vậy, vì là một cuộc hôn nhân đích thực, nên phải tồn tại và thực sự tồn tại mối dây liên kết vĩnh viễn, theo quyền Thiên Chúa, được gắn kết với hôn nhân ngay từ lần thiết lập đầu tiên đến mức nó không chịu sự chi phối của bất kỳ quyền lực dân sự nào. Và vì vậy, bất kỳ cuộc hôn nhân nào được cho là đã được ký kết, hoặc là nó được ký kết đến mức nó thực sự là một cuộc hôn nhân đích thực, trong trường hợp đó, nó mang theo mối dây liên kết bền vững vốn có theo luật của Thiên Chúa trong mọi cuộc hôn nhân đích thực; hoặc là nó được cho là đã được ký kết mà không có mối dây liên kết vĩnh viễn đó, và trong trường hợp đó không có hôn nhân, mà chỉ là một sự kết hợp bất hợp pháp, trái ngược với chính bản chất của nó với luật Thiên Chúa, do đó không thể được thiết lập hoặc duy trì.”[34]

35. Và nếu tính bền vững ấy dường như có thể có ngoại lệ, dù ngoại lệ ấy rất hiếm hoi, như trong trường hợp một số cuộc hôn nhân tự nhiên giữa những người không tin, hay giữa những người Kitô hữu trong trường hợp những cuộc hôn nhân tuy thành sự, nhưng chưa được hoàn hợp, thì ngoại lệ đó không phụ thuộc vào ý muốn của con người hay bất kỳ quyền lực nhân loại nào, nhưng phụ thuộc vào luật Thiên Chúa, mà người bảo vệ và giải thích duy nhất là Giáo hội của Chúa Kitô. Tuy nhiên, ngay cả quyền bính này cũng không bao giờ có thể, vì bất kỳ lý do nào, tác động đến một cuộc hôn nhân Kitô giáo thành sự và đã hoàn hợp, bởi vì rõ ràng là ở đây khế ước hôn nhân đã đạt đến sự viên mãn trọn vẹn, nên, theo thánh ý Thiên Chúa, nó cũng có sự bền vững và bất khả phân ly tuyệt đối mà không một quyền bính nhân loại nào có thể phá hủy.

36. Thưa Anh Em đáng kính, nếu chúng ta muốn tìm hiểu lý do sâu xa của sắc lệnh thần linh này với tất cả lòng cung kính, thì chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra điều đó trong ý nghĩa mầu nhiệm của hôn nhân Kitô giáo, vốn được chứng thực cách trọn vẹn và hoàn hảo nơi hôn nhân đã hoàn hợp giữa các Kitô hữu. Bởi vì, như thánh Tông đồ đã nói trong Thư gửi tín hữu Êphêsô,[35] hôn nhân giữa các Kitô hữu là hình ảnh của mối hiệp nhất hoàn hảo nhất giữa Chúa Kitô và Hội Thánh: “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh;” mối hiệp nhất ấy, bao lâu Chúa Kitô vẫn hằng sống và Hội Thánh còn tồn tại nhờ Người, sẽ không bao giờ có thể bị phân ly bởi bất kỳ sự chia cắt nào. Và thánh Augustinô đã tuyên bố rõ ràng điều này bằng những lời sau: “Điều này được bảo toàn nơi Chúa Kitô và Hội Thánh. Khi sống với Chúa Kitô, Đấng hằng sống muôn đời, Hội Thánh không bao giờ bị tách lìa khỏi Người. Việc tuân giữ Bí tích này được thực hiện trong Thành đô Thiên Chúa... tức là trong Hội Thánh của Chúa Kitô, đến nỗi khi vì mục đích sinh con, người phụ nữ kết hôn hoặc lấy chồng, thì việc bỏ một người vợ hiếm muộn để lấy một người khác để sinh con là sai trái. Bất cứ ai làm như thế là phạm tội ngoại tình, giống như thể họ kết hôn với một người khác, không phạm tội theo luật thời đó, theo đó khi người bạn đời của mình bị bỏ rơi, và một người khác có thể lấy, điều mà Chúa đã cho phép trong luật Môsê vì lòng chai dạ đá của dân Israel; nhưng phạm tội theo luật Phúc Âm.”[36]

37. Thật vậy, bất cứ ai, dù chỉ thoáng nghĩ đến thiện ích của vợ chồng và con cái, hay đến phúc lợi của xã hội nhân loại, cũng đều có thể nhận ra biết bao điều tốt lành và cao quý phát xuất từ tính bất khả phân ly của hôn nhân. Trước hết, cả vợ lẫn chồng đều có sự bảo đảm vững chắc và tích cực cho tính bền vững lâu dài của trạng thái ổn định này, điều mà chính sự hiến dâng quảng đại bản thân và mối hiệp thông sâu xa của tâm hồn tự bản chất đòi hỏi, bởi vì tình yêu đích thực không bao giờ mất được.[37] Hơn nữa, một bức tường thành vững chắc được dựng lên để bảo vệ đức thanh khiết trung tín khỏi mọi cám dỗ ngoại tình, nếu có, dù từ bên trong hay bên ngoài; bất kỳ nỗi sợ hãi lo lắng nào về việc người phối ngẫu kia sẽ không chung thủy khi gặp nghịch cảnh hay tuổi già đều bị loại trừ và thay vào đó là một cảm giác an toàn, bình tâm. Hơn nữa, phẩm giá của cả chồng lẫn vợ được duy trì, và sự nâng đỡ lẫn nhau được bảo đảm một cách chắc chắn nhất, trong khi nhờ mối dây hôn nhân bất khả phân ly, luôn bền vững, vợ chồng không ngừng được nhắc nhớ rằng họ đã bước vào quan hệ hôn nhân, không phải vì những thứ phù du hay để thỏa mãn dục vọng, nhưng là để mang lại cho nhau những điều tốt đẹp cao cả và lâu dài, và điều này chỉ có thể chấm dứt bởi cái chết. Trong việc nuôi dạy và giáo dục con cái, vốn phải kéo dài trong nhiều năm, điều này đóng một vai trò quan trọng, bởi vì những gánh nặng nặng nề và lâu dài của bổn phận làm cha mẹ có thể được chu toàn cách tốt nhất nhờ những nỗ lực chung của cả hai. Điều này cũng mang lại lợi ích không kém cho toàn thể xã hội nhân loại. Vì kinh nghiệm đã dạy rằng sự ổn định vững chắc trong hôn nhân là nguồn mạch dồi dào của một đời sống đạo đức và một nếp sống liêm chính. Nơi nào có được trật tự này, hạnh phúc và sự thịnh vượng của quốc gia được bảo đảm; gia đình và cá nhân ra sao, thì Nhà nước cũng vậy, vì một cơ thể được xác định bởi các bộ phận của nó. Do đó, vì thiện ích riêng của vợ chồng và con cái, cũng như vì lợi ích chung của xã hội nhân loại, thật đáng được ca ngợi những ai kiên tâm bảo vệ sự bền vững bất khả xâm phạm của hôn nhân.

38. Nhưng khi xét đến những lợi ích của Bí tích, ngoài sự bền vững và bất khả phân ly, còn có những ân ban cao trọng hơn nữa, như chính từ Bí tích đã diễn tả một cách rất xác đáng; bởi vì đối với các Kitô hữu, đây không phải là một danh xưng rỗng tuếch hay vô nghĩa. Chúa Kitô, Đấng thiết lập và “kiện toàn”các Bí tích thánh,[38] khi nâng hôn nhân của các tín hữu Người lên hàng Bí tích đích thực của Luật Mới, đã làm cho nó trở thành dấu chỉ và nguồn mạch của ân sủng nội tâm đặc biệt, nhờ đó “nó kiện toàn tình yêu tự nhiên, củng cố sự kết hợp bất khả phân ly và thánh hóa đôi vợ chồng.”[39]

39. Và vì sự ưng thuận hôn nhân thành sự giữa các tín hữu đã được Chúa Kitô thiết lập như là dấu chỉ của ân sủng, nên bản chất bí tích gắn liền mật thiết với hôn nhân Kitô giáo đến nỗi không thể có một cuộc hôn nhân đích thực nào giữa những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội mà lại “không tự bản chất đó là một Bí tích”.[40]

40. Do đó, chính nhờ sự ưng thuận chân thành của các tín hữu, họ mở ra cho mình một kho tàng ân sủng Bí tích, từ đó họ có thể kín múc sức mạnh siêu nhiên để chu toàn các quyền lợi và bổn phận của mình một cách trung thành, thánh thiện, và kiên vững cho đến chết. Vì thế, Bí tích này không chỉ gia tăng ơn thánh hóa, nguyên lý thường hằng của đời sống siêu nhiên, nơi những ai, như cách diễn đạt, không đặt chướng ngại (obex) nào cho ơn Chúa, mà còn ban thêm những ân huệ, những tâm tình, những hạt giống ân sủng đặc biệt, bằng cách nâng cao và kiện toàn các năng lực tự nhiên. Nhờ những ân huệ này, đôi bạn được trợ giúp không chỉ để hiểu biết, mà còn thấu hiểu cách sâu xa, để gắn bó chặt chẽ, để ước muốn thực hiện một cách hữu hiệu những điều liên quan đến bậc sống hôn nhân, cùng với những mục đích và bổn phận của nó, ban cho họ quyền được ân sủng trợ giúp thực sự, bất cứ khi nào họ cần để chu toàn các bổn phận trong bậc sống của mình.

41. Tuy nhiên, vì theo luật của Thiên Chúa Quan Phòng trong trật tự siêu nhiên, con người không thể gặt hái trọn vẹn hoa trái của các Bí tích mà họ lãnh nhận sau khi đã có được khả năng sử dụng lý trí nếu không cộng tác với ân sủng, nên ân sủng hôn nhân phần lớn sẽ vẫn là một nén bạc vô dụng bị chôn giấu trong ruộng, nếu đôi bạn không sử dụng những năng lực siêu nhiên này, vun trồng và phát triển những hạt giống ân sủng mà họ đã lãnh nhận. Tuy nhiên, nếu họ làm tất cả những gì nằm trong khả năng của mình, cộng tác một cách siêng năng, họ sẽ có thể dễ dàng gánh vác những gánh nặng của bậc sống và chu toàn bổn phận của mình. Nhờ Bí tích này, họ sẽ được củng cố, thánh hóa và thánh hiến theo một cách nào đó. Bởi vì, như thánh Augustinô dạy, cũng như qua Bí tích Rửa Tội và Truyền Chức Thánh, con người được tách riêng ra và được trợ giúp cho những bổn phận của đời sống Kitô hữu hoặc cho tác vụ linh mục, và không bao giờ bị tước mất ơn trợ giúp Bí tích ấy, thì cũng tương tự như vậy (mặc dù không phải do ấn tín Bí tích), các tín hữu một khi đã kết hợp với nhau trong hôn nhân sẽ không bao giờ bị tước mất sự trợ giúp và sức mạnh ràng buộc của Bí tích này. Thật vậy, như Thánh Tiến sĩ nói thêm, ngay cả những người phạm tội ngoại tình cũng mang theo ách thánh thiêng đó, mặc dù trong trường hợp này không còn như một danh hiệu vinh quang của ân sủng, mà là sự ô nhục của hành động tội lỗi của họ,“giống như linh hồn, do bội giáo, lìa bỏ cuộc hôn nhân với Chúa Kitô, mặc dù có thể đã mất đức tin, nhưng không đánh mất bí tích Đức tin mà họ đã lãnh nhận nơi giếng tái sinh.”[41]

42. Cần lưu ý rằng, những đôi bạn này, không bị ràng buộc nhưng được trang điểm bằng mối dây vàng của Bí tích, không bị cản trở nhưng được trợ giúp, cần nỗ lực hết mình để cuộc hôn nhân của họ; không chỉ nhờ vào quyền năng và ý nghĩa biểu tượng của Bí tích, nhưng còn nhờ vào tinh thần và lối sống của chính họ, có thể và vẫn luôn là hình ảnh sống động của sự kết hợp đầy hoa trái giữa Chúa Kitô và Giáo hội, vốn được tôn kính như dấu chỉ thánh thiêng của tình yêu hoàn hảo nhất.

43. Thưa Anh Em đáng kính, tất cả những điều này, Anh Em phải cân nhắc kỹ lưỡng và suy ngẫm với một đức tin sống động, nếu Anh Em muốn thấy rõ trong ánh sáng chân thực những thiện ích phi thường của hôn nhân - con cái, lòng trung thành vợ chồng, và Bí tích. Không ai có thể không ngưỡng mộ sự Khôn Ngoan, Thánh Thiện và Nhân Lành của Thiên Chúa, Đấng vừa tôn trọng phẩm giá và hạnh phúc của vợ chồng, vừa ban phát dồi dào cho việc gìn giữ và phát triển nhân loại bằng một sự kết hợp hôn nhân thanh khiết và thánh thiện.

44. Thưa Anh Em đáng kính, khi chúng ta chiêm ngắm sự cao quý tuyệt vời của hôn nhân thanh khiết, chúng ta càng thấy đáng tiếc hơn khi chứng kiến ​​định chế thiêng liêng này, đặc biệt là trong thời đại của chúng ta, thường bị khinh miệt và bị hạ thấp về mọi mặt.

45. Nhưng than ôi, ngày nay, không còn phải bí mật hay che giấu nữa, mà là công khai, gạt bỏ mọi mặc cảm xấu hổ, rồi qua lời nói, qua văn chương, qua đủ loại hình sân khấu, qua tiểu thuyết lãng mạn, qua tiểu thuyết tình ái và phù phiếm, qua những phim ảnh khắc họa những hình ảnh sống động, qua những bài phát biểu được phát qua sóng vô tuyến, tóm lại là qua tất cả những phát minh của khoa học hiện đại, sự thánh thiêng của hôn nhân bị chà đạp và chế giễu; ly hôn, ngoại tình, tất cả những tệ nạn xấu xa nhất hoặc được ca ngợi, hoặc ít nhất được miêu tả bằng những sắc thái hấp dẫn, khiến chúng dường như không còn đáng trách hay đáng hổ thẹn. Không thiếu những cuốn sách dám tự xưng là khoa học, nhưng thực chất chỉ khoác lên mình lớp vỏ bề ngoài khoa học để dễ dàng gieo rắc tư tưởng của chúng. Những học thuyết được bảo vệ trong đó được rao bán như những thành quả của tinh thần hiện đại, nghĩa là của tinh thần chỉ khao khát chân lý, được coi là đã thoát khỏi mọi quan điểm lỗi thời và non nớt của người xưa; họ xếp học thuyết truyền thống về hôn nhân Kitô giáo vào số những quan điểm ​​lỗi thời ấy.

46. ​​Những tư tưởng này được thấm nhuần vào con người thuộc mọi tầng lớp, kẻ giàu và người nghèo, chủ nhân và công nhân, người biết chữ và kẻ không biết chữ, người đã kết hôn và kẻ độc thân, người sùng đạo và kẻ vô thần, người già và người trẻ, nhưng chính những người trẻ, là con mồi dễ dàng sa ngã nhất, những cạm bẫy tồi tệ nhất đã được giăng ra.

47. Không phải tất cả những người cổ vũ cho những học thuyết mới mẻ này đều bị cuốn vào đam mê vô độ của nhục dục; có những người, cố gắng đi theo con đường trung dung, vẫn tin rằng cần phải nhượng bộ một số điều trong thời đại chúng ta liên quan đến một số giới luật của luật Thiên Chúa và luật tự nhiên. Nhưng những người này, dù ít hay nhiều, cũng là tay sai của kẻ thù lớn, kẻ luôn tìm cách gieo cỏ lùng vào giữa lúa.[42] Vì vậy, Ta, người được Chúa Cha giao phó coi sóc cánh đồng của Ngài, Ta, người được giao phó bởi chức vụ thánh thiêng nhất của Ta trong việc cẩn thận chăm lo kẻo hạt giống tốt bị cỏ dại làm nghẹt, tin rằng thật thích hợp khi áp dụng cho chính Ta những lời nghiêm khắc nhất của Chúa Thánh Thần mà thánh Tông đồ Phaolô đã khuyên nhủ Timôthê yêu dấu của mình: “Hãy tỉnh thức... Hãy chu toàn chức vụ của con... hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.”[43]

48. Và để tránh được những sự lừa dối của kẻ thù, trước hết cần phải vạch trần chúng; vì việc lên án những sai lầm này cũng mang lại nhiều lợi ích cho những người thiếu cảnh giác, nên mặc dù Ta không muốn nêu tên những tội lỗi này “như lẽ thường tình nơi các thánh”,[44] nhưng vì phần rỗi các linh hồn, Ta không thể hoàn toàn im lặng.

49. Để bắt đầu từ chính nguồn gốc của những điều xấu xa này, nguyên tắc cơ bản của chúng nằm ở chỗ hôn nhân được liên tục tuyên bố là không phải do Đấng Tạo Hóa thiết lập, cũng không phải do Chúa Kitô nâng lên phẩm giá của một Bí tích đích thực, mà là do con người phát minh ra. Một số người tự tin khẳng định rằng họ không tìm thấy bằng chứng nào về sự hiện hữu của hôn nhân trong tự nhiên hay trong các quy luật của nó, mà chỉ coi nó như phương thế để sản sinh sự sống và thỏa mãn bằng cách này hay cách khác một ham muốn mãnh liệt; mặt khác, những người khác nhìn nhận rằng nơi bản tính con người có thể tìm thấy những khởi điểm, hay nói cách khác, những mầm mống của hôn nhân đích thực, bởi vì, nếu con người không được liên kết với nhau bằng một mối dây ràng buộc lâu dài nào đó, thì phẩm giá của người chồng và người vợ hay mục đích tự nhiên là sinh sản và dưỡng dục con cái sẽ không được chu toàn cách thích đáng. Đồng thời, họ cho rằng, vượt ra ngoài ý niệm sơ khởi này, hôn nhân, thông qua nhiều nguyên nhân đồng thời khác nhau, chỉ được phát minh ra bởi tâm trí con người, được thiết lập hoàn toàn bởi ý chí của con người.

50. Tất cả những người này sai lầm nghiêm trọng đến mức nào và họ trơ trẽn rời bỏ con đường ngay chính ra sao, điều này đã được chứng minh rõ ràng qua những gì Ta đã trình bày ở đây về nguồn gốc và bản chất của hôn nhân, mục đích và những thiện ích vốn có trong đó. Sự nguy hại của học thuyết này được thấy rõ qua những hậu quả mà những người ủng hộ nó rút ra cụ thể rằng luật lệ, thể chế và phong tục chi phối hôn nhân, vì chúng phát xuất từ ý muốn của con người, nên hoàn toàn phụ thuộc vào con người, do đó có thể và phải được thiết lập, thay đổi và bãi bỏ theo ý thích của con người và những hoàn cảnh biến động của các vấn đề nhân sinh; rằng khả năng sinh sản, vốn bắt nguồn từ chính bản tính tự nhiên, thì thánh thiêng hơn và bao quát hơn hôn nhân - do đó, nó có thể được thực hiện cả bên ngoài lẫn bên trong phạm vi hôn nhân, và dù mục đích của hôn nhân bị gạt sang một bên, nhưng như thể ám chỉ rằng sự phóng túng của một người phụ nữ dâm đãng cũng được hưởng những quyền lợi ngang bằng với thiên chức làm mẹ đầy thanh khiết của một người vợ hợp pháp.

51. Được trang bị những nguyên tắc này, một số người đã đi xa đến mức bày ra những hình thức kết hợp mới, mà họ dám gọi là “tạm thời”, “thử nghiệm” hay “đồng hành”, và tự phụ cho rằng đó là những hình thức phù hợp với tinh thần cũng như đòi hỏi của thời đại hôm nay. Thực chất, những sự kết hợp giả tạo ấy chỉ nhằm tìm kiếm mọi sự hưởng thụ và quyền lợi vốn gắn liền với hôn nhân, nhưng lại cố tình loại bỏ đặc tính bất khả phân ly cùng với thiên chức sinh sản, trừ phi sau này đôi bên thay đổi việc chung sống ấy thành một cuộc hôn nhân theo đúng nghĩa pháp lý.

52. Thực vậy, có những người còn mong muốn và khăng khăng đòi cho những thực hành như thế được hợp pháp hóa bằng luật pháp, hoặc ít nhất được chấp nhận rộng rãi trong quần chúng. Thế nhưng, họ dường như không nhận ra rằng những đề nghị này hoàn toàn không phải là biểu hiện của một nền “văn hóa” hiện đại như họ vẫn hãnh diện khoe khoang, nhưng thực chất chỉ là những điều ghê tởm đáng ghét, và chắc chắn sẽ kéo lùi các quốc gia thực sự văn minh của chúng ta xuống ngang hàng với tiêu chuẩn man rợ của những dân tộc còn hoang dã.

53. Và giờ đây, thưa Anh Em đáng kính, Ta sẽ trình bày chi tiết về những sự dữ nghịch lại với từng thiện ích của hôn nhân. Trước hết, phải xét đến con cái, vốn là thiện ích hàng đầu của đời sống hôn nhân, nhưng lại bị nhiều người cả gan gọi là một gánh nặng khó chịu. Họ cho rằng những người đã kết hôn cần phải tìm cách tránh né, không phải bằng sự tiết dục thánh thiện mà luật Kitô giáo cho phép trong hôn nhân khi cả hai bên đồng thuận, nhưng lại bằng cách cố tình phá hủy ý nghĩa và bản chất của hành vi hôn nhân. Có người biện minh cho sự lạm dụng tội lỗi ấy với lý do đã chán ngán vì nhiều con cái và chỉ muốn thỏa mãn dục vọng mà không phải chịu trách nhiệm về hậu quả. Người khác lại cho rằng họ không thể sống tiết dục, nhưng cũng không thể đón nhận con cái, bởi những khó khăn đến từ tình trạng sức khỏe của người mẹ hay hoàn cảnh gia đình.

54. Nhưng không một lý do nào, dù có vẻ nghiêm trọng đến đâu, có thể làm cho một điều vốn dĩ nghịch với tự nhiên lại trở thành phù hợp với tự nhiên và tốt lành về phương diện luân lý. Do đó, vì hành vi hôn nhân được tự nhiên trước hết hướng đến việc sinh sản con cái, nên những ai thực hiện hành vi ấy mà cố tình làm suy yếu sức mạnh và phá hỏng mục đích tự nhiên của nó thì phạm tội nghịch lại với luật tự nhiên, đồng thời thực hiện một hành vi đáng xấu hổ và tự bản chất vốn đã sai trái.

55. Vì thế, thật chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Thánh Kinh minh chứng rằng Thiên Chúa Tối Cao vô cùng ghê tởm tội ác khủng khiếp này, và đôi khi đã trừng phạt nó bằng án phạt sự chết. Thánh Augustinô đã ghi nhận: Ngay cả khi chung sống với người vợ hợp pháp của mình, nếu người ta cố tình ngăn cản việc thụ thai con cái, thì đó cũng là điều bất chính và tội lỗi. Onan, con của Giuđa, đã làm điều ấy, và Thiên Chúa đã giết nó vì tội đó.”[45]

56. Do đó, vì một số người gần đây đã công khai đi ngược lại truyền thống liên tục của Kitô giáo, để rồi cho rằng có thể long trọng tuyên bố một giáo thuyết khác về vấn đề này, nên Hội Thánh Công giáo, được Thiên Chúa ủy thác trách nhiệm gìn giữ sự toàn vẹn và tinh tuyền của luân lý, trong khi vẫn kiên vững giữa cảnh suy đồi luân lý đang bao quanh, để bảo vệ sự trong sạch của hôn nhân khỏi bị ô uế bởi vết nhơ xấu xa này, đã lên tiếng khẳng định vai trò sứ giả của Thiên Chúa và, qua miệng của Ta, một lần nữa tuyên bố: bất kỳ hành vi hôn nhân nào được thực hiện theo cách cố tình triệt tiêu khả năng tự nhiên sinh sản sự sống của hành vi ấy đều là sự xúc phạm đến luật của Thiên Chúa và luật tự nhiên; và những ai cố tình sa phạm vào đó đều mắc tội trọng.

57. Vì vậy, với thẩm quyền tối cao và lòng quan tâm đến phần rỗi các linh hồn, Ta khuyên nhủ các linh mục giải tội và những ai có trách nhiệm coi sóc các linh hồn đừng để các tín hữu được trao phó cho mình lầm lạc về lề luật nghiêm trọng này của Thiên Chúa. Hơn nữa, chính các ngài cũng phải hết sức giữ mình khỏi những quan điểm sai lạc đó, không được dung túng chúng dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu bất kỳ linh mục giải tội hay mục tử nào - xin Chúa đừng để điều đó xảy ra - lại dẫn dắt các tín hữu được giao phó cho mình sa vào những sai lầm này, hoặc ít nhất là củng cố họ trong đó bằng sự tán thành hay sự im lặng đầy tội lỗi, thì chính vị đó hãy ý thức rằng mình sẽ phải chịu sự phán xét nghiêm khắc trước mặt Thiên Chúa, Vị Thẩm Phán Tối Cao, vì đã phản bội sứ vụ thiêng liêng được giao phó, và vị ấy hãy ghi lòng tạc dạ lời của Đức Kitô: “Họ là những người mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố.”[46]

58. Trong vấn đề lạm dụng hôn nhân, ngoài những lý lẽ đáng hổ thẹn vốn đã bị loại bỏ, không ít lần người ta đưa ra những luận cứ sai lầm và phóng đại. Mẹ Hội Thánh luôn thấu hiểu và trân trọng cách rõ ràng tất cả những gì liên quan đến sức khỏe của người mẹ và đến những nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng của họ. Ai lại không đau buồn sâu xa khi nghĩ đến những hoàn cảnh bi thương ấy? Ai lại không tràn đầy lòng ngưỡng mộ trước tấm gương cao cả và anh hùng của người mẹ, dám hiến dâng mạng sống mình để bảo toàn sự sống cho thai nhi mà bà đang cưu mang? Chỉ có Thiên Chúa, Đấng vô cùng quảng đại và nhân từ khôn lường, mới có thể ban phần thưởng xứng đáng cho họ vì đã hoàn tất trọng trách cao quý mà chính tự nhiên đã ký thác cho họ; và chắc chắn Ngài sẽ trả công bội hậu, dư đầy và sung mãn.[47]

59. Hội Thánh cũng hiểu rõ rằng, không hiếm trường hợp, một bên vợ hoặc chồng phải chịu đựng hơn là cùng tham dự vào tội lỗi, khi vì một lý do hệ trọng, họ miễn cưỡng chấp nhận sự đảo lộn trật tự ngay chính. Trong hoàn cảnh như thế, bên chịu đựng không mang tội, miễn là, trong tinh thần bác ái, họ không từ bỏ việc tìm cách khuyên ngăn và ngăn chặn người bạn đời khỏi sa vào tội lỗi. Cũng không thể coi là hành động nghịch lại tự nhiên đối với những người trong bậc hôn nhân sử dụng quyền lợi vợ chồng một cách chính đáng, mặc dù do những nguyên nhân tự nhiên về thời gian, hoặc vì một số khiếm khuyết nào đó, mà sự sống mới không thể được hình thành. Bởi vì trong hôn nhân cũng như trong việc thực thi các quyền hôn nhân, còn có những mục đích thứ yếu, như sự tương trợ lẫn nhau, vun đắp tình yêu cho nhau và xoa dịu dục vọng, mà vợ chồng không bị cấm cân nhắc, miễn là những mục đích này được đặt dưới mục đích chính và bản chất nội tại của hành vi vẫn được bảo toàn.

60. Ta cũng hết lòng cảm thông và chia sẻ sâu xa với những đau khổ của các bậc cha mẹ, khi trong cảnh túng quẫn cùng cực, họ phải đối diện với muôn vàn khó khăn trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái của mình.

61. Tuy nhiên, họ cần thận trọng, kẻo tình trạng tai hại của những việc bên ngoài của họ lại trở thành cái cớ cho một sai lầm còn tai hại hơn nhiều. Không một khó khăn nào có thể biện minh cho việc loại bỏ lề luật của Thiên Chúa, vốn cấm tuyệt đối mọi hành vi xấu xa tự bản chất. Không một hoàn cảnh nào có thể khiến cho vợ chồng, khi được củng cố bằng ơn thánh dồi dào của Thiên Chúa, lại không thể trung thành chu toàn bổn phận của mình và giữ gìn sự thanh khiết tinh tuyền của đời sống hôn nhân. Chân lý đức tin Kitô giáo này đã được minh nhiên xác quyết trong giáo huấn của Công đồng Trentô: “Đừng ai liều lĩnh khẳng định điều mà các Nghị phụ Công đồng đã đặt dưới án vạ tuyệt thông, đó là : có những giới luật của Thiên Chúa mà người công chính không thể tuân giữ. Thiên Chúa không đòi hỏi điều bất khả thi, nhưng qua các mệnh lệnh của Ngài, Ngài dạy anh chị em hãy làm những gì anh chị em có thể làm, Ngài dạy anh chị em cầu xin cho những gì anh chị em không thể làm được để Ngài có thể giúp anh chị em.”[48]

62. Giáo lý này đã được Hội Thánh long trọng lặp lại và xác quyết trong việc lên án lạc thuyết Jansen, vốn đã dám thốt lên lời phạm thượng chống lại lòng nhân lành của Thiên Chúa: Một số giới luật của Thiên Chúa, xét theo khả năng mà con người có được, là không thể chu toàn được ngay cả đối với người công chính, vốn ước muốn tuân giữ luật và nỗ lực làm như thế; bởi vì họ thiếu ân sủng cần thiết để có thể chu toàn những luật này. [49]

63. Tuy nhiên, thưa Anh Em đáng kính, còn một tội ác nghiêm trọng khác đáng phải lưu ý, đó là việc tước đoạt mạng sống của thai nhi đang được cưu mang trong dạ mẹ. Có những người dám cho rằng điều này có thể được phép và để mặc cho ý muốn của người cha hay người mẹ; những người khác lại cho rằng hành động này là bất hợp pháp, trừ khi có những lý do quan trọng mà họ gọi là “chỉ định” về mặt y tế, xã hội hoặc ưu sinh. Bởi vì vấn đề này thuộc phạm vi luật hình sự của quốc gia, vốn cấm việc hủy diệt thai nhi, nên những người này lại yêu cầu rằng các “chỉ định” kia, dưới hình thức này hay hình thức khác mà họ bênh vực, phải được công nhận hợp pháp và miễn trừ mọi hình phạt. Hơn nữa, còn có những người yêu cầu chính quyền hỗ trợ thực hiện các thủ thuật gây chết người này, một điều mà, thật đáng buồn, ai cũng biết là đang diễn ra rất thường xuyên tại một số nơi.

64. Thưa Anh Em đáng kính, về vấn đề “chỉ định y khoa và trị liệu” mà Ta đã đề cập, theo chính cách diễn đạt của họ, dù chúng ta vô cùng thương cảm cho người mẹ đang lâm vào cảnh nguy kịch về sức khỏe và tính mạng khi thực hiện bổn phận mà tự nhiên đã giao phó, thế nhưng, đâu có lý do nào đủ chính đáng để biện minh cho hành vi trực tiếp sát hại một người vô tội? Đó chính là vấn đề đang được bàn đến ở đây. Dù hành động ấy nhắm vào người mẹ hay đứa trẻ, nó đều đi ngược lại giới răn của Thiên Chúa và luật tự nhiên: “Ngươi không được giết người.” [50] Sự sống của mỗi con người đều thánh thiêng như nhau, và không ai, kể cả công quyền, cũng không có quyền tước đoạt nó. Vô ích khi viện dẫn quyền tước đi mạng sống, bởi vì, ở đây, vấn đề liên quan đến người vô tội, trong khi quyền đó chỉ áp dụng đối với kẻ có tội; ở đây, cũng không phải là vấn đề tự vệ, bằng sự đổ máu để chống lại kẻ tấn công bất chính (vì ai lại coi một đứa trẻ vô tội là kẻ tấn công bất chính?); và ở đây cũng không phải vấn đề của cái gọi là “luật tình thế cấp bách”, mà thậm chí có thể mở rộng đến việc trực tiếp giết người vô tội. Các bác sĩ chính trực và tài năng luôn nỗ lực hết mình một cách đáng khen ngợi để bảo vệ và gìn giữ sự sống cho cả mẹ lẫn con; trái lại, những kẻ gây ra cái chết cho người mẹ hoặc đứa trẻ, dù là dưới danh nghĩa hành nghề y hay vì lòng thương hại sai lầm, đều tỏ ra hoàn toàn không xứng đáng với nghề y cao quý.

65. Tất cả những điều này đều phù hợp với lời lẽ nghiêm khắc của vị Giám mục thành Hippô khi lên án những bậc cha mẹ xấu xa tìm cách không có con, và nếu không làm được điều này, họ không ngần ngại giết chết con mình: “Đôi khi sự tàn ác đầy dục vọng hay dục vọng đầy tàn ác này đi xa đến mức tìm cách gây ra tình trạng vô sinh tai hại, và nếu cách này không thành công, thì thai nhi trong bụng mẹ bằng cách này hay cách khác sẽ bị bóp nghẹt hoặc bị trục bỏ, với mong muốn hủy diệt đứa con trước khi nó có sự sống, hoặc nếu nó đã sống trong bụng mẹ, thì giết chết nó trước khi nó chào đời. Nếu cả người chồng và người vợ đều tham gia vào những hành vi như vậy, thì họ hoàn toàn không phải là vợ chồng; và nếu ngay từ đầu họ đã hành động như vậy, thì họ đến với nhau không phải vì hôn nhân chân chính, mà là vì sự thỏa mãn dục vọng không trong sạch; còn nếu chỉ một trong hai người nhúng tay vào những việc làm này, tôi dám khẳng định rằng người vợ khi ấy chẳng khác nào một cô nhân tình của chồng, hoặc người chồng chỉ đơn thuần là gã tình nhân của vợ mình.”[51]

66. Những khẳng định ủng hộ các “chỉ định” về mặt xã hội và ưu sinh có thể và phải được chấp nhận, miễn là các phương pháp hợp pháp và chính đáng được sử dụng trong giới hạn thích hợp; nhưng việc muốn đưa ra những lý do dựa vào chúng để giết người vô tội là điều không thể tưởng tượng được và trái với giới răn của Thiên Chúa được truyền bá qua lời của các Tông đồ: Không được làm điều ác để đạt được điều thiện.[52]

67. Những người nắm quyền điều hành chính quyền không được quên rằng bổn phận của nhà cầm quyền là phải bảo vệ tính mạng của những người vô tội thông qua các đạo luật và chế tài thích hợp, và điều này càng cấp thiết hơn khi những người đang bị đe dọa và tấn công về tính mạng lại không thể tự bảo vệ mình. Trong số đó, trước hết phải kể đến những thai nhi đang nằm trong dạ mẹ. Và nếu những người thi hành công lý không những không bảo vệ các thai nhi, mà còn dùng luật lệ và sắc lệnh của mình để khiến chúng chết dưới tay các bác sĩ hoặc những kẻ khác, thì hãy nhớ rằng Thiên Chúa là Đấng phán xét và đòi nợ máu vô tội đang kêu thấu đến Trời.[53]

68. Cuối cùng, cần phải lên án hành vi tai hại đó, vì nó chạm đến quyền tự nhiên của con người được kết hôn nhưng cũng ảnh hưởng thực sự đến phúc lợi của con cái. Bởi vì một số người quá quan tâm đến thuyết ưu sinh, mà không chỉ đưa ra những lời khuyên hữu ích nhằm bảo đảm chắc chắn hơn về sức khỏe và thể chất của con cái trong tương lai – vốn thực sự không trái với lý trí ngay thẳng - nhưng còn đặt thuyết ưu sinh lên trên những mục tiêu cao trọng hơn. Và với thẩm quyền công cộng, họ muốn ngăn cản việc kết hôn của những người, dù về mặt tự nhiên hoàn toàn đủ điều kiện kết hôn, nhưng lại bị họ coi là sẽ sinh ra con cái khiếm khuyết do di truyền, dựa trên các tiêu chuẩn và phỏng đoán từ những nghiên cứu của chính họ. Hơn nữa, họ còn muốn ban hành những đạo luật để tước bỏ khả năng tự nhiên ấy bằng những hành động y khoa, bất chấp ý muốn của đương sự ; và không đề xuất điều này như một hình phạt nghiêm khắc do Nhà nước áp đặt đối với hành vi phạm tội, cũng không phải để ngăn chặn tội phạm trong tương lai do những kẻ phạm tội gây ra, nhưng ngược lại mọi quyền lợi và điều thiện, họ muốn chính quyền dân sự tự cho mình quyền kiểm soát một năng lực mà Nhà nước chưa từng có và cũng không bao giờ có thể sở hữu một cách hợp pháp.

69. Những kẻ hành động như vậy đã sai lầm khi không nhận ra rằng gia đình thánh thiêng hơn Nhà nước, và con người sinh ra không phải cho trần gian và thời đại, mà là cho Nước Trời và sự sống đời đời. Mặc dù những cá nhân này thường được khuyên can không nên kết hôn, nhưng chắc chắn là sai lầm khi gán cho họ cái mác tội phạm chỉ vì họ kết hôn, với lý do rằng, bất chấp việc họ hoàn toàn có đủ khả năng kết hôn, họ vẫn sẽ sinh ra những đứa trẻ khiếm khuyết, ngay cả khi họ đã hết sức cẩn trọng và chu đáo.

70. Các quan chức công quyền không có quyền trực tiếp trên thân thể người dân của mình; do đó, khi chưa xảy ra tội phạm và không có lý do chính đáng để áp dụng hình phạt nghiêm khắc, họ tuyệt đối không được phép trực tiếp gây tổn hại hay xâm phạm sự toàn vẹn của thân thể, dù là vì mục đích ưu sinh hay bất kỳ lý do nào khác. Thánh Tôma đã dạy điều này khi xem xét liệu các thẩm phán phàm nhân có thể thi hành hình phạt nhằm ngăn ngừa những tai ương trong tương lai hay không. Ngài thừa nhận rằng quyền hạn đó thực sự tồn tại đối với một số loại hành vi sai trái khác, nhưng lại bác bỏ một cách chính đáng và đúng đắn việc áp dụng nó đối với thương tật thân thể. Không một ai vô tội lại có thể bị tòa án phàm trần trừng phạt bằng các hình thức như đánh đòn đến chết, cắt xẻo thân thể hay đánh đập.[54]

71. Hơn nữa, giáo lý Kitô giáo khẳng định, và ánh sáng của lý trí con người làm cho điều ấy càng rõ ràng hơn, rằng các cá nhân không có quyền nào khác trên các phần thân thể mình ngoài quyền gắn liền với mục đích tự nhiên của chúng. Họ không được tự do để hủy hoại hoặc làm thương tổn các chi thể của mình, hoặc bằng bất kỳ cách nào khác khiến bản thân không còn phù hợp với chức năng tự nhiên, trừ khi không thể có biện pháp nào khác có thể được thực hiện vì lợi ích của toàn thân thể.

72. Giờ đây, Ta có thể xét đến một loại sai lầm khác, liên quan đến lòng trung thành trong hôn nhân. Mọi tội lỗi phạm đến con cái, một cách nào đó, đều trở thành tội lỗi chống lại lòng trung thành trong hôn nhân, bởi vì hai thiện ích này vốn liên kết mật thiết với nhau. Tuy nhiên, cần phải nói vắn tắt về những nguyên do của các sai lầm và thói xấu tương ứng với những nhân đức mà lòng trung thành trong hôn nhân đòi hỏi: sự kính trọng về mặt thanh khiết giữa vợ chồng, sự phục tùng đúng mực của vợ đối với chồng, và tình yêu chân thật gắn kết hai người với nhau.

73.  Do đó, những ai cho rằng có thể chấp nhận những tư tưởng và luân lý thời đại hiện nay về một thứ tình bạn sai lầm và nguy hại với người thứ ba, và dạy rằng nên cho phép vợ chồng được tự do hơn trong cảm xúc và hành vi đối với những mối tương quan bên ngoài, nhất là khi họ cho rằng nhiều người vốn mang trong mình một khuynh hướng tính dục bẩm sinh không thể được thỏa mãn trong phạm vi giới hạn hôn nhân một vợ một chồng, thì chính những người ấy đang hủy hoại sự chung thủy lẫn nhau. Họ coi thái độ cứng rắn, vốn lên án mọi tình cảm và hành vi luyến ái với người thứ ba, là biểu hiện của sự hẹp hòi về tâm trí và trái tim, là điều lỗi thời hoặc là một dạng ghen tuông hèn hạ. Và hệ quả là họ xem bất kỳ đạo luật trừng phạt nào do Nhà nước ban hành nhằm bảo vệ lòng chung thủy trong hôn nhân đều là vô hiệu hoặc cần phải bãi bỏ. Những quan điểm thấp hèn và phù phiếm như thế bị lên án bởi chính bản năng cao quý vốn có nơi mọi người chồng và người vợ thanh khiết, thậm chí bởi sự ánh sáng của chỉ chứng từ của tự nhiên mà thôi, một chứng từ được chấp thuận và xác nhận bởi mệnh lệnh của Chúa: “Ngươi không được phạm tội ngoại tình”[55], cùng lời Chúa Kitô: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.”[56] Sức mạnh của giới luật này của Thiên Chúa không bao giờ có thể bị suy yếu bởi bất kỳ tập tục thuần túy nào của con người, bởi gương xấu hoặc cái cớ của sự tiến bộ của con người, vì cũng như chính “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời,[57] thì giáo thuyết của Chúa Kitô cũng là một và trường tồn muôn đời, mà không một chấm, một phẩy nào sẽ qua đi cho đến khi mọi sự được hoàn thành.[58]

74. Chính những thầy dạy lầm lạc ấy, những kẻ cố gắng làm lu mờ ánh sáng rạng ngời của lòng trung thành và tinh tuyền trong hôn nhân, cũng không ngần ngại bác bỏ sự vâng phục đáng kính trọng và đầy tín nhiệm mà người vợ phải dành cho người chồng. Nhiều người trong số họ thậm chí còn đi xa hơn và khẳng định rằng sự phục tùng của bên này đối với bên kia như vậy là không xứng đáng với phẩm giá con người, rằng quyền của vợ chồng là bình đẳng; do đó, họ mạnh dạn tuyên bố rằng sự giải phóng phụ nữ đã được hoặc phải được thực hiện. Theo quan điểm của họ, sự giải phóng này phải bao gồm ba mặt: trong việc cai quản xã hội gia đình, trong việc quản lý công việc gia đình và trong việc nuôi dạy con cái. Việc “giải phóng” này được hiểu theo ba phương diện: xã hội, kinh tế và sinh lý.  Về mặt sinh lý, nghĩa là, người vợ sẽ được tự do, theo ý riêng của mình, thoát khỏi những bổn phận nặng nề vốn thuộc về thiên chức làm bạn đời và làm mẹ (Ta đã từng nói rằng đây không phải là sự giải phóng, mà là một tội ác); về mặt xã hội, nghĩa là, người vợ, được giải thoát khỏi việc chăm sóc con cái và gia đình, có thể, dù bỏ bê bổn phận ấy, chạy theo xu hướng riêng của mình, và dành toàn tâm cho công việc kinh doanh hay thậm chí là những việc công cộng; sau cùng là về kinh tế, theo đó, người vợ, dù không được biết hay thậm chí là đi ngược lại ý muốn của chồng, vẫn có thể tự do quản lý và điều hành các công việc của riêng mình, chú tâm vào những việc đó hơn là vào con cái, chồng và gia đình.

75. Tuy nhiên, đó không phải là sự giải phóng người nữ đích thực, cũng không phải là thứ tự do hợp lý và cao quý vốn gắn liền với thiên chức cao cả của người nữ và người vợ Kitô giáo; trái lại, đó là sự hạ thấp phẩm giá nữ giới, là sự xúc phạm đến thiên chức làm mẹ, và thực vậy, là mối nguy hại nghiêm trọng cho chính gia đình. Hậu quả là người chồng mất đi người vợ, con cái mất đi người mẹ, còn mái ấm và cả gia đình thì mất đi một người gìn giữ luôn tận tụy trông nom. Hơn thế nữa, thứ tự do giả tạo ấy, cùng với sự bình đẳng trái tự nhiên với người chồng còn gây hại cho chính người vợ. Bởi nếu người vợ từ bỏ ngai vàng đích thực mà Tin Mừng đã nâng nàng lên trong khuôn khổ gia đình, thì chẳng bao lâu nữa, nàng sẽ bị kéo xuống tình trạng nô lệ xưa kia (nếu không phải bề ngoài, thì chắc chắn là trong thực tế) và một lần nữa, như trong xã hội ngoại giáo, sẽ chỉ còn bị coi là công cụ của người chồng.

76. Sự bình đẳng về quyền lợi này, vốn thường bị thổi phồng và bóp méo, thực sự cần được công nhận đối với những quyền gắn liền với phẩm giá của con người, cũng như những quyền thuộc về khế ước hôn nhân và gắn bó mật thiết với đời sống vợ chồng. Về những điều này, chắc chắn cả hai bên đều hưởng quyền lợi ngang nhau và chịu những nghĩa vụ như nhau; tuy nhiên, về những điều khác, cần phải có sự bất bình đẳng nào đó và sự điều chỉnh thích hợp, vốn được đòi hỏi bởi lợi ích gia đình cũng như trật tự đúng đắn, sự hiệp nhất và tính ổn định của đời sống gia đình.

77.  Tuy nhiên, vì các điều kiện kinh tế và xã hội của người nữ đã kết hôn cần phải thay đổi theo sự biến chuyển của các quan hệ xã hội, nên chính quyền có trách nhiệm điều chỉnh các quyền dân sự của người vợ theo những nhu cầu và đòi hỏi hiện đại; đồng thời, việc điều chỉnh này cần được thực hiện trong tinh thần tôn trọng thiên hướng tự nhiên và khí chất của nữ giới, các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp và lợi ích chân chính của gia đình, cũng như phải luôn đảm bảo duy trì nguyên vẹn trật tự thiết yếu của xã hội gia đình, một trật tự vốn được thiết lập dựa trên nền tảng cao hơn cả quyền bính và sự khôn ngoan của con người, tức là trên quyền bính và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, và do đó không thể bị thay đổi bởi luật pháp hay tùy theo ý muốn của các cá nhân.

78. Tuy nhiên, những kẻ thù của hôn nhân này còn đi xa hơn nữa, khi họ thay thế tình yêu chân thật và bền vững, vốn là nền tảng đích thực của hạnh phúc hôn nhân, bằng một sự tương hợp mơ hồ nào đó về tính khí. Họ gọi đó là sự đồng cảm và quả quyết rằng, vì đây là mối dây duy nhất gắn kết đôi vợ chồng, nên khi nó tan rã, hôn nhân cũng hoàn toàn chấm dứt. Như thế, chẳng khác nào họ đang xây dựng ngôi nhà đời mình trên cát, ngôi nhà mà, theo lời Chúa Kitô, “khi mưa sa, nước lũ tràn về, gió thổi và đập vào nhà ấy, thì nhà sụp đổ, và sụp đổ tan tành.” [59] Trái lại, ngôi nhà được xây trên nền đá vững chắc, nghĩa là trên đức thanh khiết hôn nhân đối với nhau, được củng cố bằng sự kết hợp tâm hồn có ý thức và kiên định, sẽ không bao giờ sụp đổ, mà còn chẳng bao giờ bị lung lay trước những nghịch cảnh.

79. Thưa Anh Em đáng kính, cho đến nay, Ta đã trình bày về sự cao quý của hai thiện ích đầu tiên trong hôn nhân Kitô giáo, vốn đang bị những người chủ trương đảo lộn trật tự xã hội ngày nay công kích dữ dội. Giờ đây, khi xét đến thiện ích thứ ba, tức là chính Bí tích Hôn Phối, vốn vượt trội hơn hẳn hai điều trước, thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng, vì sự cao trọng đặc biệt của nó, điều này lại trở thành mục tiêu của những cuộc tấn công càng mãnh liệt hơn. Quả thế, họ chủ trương rằng hôn nhân hoàn toàn thuộc phạm vi trần tục và thuần túy dân sự, không phải là một thực tại tôn giáo để được giao phó cho Hội Thánh Chúa Kitô, nhưng chỉ là một thể chế thuộc về xã hội dân sự. Tiếp đó, họ còn quả quyết rằng khế ước hôn nhân phải được tách khỏi mọi ràng buộc của tính bất khả phân ly, rằng ly thân và ly dị không những cần được dung thứ mà còn phải được luật pháp công nhận. Cuối cùng, hệ quả là hôn nhân, khi bị tước bỏ tất cả sự thánh thiện của nó, sẽ bị xếp vào số các định chế thế tục và dân sự. Điểm thứ nhất nằm ở quan điểm cho rằng chính nghi thức dân sự mới là yếu tố xác lập khế ước hôn nhân (thường được gọi là hôn nhân dân sự), trong khi nghi thức tôn giáo chỉ được xem là phần bổ sung đơn thuần, hoặc cùng lắm là sự nhượng bộ đối với một dân chúng còn quá mê tín. Hơn nữa, họ muốn việc người Công giáo kết hôn với người không Công giáo mà không có bất kỳ liên hệ gì đến tôn giáo hay cậy nhờ đến thẩm quyền của Hội Thánh, sẽ không bị coi là điều đáng trách. Điểm thứ hai, vốn là hệ quả tất yếu của quan niệm sai lầm trên, thể hiện ở việc họ bênh vực và cổ võ cho việc ly dị hoàn toàn, đồng thời tán dương những đạo luật dân sự có khuynh hướng tháo gỡ chính dây liên kết thánh thiêng của hôn nhân. Vì, những đặc tính cốt yếu về tính chất tôn giáo của mọi cuộc hôn nhân, và cách riêng của hôn nhân bí tích giữa các Kitô hữu, đã được Đức Lêô XIII trình bày cách sáng tỏ và minh chứng vững chắc trong các thông điệp của ngài, những thông điệp mà Ta không ngừng nhắc lại và xác nhận như chính lập trường của mình, nên Ta quy chiếu Anh Em đến chúng và ở đây chỉ xin nhắc lại một vài điểm thôi.

80. Ngay cả dưới ánh sáng của chỉ lý trí mà thôi, và nhất là khi người ta tra cứu những ghi chép cổ xưa của lịch sử, lắng nghe tiếng nói bền vững của lương tâm nhân loại, và quan sát các phong tục cùng thể chế của mọi dân tộc, thì cũng có thể nhận ra cách hiển nhiên rằng ngay cả sự kết hợp thuần túy tự nhiên giữa người nam và người nữ cũng mang một tính chất thánh thiêng và tôn giáo nào đó. Đây “không phải là điều ngẫu nhiên được thêm vào, nhưng là bẩm sinh, không phải do ý muốn của con người, nhưng thuộc về bản chất của sự vật”, bởi vì nó có “chính Thiên Chúa là Tác Giả, và ngay từ thuở ban đầu, nó đã là hình ảnh báo trước việc Nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa”. Tính thánh thiêng này của hôn nhân, vốn gắn kết mật thiết với tôn giáo và với mọi sự thánh thiện, bắt nguồn từ chính nguồn gốc thần linh mà Ta vừa đề cập, từ mục đích của nó là sinh sản và giáo dục con cái cho Thiên Chúa, cũng như từ sự kết hợp của vợ chồng với Thiên Chúa qua tình yêu Kitô giáo và sự nâng đỡ lẫn nhau; và cuối cùng, nó bắt nguồn từ chính bản chất của hôn nhân, một định chế được khởi nguồn từ sự Quan Phòng đầy khôn ngoan của Thiên Chúa, nhờ đó hôn nhân trở thành phương thế thông truyền sự sống, khiến cho các bậc cha mẹ, có thể nói, trở nên những thừa tác viên của Thiên Chúa Toàn Năng. Cần phải kể thêm yếu tố phẩm giá mới bắt nguồn từ Bí tích, nhờ đó hôn nhân Kitô giáo được tôn vinh và nâng lên một mức độ đến nỗi thánh Tông đồ đã coi đó là một Bí tích lớn lao, đáng trân trọng về mọi phương diện. [61]

81. Tính chất tôn giáo của hôn nhân, ý nghĩa cao cả của nó nhờ ân sủng và sự kết hiệp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, rõ ràng đòi hỏi rằng những người sắp kết hôn phải dành cho hôn nhân một thái độ cung kính thánh thiêng, đồng thời nỗ lực hết mình để đưa hôn nhân của họ đến gần nhất có thể với hình mẫu của Chúa Kitô và Hội Thánh.

82. Do đó, những ai liều lĩnh và bất cẩn kết hôn khác đạo, điều mà Hội Thánh, với tình mẫu tử và sự quan tâm lo lắng, luôn khuyên con cái mình tránh xa vì những lý do rất xác đáng, đã tỏ ra thiếu sót nghiêm trọng trong vấn đề này, và đôi khi còn gây nguy hại nghiêm trọng cho phần rỗi đời đời của chính họ. Thái độ của Hội Thánh về hôn nhân khác đạo đã được trình bày trong nhiều văn kiện, và tất cả đều được tóm kết trong Bộ Giáo luật: “Giáo hội nghiêm cấm ở mọi nơi và một cách nghiêm ngặt việc kết hôn giữa những người đã được rửa tội, trong đó một người là tín hữu Công giáo còn người kia là thành viên của  một giáo phái ly giáo hoặc lạc giáo; và nếu có thêm nguy cơ bên Công giáo bỏ đạo và con cái bị lầm lạc, thì cuộc hôn nhân như vậy cũng bị luật Thiên Chúa cấm.”[62] Nếu đôi khi vì những hoàn cảnh nhất định mà Hội Thánh không từ chối ban phép chuẩn miễn tuân giữ các luật lệ nghiêm ngặt này (với điều kiện luật Thiên Chúa vẫn được nguyên vẹn và các biện pháp bảo vệ thích hợp được áp dụng để ngăn chặn những nguy cơ đã nêu), thì khó có thể tránh khỏi việc bên Công giáo phải chịu một số thiệt hại từ cuộc hôn nhân như vậy.

83. Như kinh nghiệm đã cho thấy, hệ quả thường thấy là con cái không hiếm khi từ bỏ tôn giáo một cách đáng tiếc, hoặc ít nhất là trượt dài vào thái độ thờ ơ với tôn giáo, một thái độ có mối liên hệ mật thiết với sự vô đạo. Cũng cần lưu ý rằng, trong các cuộc hôn nhân khác đạo như vậy, việc noi gương mầu nhiệm mà Ta đã đề cập, tức là sự kết hiệp mật thiết giữa Chúa Kitô và Hội Thánh Người, thông qua sự hòa hợp tinh thần sống động, sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều.

84. Chắc chắn, cũng sẽ thiếu vắng sự kết hợp mật thiết về tâm hồn, vốn là dấu chỉ và ấn tích của Hội Thánh Chúa Kitô, vì thế cũng phải là dấu chỉ, là vinh quang và là nét điểm tô của hôn nhân Kitô giáo. Bởi vì, nơi nào có sự bất đồng trong tâm trí, trong chân lý và trong tình cảm, thì mối dây liên kết giữa tâm trí và con tim thường bị tan vỡ, hoặc ít nhất cũng bị suy yếu. Từ đó phát sinh nguy cơ tình yêu vợ chồng trở nên nguội lạnh, và sự bình an cùng hạnh phúc trong đời sống gia đình, vốn được xây dựng trên sự kết hợp của các tâm hồn, dễ dàng bị phá hủy. Thật vậy, từ nhiều thế kỷ trước, luật Rôma cổ xưa đã tuyên bố: “Hôn nhân là sự kết hợp giữa người nam và người nữ, là sự chia sẻ trọn vẹn đời sống, và là sự thông truyền những quyền của Thiên Chúa cũng như của con người.”[63] Nhưng đặc biệt, thưa Anh Em đáng kính, như Ta đã từng nhấn mạnh, việc ly hôn ngày càng dễ dàng là một trở ngại lớn lao cho việc khôi phục hôn nhân về tình trạng hoàn hảo mà Đấng Cứu Chuộc chí thánh đã muốn nó phải có.

85. Những người ủng hộ chủ nghĩa tân ngoại giáo ngày nay chẳng rút ra được bài học nào từ thực trạng đáng buồn đó, nhưng trái lại, ngày qua ngày, họ lại càng trở nên quyết liệt hơn trong việc dùng pháp luật để tấn công tính bất khả phân ly của dây hôn phối, đồng thời tuyên bố rằng tính hợp pháp của việc ly hôn phải được công nhận và những luật lệ lỗi thời nên nhường chỗ cho một luật lệ mới nhân đạo hơn. Có rất nhiều lý do khác nhau được đưa ra cho việc ly hôn: một số phát xuất từ sự xấu xa và tội lỗi của các đương sự, một số khác thì bắt nguồn từ những hoàn cảnh của sự việc. Những lý do đầu tiên, họ gọi là lý do mang tính chủ quan, còn những lý do sau, họ gọi là khách quan. Tóm lại, bất cứ điều gì có thể khiến cho đời sống hôn nhân trở nên khó chịu hoặc nặng nề. Họ nỗ lực chứng minh các lập luận của mình về những căn cứ cho đạo luật ly hôn mà họ đề xuất thông qua nhiều lập luận khác nhau. Chẳng hạn, trước hết, họ cho rằng việc bên không có lỗi được quyền ly thân với bên có lỗi, hoặc bên có lỗi được tách khỏi một cuộc hôn nhân vốn không còn vừa ý và đi ngược lại ý muốn của mình, đều mang lại lợi ích cho cả hai bên. Thứ hai, họ lập luận rằng thiện ích của con cái đòi hỏi điều này, bởi nếu không, đứa trẻ sẽ bị tước mất nền giáo dục đúng đắn hoặc những thành quả tự nhiên của nó, đồng thời dễ dàng bị ảnh hưởng bởi những bất hòa và khiếm khuyết của cha mẹ, cũng như bị lôi kéo rời xa con đường đức hạnh. Thứ ba, công ích của xã hội cũng đòi buộc phải hủy bỏ hoàn toàn những cuộc hôn nhân đã không còn khả năng sinh hoa trái tự nhiên, đồng thời cho phép thực hiện các biện pháp khắc phục theo luật định trong trường hợp việc tiếp tục chung sống và quan hệ vợ chồng giữa các bên có nguy cơ dẫn đến hành vi phạm tội. Họ cho rằng cần phải chấp nhận điều sau cùng này để tránh việc cố tình phạm tội nhằm đạt được phán quyết ly hôn mong muốn, qua đó thẩm phán có thể hợp pháp hóa việc chấm dứt mối dây hôn nhân, cũng như để ngăn chặn tình trạng đương sự ra tòa trong khi vụ việc cho thấy rõ ràng họ đang nói dối và khai man; tất cả những hành vi này đều làm cho tòa án và thẩm quyền pháp lý bị coi thường. Do đó, theo quan điểm của họ, luật dân sự cần phải được cải cách để đáp ứng những yêu cầu mới này, cũng như để phù hợp với sự thay đổi của thời đại và sự thay đổi trong quan điểm của con người, các thể chế dân sự và phong tục. Mỗi lý do này đều được họ xem là thuyết phục, và khi tổng hợp lại, chúng tạo nên bằng chứng rõ ràng cho thấy sự cần thiết phải cho phép ly hôn trong một số trường hợp.

86. Những người khác còn đi xa hơn nữa khi đơn giản cho rằng hôn nhân là một khế ước tư, như mọi khế ước tư khác, vì thế, phải hoàn toàn tùy thuộc vào sự ưng thuận và ý muốn của đôi bên, và vì thế có thể bị huỷ bỏ vì bất kỳ lý do nào.

87. Thưa Anh Em đáng kính, trái ngược với tất cả những quan điểm khinh suất ấy là luật bất di bất dịch của Thiên Chúa, được chính Chúa Kitô hoàn toàn xác nhận, một luật không thể nào bị tước mất hiệu lực bởi các sắc lệnh của loài người, bởi tư tưởng của một dân tộc hay bởi ý muốn của bất kỳ nhà lập pháp nào: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly.”[64] Và nếu bất kỳ ai hành động trái nghịch với luật này mà phân ly, thì hành động ấy hoàn toàn vô hiệu, vì hậu quả vẫn còn đó, như chính Chúa Kitô đã quả quyết rõ ràng: “Ai bỏ vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước; và nếu người nữ bỏ chồng mình mà cưới chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.”[65] Hơn nữa, những lời này áp dụng cho mọi hình thức hôn nhân, kể cả những hôn nhân vốn chỉ tự nhiên và hợp pháp; bởi vì, như đã được lưu ý trước đây, tính bất khả phân, nhờ đó việc tháo gỡ dây hôn phối hoàn toàn không còn tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của các bên hay bất kỳ quyền lực thế tục nào, chính là đặc tính của mọi cuộc hôn nhân đích thực.

88. Hãy nhớ lại lời tuyên bố long trọng của Công đồng Trentô, trong đó Công đồng đã lên án những sai lầm này dưới vết nhơ vạ tuyệt thông: “Nếu ai nói rằng, vì lý do lạc giáo, hay những khó khăn trong việc chung sống, hoặc vì sự lạm dụng cố ý của một bên đối với bên kia, mà dây hôn phối có thể được tháo gỡ, thì người ấy phải bị vạ tuyệt thông.”[66] Và thêm nữa: “Nếu ai nói rằng Hội Thánh sai lầm khi đã dạy, hoặc đang dạy rằng, theo giáo huấn của Tin Mừng và các Tông đồ, dây hôn phối không thể bị tháo gỡ vì tội ngoại tình của một trong hai bên; hoặc nói rằng không bên nào, ngay cả khi vô tội và không gây ra cớ cho tội ngoại tình, có thể kết hôn lần nữa với người khác trong khi người kia còn sống; và rằng người chồng sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hôn với người khác sau khi rẫy bỏ người vợ ngoại tình, cũng như người vợ sẽ phạm tội ngoại tình nếu rẫy bỏ chồng mình và kết hôn với người khác : người ấy phải bị vạ tuyệt thông.”

89. Vậy nên, nếu Hội Thánh đã không sai lầm và đang không sai lầm khi dạy dỗ điều này, và do đó chắc chắn rằng dây hôn nhân không thể bị tháo gỡ ngay cả vì tội ngoại tình, thì rõ ràng tất cả những lý do yếu kém hơn khác, vốn thường được đưa ra làm biện minh, đều không có giá trị gì cả. Những phản đối chống lại tính bền vững của dây hôn nhân có thể dễ dàng được giải đáp. Bởi vì trong một số hoàn cảnh, sự ly thân không hoàn toàn giữa hai bên vẫn được phép, mà không cắt đứt dây hôn nhân. Sự ly thân này, chính Hội Thánh cho phép và đã quy định rõ trong Giáo luật của mình, tại các điều luật về sự ly thân liên quan đến quan hệ hôn nhân và việc chung sống, sẽ loại bỏ mọi bất tiện và nguy hiểm được viện dẫn.[68] Luật thánh thiêng, và ở một mức độ nào đó, cả luật dân sự, trong chừng mực liên quan đến các vấn đề dân sự, sẽ đặt ra các cơ sở, điều kiện, phương pháp và biện pháp phòng ngừa cần áp dụng trong trường hợp như vậy để bảo vệ việc giáo dục con cái và hạnh phúc gia đình, đồng thời loại bỏ mọi điều xấu đe dọa đến vợ chồng, con cái và Nhà nước. Giờ đây, tất cả những lập luận được đưa ra để chứng minh tính bất khả phân ly của dây hôn nhân, những lập luận đã được đề cập ở trên, cũng có thể được áp dụng để loại trừ không chỉ sự cần thiết của ly hôn, mà thậm chí cả quyền cho phép ly hôn; trong khi bên cạnh tất cả những lợi thế có thể được đưa ra cho việc ly hôn, cũng có thể nêu ra nhiều bất lợi và điều xấu gây ra mối đe dọa ghê gớm cho toàn thể xã hội loài người.

90. Quay trở lại với lời dạy khôn ngoan của Vị tiền nhiệm của Ta, thiết tưởng không cần phải nói thêm về biết bao điều tốt lành bắt nguồn từ tính bất khả phân ly tuyệt đối của hôn nhân, cũng như chuỗi tai họa kéo theo việc ly hôn. Khi mối dây hôn phối được bảo toàn nguyên vẹn, các cuộc hôn nhân thường được ký kết với cảm giác an tâm và an toàn; trái lại, khi người ta bắt đầu tính đến chuyện ly thân và đối mặt với nguy cơ ly hôn, thì chính khế ước hôn nhân lại trở nên bấp bênh, hoặc ít nhất cũng nảy sinh những nỗi lo âu và các tình huống bất ngờ. Một mặt, ta thấy sự gia tăng kỳ diệu của thiện chí và sự hợp tác trong đời sống hằng ngày của vợ chồng; mặt khác, cả hai điều ấy sẽ bị suy yếu nghiêm trọng do sự tồn tại của khả năng dễ dàng ly hôn. Ở đây, ở thời điểm rất thuận lợi, chúng ta có một nguồn trợ lực giúp cả hai bên có thể giữ gìn sự tinh tuyền và lòng trung thành; còn ở kia chúng ta nhận thấy những cám dỗ tai hại dẫn đến sự bất trung. Về khía cạnh này, chúng ta thấy việc sinh con, nuôi dưỡng và giáo dục con cái được khích lệ và củng cố, nhiều mầm mống tranh chấp giữa gia đình và họ hàng bị dập tắt; còn ở khía cạnh kia, người ta dựng lên rất nhiều trở ngại đối với việc sinh nở, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cùng vô số nguyên cớ gây tranh cãi và những mầm mống đố kỵ gieo rắc khắp nơi. Cuối cùng, nhưng đặc biệt, phẩm giá và địa vị của người phụ nữ trong xã hội dân sự và gia đình được phục hồi và tôn vinh nhờ khía cạnh trước; trong khi đó, khía cạnh thứ hai lại hạ thấp họ một cách đáng xấu hổ và đẩy họ vào nguy cơ “bị coi như kẻ bị ruồng bỏ, là nô lệ cho dục vọng của đàn ông.”[69]

91. Để kết luận, chúng ta hãy nhắc lại những lời quan trọng của Đức Lêô XIII: bởi lẽ sự hủy hoại đời sống gia đình “và sự suy thoái phúc lợi quốc gia phần nhiều là hậu quả của sự băng hoại luân lý hơn bất kỳ nguyên nhân nào khác, nên dễ thấy rằng ly dị, vốn phát sinh từ sự suy đồi luân lý của một dân tộc, và như kinh nghiệm cho thấy, dẫn đến những thói xấu trong đời sống công cộng cũng như đời sống riêng tư, hoàn toàn đi ngược lại với thiện ích của gia đình và của xã hội. Mức độ trầm trọng của những tai hại ấy sẽ được nhìn thấy rõ ràng hơn, khi ta nhớ rằng, một khi việc ly dị được chấp thuận thì sẽ không còn phương thế hữu hiệu nào đủ để giới hạn nó trong một khuôn khổ nhất định. Ảnh hưởng của gương xấu thật mạnh mẽ, nhưng sức mạnh dục vọng thì lại còn mạnh mẽ hơn nữa; và với những tác động thúc đẩy như thế, tất yếu việc ly dị cùng với sự buông thả các đam mê ngày càng lan rộng và tấn công nhiều tâm hồn như một căn bệnh truyền nhiễm, hoặc như một dòng sông vỡ bờ, tràn ngập khắp nơi.” [70]

92. Do đó, như chúng ta đọc trong cùng Thông điệp ấy, “nếu tình hình không thay đổi, gia đình nhân loại và Nhà nước có mọi lý do để lo sợ viễn cảnh sụp đổ hoàn toàn.” [71] Tất cả những điều này đã được viết cách đây năm mươi năm, thế nhưng nay lại được minh chứng bởi tình trạng băng hoại luân lý ngày một gia tăng, cùng với sự suy đồi chưa từng thấy của đời sống gia đình ở những nơi chủ nghĩa Cộng sản đang thống trị và không bị kìm hãm.

93. Thưa Anh Em đáng kính, cho đến nay, Ta đã chiêm ngắm với lòng kính cẩn những gì Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc khôn ngoan vô cùng của nhân loại đã thiết định liên quan đến hôn nhân của con người; đồng thời, Ta cũng đã bày tỏ nỗi buồn đau khi thấy rằng chính sự thiết đặt thánh thiện của Thiên Chúa nhân lành ấy, ngày nay ở khắp nơi, đang bị đam mê, sai lầm và thói hư tật xấu của loài người làm cho ra vô hiệu và bị chà đạp.

94. Vì vậy, thật thích hợp khi, với tất cả mối ưu tư hiền phụ, Ta hướng tâm trí để tìm ra những phương dược thích hợp hầu loại bỏ những lạm dụng ghê tởm nhất mà Ta đã nêu, và để hôn nhân có thể được tái hiện cách đúng nghĩa ở khắp nơi. Để đạt tới mục đích này, trước hết và trên hết, Ta cần phải nhắc lại nguyên tắc vững chắc vốn được cả triết học chân chính lẫn thần học thánh thiêng coi trọng: đó là, bất cứ điều gì đã lệch khỏi trật tự đúng đắn của nó, thì không thể được đưa trở về tình trạng nguyên thủy, vốn hài hòa với bản chất của chúng, ngoại trừ việc trở lại với kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch mà, như vị Tiến sĩ Thiên Thần dạy,[72] là khuôn mẫu của mọi trật tự đúng đắn.

95. Bởi thế, vị tiền nhiệm đáng kính nhớ của Ta, Đức Lêô XIII, đã phê phán học thuyết của những người theo chủ nghĩa tự nhiên bằng những lời sau: “Có một luật được Thiên Chúa ấn định, đó là: bất cứ điều gì do Thiên Chúa, Tác Giả của tự nhiên, thiết lập, sẽ càng hữu ích và mang lại lợi ích cứu độ khi chúng được giữ nguyên trạng thái tự nhiên, không bị tổn hại hay thay đổi; bởi vì Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo vạn vật, thấu hiểu tường tận điều gì phù hợp cho bản tính cũng như sự bảo tồn của từng thụ tạo, và theo thánh ý cùng ý định của Người, đã an bài mọi sự như thế, để mỗi thụ tạo có thể đạt được mục đích của nó cách xứng hợp. Nhưng nếu sự táo bạo và tội ác của con người làm thay đổi và phá rối trật tự những điều vốn đã được quan phòng sắp đặt, thì quả thật, những điều vốn được sắp đặt cách kỳ diệu ấy sẽ bắt đầu trở thành nguy hại, hoặc sẽ không còn ích lợi nữa; hoặc là vì trong sự thay đổi đó, chúng đã đánh mất khả năng mang lại lợi ích, hoặc là vì chính Thiên Chúa muốn giáng hình phạt xuống thói kiêu ngạo và sự ngạo mạn của con người.”[73]

96. Bởi vậy, để khôi phục lại trật tự thích hợp trong vấn đề hôn nhân, cần thiết mọi người phải ghi nhớ đâu là kế hoạch của Thiên Chúa và cố gắng điều tuân theo kế hoạch ấy.

97. Do đó, vì trở ngại chính yếu cho việc tìm hiểu này là sức mạnh của dục vọng phóng túng, vốn thực sự là nguyên nhân mạnh mẽ nhất đưa đến tội phản nghịch với các luật thánh về hôn nhân, và bởi vì con người không thể chế ngự các dục vọng của mình, trừ khi trước tiên họ phục tùng Thiên Chúa, nên việc phục tùng này phải là nỗ lực hàng đầu của họ, phù hợp với kế hoạch Thiên Chúa đã thiết định. Thật vậy, có một luật thánh thiêng: ai trước tiên đã phục tùng Thiên Chúa thì, nhờ ơn thánh của Người, sẽ sẵn sàng làm chủ các dục vọng và sự ham muốn xác thịt của mình; còn ai phản loạn chống lại Thiên Chúa thì, trong nỗi khốn khổ, sẽ cảm nghiệm nơi chính mình sự nổi loạn dữ dội của những dục vọng tệ hại nhất.

98. Thánh Augustinô đã chỉ rõ sự khôn ngoan của luật này như sau: “Thật phải lẽ khi phần thấp hơn phải phục tùng phần cao hơn, để những ai muốn phần thấp hơn mình phải phục tùng mình, thì chính hộ cũng phải phục tùng phần cao hơn mình. Hãy nhận biết trật tự, hãy tìm kiếm bình an. Hãy phục tùng Thiên Chúa, và thân xác bạn sẽ phục tùng bạn. Còn gì thích hợp hơn! Còn gì hợp lý hơn! Bạn phục tùng Đấng cao hơn, và phần thấp hơn sẽ phục tùng bạn. Hãy phụng sự Đấng đã dựng nên bạn, để những gì được tạo dựng cho bạn có thể phục vụ bạn. Vì chúng ta không ca ngợi trật tự kiểu này: ‘Thân xác phục tùng bạn, rồi bạn phục tùng Thiên Chúa’, nhưng là: ‘Bạn phục tùng Thiên Chúa, rồi thân xác phục tùng bạn’. Tuy nhiên, nếu bạn coi thường việc phục tùng Thiên Chúa, thì bạn sẽ chẳng bao giờ làm cho thân xác phục tùng bạn; nếu bạn không vâng phục Chúa, bạn sẽ bị chính đầy tớ của bạn hành hạ.”[74] Trật tự đúng đắn này, do sự khôn ngoan Thiên Chúa an bài, được vị Tiến sĩ Dân ngoại, dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, nhắc đến, khi ngài nói về các triết gia xưa kia vốn đã biết Ngài là Đấng Tạo Hóa, nhưng lại từ chối thờ lạy và tôn kính Ngài: “Vì thế, Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế, khiến thân thể họ ra hư hèn”; và thêm nữa: “Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục tình đồi bại”.[75] Còn thánh Giacôbê nói: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường”[76]. Không có ơn ấy, như chính vị Tiến sĩ Dân ngoại nhắc nhớ, con người không thể chế ngự được cuộc nổi loạn của tính xác thịt mình.[77]

99. Do đó, vì sự tấn công của các dục vọng không thể được chế ngự nếu trước hết tâm hồn con người không khiêm tốn quy phục Đấng Tạo Hóa, nên điều cần thiết trên hết là những ai được kết hợp trong dây hôn phối thánh thiêng phải được thấm nhuần một ý thức sâu xa và chân thật về bổn phận của mình đối với Thiên Chúa. Ý thức ấy sẽ định hình toàn bộ đời sống của họ, và làm cho tâm trí cũng như ý chí họ tràn đầy lòng tôn kính rất sâu xa đối với sự uy nghiêm của Thiên Chúa.

100. Vì thế, thật hợp lý và hoàn toàn phù hợp với cảm thức Kitô giáo đích thực, khi các vị chủ chăn linh hồn, để ngăn ngừa những người đã kết hôn khỏi lỗi phạm luật Chúa, khuyên họ chu toàn bổn phận và chuyên chăm đời sống đạo đức để họ hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa, không ngừng cầu xin ơn trợ giúp của Ngài, siêng năng lãnh nhận các Bí tích, cũng như luôn nuôi dưỡng cũng như duy trì lòng đạo đức trung thành và chân thành sâu xa đối với Thiên Chúa.

101. Thật là một sai lầm nghiêm trọng cho những ai, khi coi thường hay bỏ qua các phương thế siêu nhiên, lại nghĩ rằng họ có thể thuyết phục con người chế ngự được các dục vọng xác thịt, nhờ việc sử dụng hay khám phá các khoa học tự nhiên, như sinh học, di truyền học và những ngành tương tự. Ta không nói điều này để hạ thấp giá trị của các phương thế tự nhiên vốn không bất chính; bởi vì Thiên Chúa là Tác Giả của cả trật tự tự nhiên lẫn ân sủng, và Ngài đã an bài những điều tốt lành thuộc cả hai trật tự ấy để mưu ích cho con người. Vì thế, người tín hữu có thể và phải biết dùng những phương thế tự nhiên ấy như sự trợ giúp. Nhưng thật sai lầm khi cho rằng các phương thế ấy có thể củng cố vững chắc đức thanh tịnh trong đời sống hôn nhân, hoặc cho rằng chúng hữu hiệu hơn ân sủng siêu nhiên.

102. Tuy nhiên, sự phù hợp của đời sống hôn nhân và đời sống luân lý với lề luật Thiên Chúa về hôn nhân - mà không có nó, sẽ không thể thực hiện được việc khôi phục hôn nhân cách hiệu quả -  đòi hỏi rằng mọi người phải có khả năng phân định được, một cách rõ ràng, thực sự chắc chắn và không có sự sai lầm nào, những lề luật ấy là gì. Thế nhưng, ai cũng có thể thấy rằng nếu chỉ dựa vào ánh sáng lý trí của mỗi người để tìm ra chân lý, hoặc nó được khám phá nhờ sự diễn giải riêng tư đối với chân lý đã được mặc khải, thì sẽ mở đường cho biết bao ngụy biện và khiến cho vô số sai lầm bị lẫn lộn với sự thật. Và nếu điều này đúng cho nhiều chân lý khác thuộc trật tự luân lý, thì chúng ta lại càng phải đặc biệt lưu tâm hơn đến những điều liên quan đến hôn nhân, nơi mà lòng ham muốn khoái lạc thái quá có thể tấn công bản tính mỏng giòn của con người và dễ dàng đánh lừa và lôi kéo họ đi sai đường. Điều này càng đúng hơn nữa khi nói đến việc tuân giữ lề luật Thiên Chúa, vốn đòi hỏi những hy sinh đôi khi rất cam go và kiên trì, mà, như kinh nghiệm cho thấy, một người yếu đuối thường tìm đủ mọi lý do để né tránh việc chu toàn lề luật Thiên Chúa.

103. Vì lý do đó, để tránh việc xuyên tạc hay bóp méo lề luật Thiên Chúa, nhưng để một sự hiểu biết chân thực đúng đắn về lề luật ấy có thể soi sáng tâm trí con người và hướng dẫn hành vi của họ, thì cần phải kết hợp lòng vâng phục khiêm nhường và hiếu thảo đối với Hội Thánh, cùng với lòng tận tâm đối với Thiên Chúa và ước muốn quy phục Ngài. Vì chính Chúa Kitô đã thiết lập Hội Thánh làm thầy dạy chân lý, cả trong những vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh đúng đắn đời sống luân lý, cho dù lý trí con người có thể đạt đến một phần hiểu biết nào đó trong lãnh vực này. Bởi vì, cũng như Thiên Chúa, trong trường hợp các chân lý tự nhiên về tôn giáo và luân lý, đã thêm mặc khải vào ánh sáng của lý trí, để những gì là đúng đắn và chân thật, “trong tình trạng hiện nay của nhân loại, có thể được nhận biết dễ dàng, với sự chắc chắn thật sự mà không pha lẫn sai lầm nào”[78], thì cũng vậy, với cùng mục đích đó, Ngài đã thiết lập Hội Thánh làm người bảo vệ và thầy dạy toàn bộ chân lý về tôn giáo và đời sống luân lý. Do đó, nếu các tín hữu tỏ ra vâng lời và tùng phục tâm trí cũng như trái tim mình đối với Hội Thánh, để không bị tổn hại, không mắc sai lầm và sa đọa luân lý, và để họ không bị tước mất sự trợ giúp do Thiên Chúa ban tặng một cách hào phóng như vậy, thì họ phải thể hiện sự vâng phục thích đáng này không chỉ khi Hội Thánh xác định một điều gì đó bằng phán quyết long trọng, mà còn, với sự tương xứng thích hợp, khi theo các hiến chế và sắc lệnh của Tòa Thánh, các ý kiến ​​được xác định và lên án là nguy hiểm hoặc bị bóp méo.[79]

104. Bởi vậy, các tín hữu cũng phải cảnh giác trước việc đề cao sự độc lập quá mức trong phán đoán riêng tư và sự tự trị sai lầm của lý trí con người. Bởi vì thật là xa lạ với bất kỳ ai mang danh Kitô hữu khi đặt niềm tin vào năng lực trí tuệ của bản thân với thái độ kiêu ngạo đến mức chỉ chấp nhận những gì mình có thể tự mình khảo sát về bản chất nội tại của sự vật; hay khi cho rằng Hội Thánh, được Thiên Chúa sai đến để dạy dỗ và hướng dẫn muôn dân, lại không am tường các sự việc và hoàn cảnh đương đại; hoặc thậm chí cho rằng họ chỉ phải tuân phục những điều Hội Thánh đã quy định qua các định tín long trọng, như thể những quyết định khác của Hội Thánh có thể bị coi là sai lầm hoặc không đưa ra được cơ sở thuyết phục cho sự trung thực và chân thật. Trái lại, đặc điểm của mọi môn đệ đích thực của Chúa Kitô, dù học thức hay không, chính là biết để cho mình được Hội Thánh của Thiên Chúa hướng dẫn trong mọi vấn đề liên quan đến đức tin và luân lý, qua vị Mục Tử Tối Cao là Đức Giáo hoàng Rôma, Đấng được chính Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, hướng dẫn.

105. Do đó, vì mọi sự đều phải quy chiếu về luật và thánh ý Thiên Chúa, nên để việc khôi phục hôn nhân một cách phổ quát và bền vững, điều tối quan trọng là các tín hữu phải được giáo huấn đầy đủ về hôn nhân; cả bằng lời nói lẫn văn bản, không phải một cách sơ sài mà là thường xuyên và đầy đủ, thông qua những lập luận rõ ràng và vững chắc, để những chân lý này sẽ tác động mạnh mẽ đến trí tuệ và được khắc sâu vào tâm hồn họ. Họ hãy nhận thức và chuyên tâm suy niệm về sự khôn ngoan, lòng nhân từ và ân huệ cao cả mà Thiên Chúa đã dành cho nhân loại, không chỉ qua việc thiết lập hôn nhân, mà còn - và cũng quan trọng không kém - qua việc gìn giữ hôn nhân bằng những lề luật thánh thiêng; và hơn thế nữa, là việc Ngài đã nâng hôn nhân lên hàng Bí tích một cách kỳ diệu, nhờ đó mở ra nguồn ân sủng dồi dào cho những ai kết hợp trong hôn nhân Kitô giáo, giúp họ có khả năng thực hiện những mục đích cao quý của hôn nhân vì lợi ích của chính họ và lợi ích của con cái, của cộng đồng và của các mối tương quan con người.

106. Chắc chắn, nếu những kẻ phá hoại hôn nhân thời nay dành hết tâm trí vào việc làm lạc hướng tư tưởng con người và làm suy đồi tâm hồn họ, nhạo báng sự tinh tuyền của hôn nhân và tôn vinh những tật xấu đồi bại nhất qua sách báo, tờ rơi và vô vàn phương tiện khác, thì hơn bao giờ hết, thưa Anh Em đáng kính, những người mà Chúa Thánh Thần đã đặt làm Giám mục để cai quản Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh mà Người cứu chuộc bằng chính Máu của mình,[80] Anh Em lại càng phải dốc toàn tâm toàn ý cho công cuộc này: bằng mọi phương thế thích hợp, thông qua chính Anh Em, qua các linh mục dưới quyền Anh Em, và qua cả giáo dân được quy tụ trong phong trào Công giáo Tiến hành mà Ta hằng mong mỏi và khuyến khích nhằm tạo nên một lực lượng tông đồ có tổ chức chặt chẽ, Anh Em hãy lấy chân lý để chống lại sai lầm, lấy phẩm giá cao quý của đức thanh khiết để đối lại thói hư tật xấu, lấy sự tự do của con cái Thiên Chúa[81] để đối lại ách nô lệ của lòng tham, và lấy tình yêu bền vững trong dây liên kết hôn nhân cùng lời thề trung tín bất khả xâm phạm cho đến chết để đối lại sự dễ dãi tai hại trong việc ly hôn.

107. Như thế, các tín hữu sẽ hết lòng tạ ơn Thiên Chúa, vì họ được kết hiệp với nhau theo lệnh truyền của Ngài và được thúc giục đầy dịu dàng để lánh xa hết sức có thể mọi hình thức tôn thờ ngẫu tượng xác thịt và sự nô lệ hèn hạ của các đam mê dục vọng. Ở một mức độ lớn, họ sẽ xa tránh những quan điểm ghê tởm này, vốn làm hoen ố phẩm giá con người, hiện đang được lan truyền qua lời nói cũng như văn bản dưới danh nghĩa “hôn nhân hoàn hảo”, trong khi thực chất sẽ biến hôn nhân hoàn hảo đó thành thứ chẳng khác gì “hôn nhân đồi bại”, một cách gọi hoàn toàn đúng đắn và xác thực.

108. Những giáo huấn lành mạnh và việc đào luyện về mặt tôn giáo liên quan đến hôn nhân Kitô giáo sẽ hoàn toàn khác với kiểu giáo dục sinh lý thái quá mà, trong thời đại chúng ta, một số nhà cải cách đời sống hôn nhân thường dùng để tỏ vẻ như đang giúp đỡ các cặp vợ chồng, nhưng thực chất lại quá chú trọng vào các vấn đề sinh lý, khiến người ta học được nghệ thuật phạm tội một cách tinh vi, hơn là học đức hạnh sống thanh khiết.

109. Vì vậy, thưa Anh Em đáng kính, Ta hoàn toàn nhận lấy cho chính mình lời của Đức Lêô XIII, vị tiền nhiệm đáng kính của Ta, trong thông điệp về hôn nhân Kitô giáo gửi đến các Giám mục khắp hoàn cầu: “Hãy nỗ lực hết mình và vận dụng thẩm quyền của Anh Em để bảo đảm rằng, nơi đoàn chiên được giao phó cho sự dẫn dắt của Anh Em, giáo lý mà Chúa Kitô và các Tông đồ, những người giải thích ý muốn của Thiên Chúa, đã truyền lại, và giáo lý mà chính Hội Thánh Công giáo đã cẩn thận gìn giữ cũng như truyền dạy cho các tín hữu mọi thời đại phải tuân giữ, có thể được bảo toàn một cách trọn vẹn và tinh tuyền.”[82]

110. Tuy nhiên, ngay cả những giáo huấn tốt lành nhất của Giáo hội cũng không đủ để đưa hôn nhân trở lại phù hợp với lề luật của Thiên Chúa; còn cần thêm một yếu tố khác ngoài việc giáo dục trí tuệ, đó là một quyết tâm vững vàng của ý chí nơi cả người chồng lẫn người vợ, để trung thành tuân giữ các luật thánh thiêng của Thiên Chúa và luật tự nhiên về hôn nhân. Tóm lại, bất chấp những gì người khác có thể tuyên bố hay truyền bá bằng lời nói hay văn bản, các đôi vợ chồng hãy quyết tâm: vững vàng tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa trong mọi điều mà hôn nhân đòi hỏi; luôn sẵn sàng trợ giúp nhau bằng tình yêu hỗ tương; gìn giữ phẩm hạnh của đức thanh khiết; không xâm phạm đến tính bền vững của mối dây hôn phối; sử dụng các quyền lợi hôn nhân theo tinh thần Kitô giáo và đầy tính thánh thiêng, nhất là trong những năm đầu đời sống hôn nhân, để nếu sau này cần phải tiết dục, thói quen đã hình thành sẽ giúp mỗi người dễ dàng giữ được sự tiết dục đó hơn. Để họ có thể đưa ra quyết tâm kiên định này, duy trì và thực hành nó, việc thường xuyên suy xét về bậc sống của mình cũng như chuyên cần suy niệm về Bí tích đã lãnh nhận sẽ là nguồn trợ giúp to lớn cho họ. Họ hãy thường xuyên ghi nhớ rằng họ đã được thánh hóa và củng cố cho bổn phận và phẩm giá của bậc sống của họ nhờ một Bí tích đặc biệt, sức mạnh hữu hiệu của Bí tích này, mặc dù không gây ấn tượng với một nhân cách, nhưng là bất diệt. Với mục đích này, chúng ta có thể suy ngẫm những lời lẽ tràn đầy niềm an ủi đích thực của thánh Hồng y Robert Bellarmine. Cùng với các nhà thần học lỗi lạc khác, ngài đã bày tỏ niềm xác tín sâu sắc của mình như sau: “Bí tích Hôn Phối có thể được nhìn nhận theo hai khía cạnh: thứ nhất là lúc đang cử hành, và thứ hai là trong trạng thái thường hằng của nó. Vì đây là một Bí tích tương tự như Bí tích Thánh Thể, vốn là một Bí tích, không chỉ khi đang được cử hành, mà còn cả khi nó tồn tại; bởi chừng nào đôi vợ chồng còn sống, thì chừng đó sự kết hợp của họ vẫn là một Bí tích giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.”[83]

111. Tuy nhiên, để ân sủng của Bí tích này trổ sinh hoa trái trọn vẹn, cần có sự cộng tác của đôi vợ chồng như Ta đã chỉ ra, vốn hệ tại nơi việc họ nỗ lực chu toàn bổn phận của mình với khả năng tốt nhất và bằng những cố gắng không mệt mỏi. Cũng như trong trật tự tự nhiên, con người phải vận dụng những năng lực do Thiên Chúa ban tặng bằng chính sự lao nhọc và lòng chuyên cần để phát huy trọn vẹn sức mạnh của chúng, bằng không sẽ chẳng sinh ích gì, thì cũng vậy, con người cũng phải chuyên cần và không ngừng sử dụng những năng lực được ban cho nhờ ân sủng mà Bí tích này đã đặt vào linh hồn. Vậy, những ai đã kết hôn, thì đừng bỏ bê ân sủng của Bí tích đang hiện diện trong mình [84]; bởi khi chuyên chăm thực thi bổn phận một cách cẩn trọng, dù có gian khổ, họ sẽ thấy sức mạnh của ân sủng ấy ngày càng trở nên hiệu quả hơn theo thời gian. Và nếu có lúc nào họ cảm thấy quá sức chịu đựng bởi những thử thách gay go trong hoàn cảnh sống của mình, thì họ đừng nản lòng, nhưng đúng hơn, họ hãy coi lời của thánh Phaolô Tông đồ về Bí tích Truyền Chức Thánh, gửi cho môn đệ yêu dấu Timôthê, người đã từng chán nản vì gian truân và sự sỉ nhục, cũng là lời gửi cho chính họ: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh. Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ”[85].

112. Tuy nhiên, thưa Anh Em đáng kính, tất cả những điều này phụ thuộc phần lớn vào việc chuẩn bị thích đáng, cả xa lẫn gần, của các đôi bạn cho hôn nhân. Bởi vì, không ai có thể phủ nhận rằng nền tảng của một hôn nhân hạnh phúc, cũng như mầm mống đổ vỡ của một hôn nhân bất hạnh, đều đã được hình thành ngay trong tâm hồn của các thiếu niên nam nữ trong thời kỳ thơ ấu và thiếu niên. Những ai trước khi kết hôn chỉ tìm kiếm lợi ích riêng cho mình, thậm chí buông thả theo các dục vọng bất chính, thì khi bước vào bậc sống hôn nhân, họ vẫn sẽ là những gì họ đã từng trước đó, và họ sẽ gặt lấy chính điều họ đã gieo.[86] Quả thực, trong mái ấm ấy sẽ chỉ còn nỗi buồn, tiếng than van, khinh thường lẫn nhau, những cuộc xung đột, sự xa cách, nỗi chán nản với cuộc sống chung, và tệ hại hơn hết, họ sẽ thấy mình cô độc với chính những đam mê chưa được chế ngự của mình.

113. Vậy nên, những ai sắp bước vào đời sống hôn nhân, hãy tiến đến bậc sống này với tâm thế và sự chuẩn bị chu đáo, để họ sẽ có thể, trong khả năng của mình, giúp đỡ nhau vượt qua những lúc thăng trầm của cuộc sống, và hơn thế nữa, giúp nhau chăm lo phần rỗi đời đời, cũng như xây dựng con người nội tâm đạt tới “tầm vóc viên mãn của Đức Kitô”.[87] Điều này sẽ giúp ích cho họ, nếu họ đối xử với những đứa con yêu dấu của mình như Chúa muốn: nghĩa là, người cha thật sự là một người cha, và người mẹ thật sự là một người mẹ ; nhờ tình yêu đầy lòng mộ đạo và sự chăm sóc không biết mệt mỏi, mái ấm gia đình, dẫu phải trải qua cảnh thiếu thốn và gian lao nơi thung lũng nước mắt này, vẫn có thể, theo cách riêng của nó, trở thành một nơi nếm hưởng trước về Thiên đàng hạnh phúc đó, mà Đấng Tạo Hóa đã dành cho những con người đầu tiên của nhân loại. Nhờ đó, họ có thể nuôi dạy con cái trở nên những con người hoàn thiện và những Kitô hữu hoàn thiện; họ sẽ vun đắp cho con cái sự hiểu biết đúng đắn về Hội Thánh Công giáo, và sẽ khơi dậy nơi chúng tinh thần và lòng yêu mến quê hương đất nước, như bổn phận và lòng biết ơn đòi hỏi.

114. Vì thế, những ai đang ấp ủ ý định bước vào bậc sống hôn nhân thánh thiện này, cũng như những ai đang gánh trách nhiệm giáo dục giới trẻ Kitô hữu, đều cần - với sự quan tâm đúng mức đến tương lai - chuẩn bị những điều tốt đẹp, ngăn ngừa những điều xấu hại, và nhớ lại những điểm mà Ta đã đề cập trong Thông điệp của Ta về giáo dục: “Nếu các khuynh hướng của ý chí là xấu, thì chúng phải được kìm hãm từ thuở ấu thơ; còn những khuynh hướng tốt thì cần được vun trồng, và tâm trí, nhất là của trẻ nhỏ, cần được thấm nhuần những giáo lý khởi đi từ Thiên Chúa, trong khi con tim cần được củng cố nhờ ân sủng của Thiên Chúa, vì thiếu ân sủng ấy, không ai có thể chế ngự được dục vọng xấu xa, và Hội Thánh cũng không thể hoàn tất việc giáo dục và uốn nắn họ đạt tới sự trọn hảo. Vì chính Chúa Kitô đã ban cho Hội Thánh những giáo lý từ trời và các bí tích của Chúa, để biến Hội Thánh thành người thầy hữu hiệu của con người.”[88]

115. Việc chuẩn bị gần cho một đời sống hôn nhân tốt đẹp còn bao hàm cách đặc biệt việc thận trọng chọn bạn đời; hạnh phúc của cuộc hôn nhân tương lai phụ thuộc rất nhiều vào điều này, bởi vì người này có thể trở thành nguồn trợ lực lớn lao cho người kia trong việc giúp sống đời Kitô hữu, hoặc trái lại, trở thành mối nguy hại và chướng ngại lớn. Và để không phải suốt đời hối tiếc về những nỗi khổ đau do một cuộc hôn nhân thiếu suy tính, những ai sắp bước vào đời sống hôn nhân cần cân nhắc kỹ lưỡng khi chọn người bạn đời mà mình sẽ chung sống trọn đời; trong sự cân nhắc đó, họ cần luôn tâm niệm trước hết về Thiên Chúa và tôn giáo chân chính của Chúa Kitô, rồi về bản thân họ, về người bạn đời của họ, về con cái tương lai, cũng như về xã hội loài người và dân sự, mà hôn nhân chính là cội nguồn. Họ hãy siêng năng cầu xin ơn trợ giúp của Thiên Chúa, để biết đưa ra chọn lựa theo sự khôn ngoan Kitô giáo, chứ không bị chi phối bởi những thôi thúc mù quáng của dục vọng, hay bởi ham muốn tiền tài hoặc bất kỳ ảnh hưởng thấp hèn nào khác, nhưng bởi tình yêu chân chính, cao thượng và tình cảm chân thành dành cho người bạn đời tương lai; và sau đó, trong đời sống hôn nhân, họ hãy nỗ lực hướng tới những mục đích mà vì đó, định chế hôn nhân đã được Thiên Chúa thiết lập. Sau cùng, họ đừng quên xin ý kiến khôn ngoan của cha mẹ về người bạn đời, và đừng xem nhẹ lời khuyên ấy, để nhờ sự hiểu biết chín chắn và kinh nghiệm sống của cha mẹ, họ có thể tránh được một quyết định tai hại, và ngay từ ngưỡng cửa đời sống hôn nhân, họ còn được hưởng dồi dào hơn nữa phúc lành Thiên Chúa qua điều răn thứ tư: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi”.[89]

116. Vì việc tuân giữ trọn vẹn các giới răn của Thiên Chúa và giữ gìn sự trọn vẹn của đời sống vợ chồng thường gặp khó khăn do hoàn cảnh túng thiếu, nên cần phải giúp đỡ họ giải quyết những nhu cầu cấp thiết này trong chừng mực có thể.

117. Vì thế, trước tiên, cần phải dồn mọi nỗ lực để thực hiện điều mà Vị tiền nhiệm khả kính của Ta là Đức Lêô XIII đã từng nhấn mạnh,[90] đó là, Nhà nước cần áp dụng các phương thức kinh tế và xã hội sao cho mỗi người trụ cột gia đình đều có thể kiếm được thu nhập đủ để trang trải nhu cầu thiết yếu cho bản thân mình, vợ mình và việc nuôi dạy con cái mình, phù hợp với hoàn cảnh sống của họ, bởi vì “thợ thì đáng được trả công.”[91] Việc phủ nhận điều này, hay coi nhẹ những gì thuộc lẽ công bằng, là một sự bất công nghiêm trọng và bị Thánh Kinh liệt vào hàng những tội nặng nhất;[92] cũng không được phép ấn định một mức lương quá ít ỏi, đến nỗi không đủ để nuôi sống gia đình trong hoàn cảnh của họ.

118. Tuy nhiên, cũng cần lưu tâm rằng chính các đôi bạn, trong một thời gian đáng kể trước khi bước vào đời sống hôn nhân, phải cố gắng loại bỏ hoặc ít là giảm bớt những trở ngại vật chất đang chắn lối. Cách thức để làm điều đó cách hữu hiệu và trung thực phải được chỉ dẫn bởi những người có kinh nghiệm. Đồng thời, đối với những người chưa thể tự trang trải cuộc sống, cần có các biện pháp hỗ trợ chung từ các tổ chức, hội đoàn tư nhân hoặc công cộng [93].

119. Khi những phương thế mà Ta vừa nêu không đáp ứng đủ nhu cầu, đặc biệt là nơi những gia đình đông con hoặc nghèo túng, thì đức ái Kitô giáo đối với tha nhân tuyệt đối đòi buộc phải cung cấp những gì còn thiếu cho người nghèo túng. Vì thế, người giàu có bổn phận phải giúp đỡ người nghèo, để, khi được hưởng dư dật của cải trần gian, họ đừng phung phí hay tiêu xài vô ích, nhưng phải sử dụng chúng để nâng đỡ và mưu ích cho những ai thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu của đời sống. Những ai chia sẻ của cải của mình cho Chúa Kitô nơi những người nghèo khổ của Người thì sẽ lãnh nhận từ Chúa một phần thưởng dồi dào nhất, khi Người đến phán xét thế gian; còn những ai hành động ngược lại sẽ phải chịu hình phạt.[94] Không phải vô ích mà Thánh Tông đồ đã cảnh báo chúng ta: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”[95]

120. Tuy nhiên, nếu, vì mục đích ấy, các nguồn lực tư nhân không đủ, thì công quyền có bổn phận bù đắp cho những hạn chế trong nỗ lực của cá nhân, nhất là trong một vấn đề hệ trọng liên quan đến công ích, chạm đến việc duy trì gia đình và đời sống hôn nhân. Nếu các gia đình, đặc biệt là những gia đình đông con, không có được nơi ở thích hợp; nếu người chồng không thể tìm được công việc và phương tiện sinh nhai; nếu các nhu yếu phẩm của đời sống chỉ có thể mua được với giá cắt cổ; nếu ngay cả người mẹ cũng buộc phải ra ngoài kiếm sống bằng sức lao động của mình, gây tổn hại lớn cho gia đình; nếu trong quá trình sinh nở, dù là sinh thường hay sinh khó, người mẹ lại thiếu thốn thực phẩm bổ dưỡng, thuốc men và sự chăm sóc của bác sĩ lành nghề, thì ai cũng thấy rõ các đôi vợ chồng sẽ dễ nản lòng đến mức nào, và đời sống gia đình cũng như việc tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa sẽ trở nên khó khăn cho họ ra sao. Quả thế, thật dễ thấy mối nguy hại to lớn đe dọa an ninh công cộng cũng như sự an sinh và chính sự tồn vong của xã hội dân sự khi những con người ấy bị dồn đến tình trạng tuyệt vọng, lúc mà chẳng còn gì để sợ mất mát, họ lại trở nên liều lĩnh hy vọng vào những lợi lộc may rủi nảy sinh từ sự đảo lộn trật tự nhà nước và xã hội.

121. Vì thế, những ai chịu trách nhiệm trong việc điều hành quốc gia và chăm lo công ích không thể bỏ mặc những nhu cầu của các cặp vợ chồng và gia đình họ, nếu không muốn gây ra những tổn hại lớn lao cho chính quốc gia và phúc lợi chung. Do đó, trong việc ban hành luật pháp cũng như phân phối ngân sách công, họ phải hết sức lưu tâm đến việc nâng đỡ người nghèo, coi đó là một trong những nhiệm vụ quản trị quan trọng nhất của mình.

122. Ta lấy làm tiếc khi nhận thấy rằng, trong thời đại ngày nay, không hiếm trường hợp xảy ra sự đảo ngược trật tự đích thực của sự việc: những người mẹ chưa kết hôn và con cái ngoài giá thú của họ (những người tất nhiên cần được giúp đỡ để tránh một điều tồi tệ hơn) lại nhận được sự trợ giúp nhanh chóng và hào phóng, trong khi các bà mẹ trong hôn thú hợp pháp lại bị từ chối, hoặc chỉ nhận được sự hỗ trợ một cách dè sẻn hay gần như miễn cưỡng.

123. Nhưng, thưa Anh Em đáng kính, không chỉ đối với các lợi ích vật chất mà chính quyền công quyền có trách nhiệm quan tâm thích đáng đến hôn nhân và gia đình, nhưng còn trong những điều liên quan đến lợi ích của các linh hồn nữa. Phải ban hành những đạo luật công minh để bảo vệ đức thanh khiết, sự nâng đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng, và các mục đích tương tự ; đồng thời, các đạo luật này phải được thực thi một cách nghiêm túc. Bởi vì, như lịch sử chứng minh, sự thịnh vượng của quốc gia và hạnh phúc trần thế của người dân không thể bền vững nếu nền tảng đạo đức, tức chính trật tự luân lý, bị suy yếu, và nếu chính cội nguồn nuôi dưỡng sự sống của quốc gia, tức hôn nhân và gia đình, lại bị cản trở bởi những thói hư tật xấu của người dân.

124. Để gìn giữ trật tự luân lý, cả luật lệ và chế tài của quyền bính trần thế, cũng như vẻ đẹp của đức hạnh cùng việc lý giải sự cần thiết của nó, đều không đủ. Thẩm quyền tôn giáo cần phải can thiệp để soi sáng trí tuệ, hướng dẫn ý chí và củng cố sự yếu đuối của con người nhờ sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa. Thẩm quyền ấy không thể tìm thấy ở đâu khác ngoài Hội Thánh do Chúa Kitô thiết lập. Vì vậy, nhân danh Chúa, Ta tha thiết kêu gọi những ai nắm giữ quyền bính hãy thiết lập và duy trì vững chắc sự hòa hợp và tình hữu nghị với Hội Thánh của Chúa Kitô này, để nhờ sự cộng tác và sức mạnh chung của cả hai quyền bính, những tai họa khủng khiếp, vốn là kết quả của thứ tự do phóng túng tấn công hôn nhân và gia đình, đồng thời đe dọa cả Hội Thánh lẫn Nhà nước, mới có thể được ngăn chặn hữu hiệu.

125. Các chính quyền có thể trợ giúp rất nhiều cho Hội Thánh trong việc thi hành sứ vụ cao cả của mình, nếu khi ban hành các pháp lệnh, họ lưu tâm đến những gì được luật Thiên Chúa và luật Hội Thánh quy định, đồng thời ấn định hình phạt cho những kẻ vi phạm. Bởi lẽ, có người cho rằng bất cứ điều gì được luật pháp quốc gia cho phép, hoặc ít là không bị luật pháp trừng phạt, thì cũng được phép trong trật tự luân lý; và vì không kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng thấy lý do gì để e ngại luật pháp loài người, họ hành động ngược lại với lương tâm, qua đó thường tự chuốc lấy tai họa cho chính mình và gây hại cho nhiều người khác. Việc Nhà nước gắn kết với Giáo hội sẽ không gây nguy hại hay làm suy giảm quyền hạn và sự toàn vẹn của Nhà nước. Những nghi ngại và lo sợ như vậy hoàn toàn vô căn cứ, đúng như Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã khẳng định rất rõ ràng. Ngài nói: “Người ta thường đồng thuận rằng Đấng Sáng Lập Hội Thánh, là Chúa Giêsu Kitô, muốn quyền bính thiêng liêng tách biệt với quyền bính dân sự, và mỗi quyền bính được tự do, không bị ngăn trở trong khi thi hành công việc của riêng mình. Tuy nhiên, đừng quên rằng có một mối quan hệ hài hòa là điều thích hợp cho cả hai và mang lại lợi ích cho tất cả mọi người... Nếu quyền bính dân sự phối hợp thân thiện với quyền bính thiêng liêng của Hội Thánh, thì tất yếu cả đôi bên sẽ gặt hái nhiều ích lợi. Phẩm giá của Nhà nước sẽ được nâng cao, và với tôn giáo làm kim chỉ nam, sẽ không bao giờ có một sự cai trị bất công; trong khi đó, Hội Thánh sẽ có được sự bảo vệ và hậu thuẫn đắc lực, vốn sẽ hoạt động vì lợi ích chung của các tín hữu.”[96]

126. Để đưa ra một ví dụ gần đây và rõ ràng cho điều ấy: việc đạt được một giải pháp hòa bình và sự hợp tác hữu nghị trong các vấn đề hôn nhân, thông qua Hiệp ước trọng thể được ký kết một cách tốt đẹp giữa Tòa Thánh và Vương quốc Ý, đã diễn ra hoàn toàn phù hợp với trật tự đúng đắn và hoàn toàn theo luật của Chúa Kitô; điều này thực sự xứng hợp với lịch sử vẻ vang của dân tộc Ý cũng như những truyền thống cổ xưa và thiêng liêng của họ. Những điều khoản này được ghi trong Hiệp ước Latêranô: “Với ước muốn khôi phục phẩm giá phù hợp với truyền thống của dân tộc mình cho thể chế hôn nhân, vốn là nền tảng của gia đình, Nhà nước Ý công nhận các hiệu lực dân sự đối với Bí tích Hôn Phối theo đúng những gì được quy định trong Giáo luật.”[97]  Bên cạnh chuẩn mực cơ bản này, hiệp ước chung còn bao gồm các điều khoản bổ sung khác.

127. Đây có thể coi là một ví dụ nổi bật cho mọi người cho mọi người thấy làm thế nào, ngay trong thời đại chúng ta đây (thời đại mà, thật đáng buồn, người ta thường rao giảng về sự tách biệt hoàn toàn giữa quyền bính dân sự với Hội Thánh, và thực ra là với mọi tôn giáo), quyền bính tối cao này vẫn có thể được kết hợp và liên kết với quyền bính kia mà không làm tổn hại đến quyền lợi hay quyền lực tối cao của bên nào, qua đó bảo vệ các bậc cha mẹ Kitô hữu khỏi những sự dữ nguy hại và nguy cơ sụp đổ.

128. Thưa Anh Em đáng kính, tất cả những điều này, vốn xuất phát từ mối quan tâm trước đây của Ta, mà Ta đã trình bày với Anh Em, nay Ta mong muốn, theo lẽ khôn ngoan Kitô giáo, được phổ biến rộng rãi đến hết thảy con cái yêu dấu được trao phó cho Anh Em chăm sóc với tư cách là thành viên trong đại gia đình của Chúa Kitô, để mọi người đều thấu hiểu tường tận giáo lý chân chính về hôn nhân, để họ luôn cảnh giác trước những hiểm họa do những kẻ gieo rắc sai lầm cổ xúy, và nhất là để họ “từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang.”[98]

129. Nguyện xin Chúa Cha, “Ðấng là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất”[99], Đấng củng cố kẻ yếu đuối và ban dũng khí cho những tâm hồn nhút nhát và sợ hãi; và nguyện xin Chúa Đức Kitô, là Chúa và là Đấng Cứu Chuộc chúng ta, “Đấng thiết lập và kiện toàn các bí tích thánh”[100], Đấng đã muốn và đã biến hôn nhân thành hình ảnh huyền nhiệm về sự kết hợp khôn tả của Người với Hội Thánh; và nguyện xin Chúa Thánh Thần, là Tình Yêu Thiên Chúa, là Ánh Sáng tâm hồn và là Sức Mạnh của trí tuệ, ban cho mọi người nhận biết, sẵn sàng đón nhận, và nhờ ơn Chúa mà đem ra thực hành, những gì Ta đã trình bày trong Thông điệp này liên quan đến Bí tích Hôn Phối thánh thiêng, về lề luật và thánh ý tuyệt diệu của Thiên Chúa đối với Bí tích ấy, về những sai lầm cùng các mối nguy hại đang rình rập, cũng như những phương thế để khắc phục chúng, để những hoa trái được dâng hiến cho Thiên Chúa đó được phát triển mạnh mẽ trở lại trong đời sống hôn nhân Kitô giáo.

130. Ta khiêm cung dâng lời cầu nguyện tha thiết lên Ngai Tòa Ân Sủng của Ngài, xin Thiên Chúa, Đấng khơi nguồn mọi ân sủng, Đấng khơi dậy mọi ước muốn và hành động thiện hảo,[101] thực hiện điều này, và rộng lòng ban phát dồi dào theo sự quảng đại và toàn năng của  Ngài. Và như một dấu chỉ cho phúc lành tràn đầy của chính Thiên Chúa Toàn Năng, Ta thân ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho Anh Em đáng kính, cũng như cho hàng giáo sĩ và đoàn dân đang được Anh Em ân cần chăm sóc.

Ban hành tại Rôma, tại Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 31 tháng 12 năm 1930, năm thứ chín triều đại giáo hoàng của Ta.

PIÔ XI

------------------------------------------

[1] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02 1880.

[2] St 1, 27-28; 2, 22-23; Mt 19, 3...; Ep 5, 23...

[3] Công đồng Trentô, Khóa XXIV.

[4] Bộ Giáo luật 1917, điều 1081, §2.

[5] Bộ Giáo luật 1917, điều 1081, §1.

[6] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, phần III, Phụ lục, Vấn đề số 49, bài 3.

[7] Thông điệp Rerum novarum, 15.05.1891.

[8] St 1, 28.

[9] Thông điệp Ad salutem, 20.04.1930.

[10] Thánh Augustinô, De bono coniugali, chương 24, số 32.

[11] Thánh Augustinô, De Genesi ad litteram, quyển IX, chương 7, số 12.

[12] St 1,28.

[13] 1Tm 5,14.

[14] Thánh Augustinô, De bono coniugali, chương 24, số 32.

[15] 1Cr 2,9.

[16] Ep 2,19.

[17] Ga 16,21.

[18] Thông điệp Divini illius Magistri, 31.12.1929.

[19] Thánh Augustinô, De Genesi ad litteram, quyển IX, chương 7, số 12.

[20] Bộ Giáo luật 1917, điều 1013, §7.

[21] Công đồng Trentô, Khóa XXIV.

[22] Mt 5, 28.

[23] Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Sắc lệnh, 02.03.1679, mệnh đề 50.

[24] Ep 5, 25; Cl 3, 19.

[25] Catechismus Romanus, II, chương VIII, số 24.

[26] Thánh Grêgôriô Cả, Homii. XXX in Evang (John XIV,23-31), số 1.

[27] Mt 22, 40.

[28] 1Cr 7, 3.

[29] Ep 5, 22-23.

[30] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02. 1880.

[31] Mt 19, 6.

[32] Lc 16, 18.

[33] Thánh Augustinô, De Genesi ad litteram, quyển IX, chương 7, số 12.

[34] Piô VI, Rescript. ad Episc. Agriens., 11.07.1789.

[35] Ep 5, 32.

[36] Thánh Augustinô, De nuptiis et concupiscentia, quyển I, chương 10.

[37] 1Cr 13, 8.

[38] Công đồng Trentô, Khóa XXIV.

[39] Công đồng Trentô, Khóa XXIV.

[40] Bộ Giáo luật 1917, điều 1012.

[41] Thánh Augustinô, De nuptiis et concupiscentia, quyển I, chương 10.

[42] Mt 13, 25.

[43] 2Tm 4, 2-5.

[44] Ep 5, 3.

[45] Thánh Augustinô, De coniugiis adulterinis, quyển II, số 12; St 38,8-10.

[46] Mt 15,14.

[47] Lc 6, 38.

[48] Công đồng Trentô, Khóa VI, chương 11.

[49] Tông hiến Cum occasione, 31.05.1653, mệnh đề 1.

[50] Xh 20,13; so sánh Sắc lệnh Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, 04.05.1897; 24.07.1895; 31.05.1884.

[51] Thánh Augustinô, De nuptiis et concupiscentia, chương XV.

[52] Rm 3,8.

[53] St 4,10.

[54] Summa Theologiae, II-II, q.108, a.4, ad 2.

[55] Xh 20,14.

[56] Mt 5,28.

[57] Dt 13,8.

[58] Mt 5,18.

[59] Mt 7,27.

[60] Lêô XIII, Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02.1880.

[61] Ep 5,32: Dt 13,4.

[62] Bộ Giáo luật 1917, điều 1060.

[63] Modestinus, Digesta (quyển XXIII, II: De ritu nuptiarum); quyển I, Regularum.

[64] Mt 19,6.

[65] Lc 16,18.

[66] Công đồng Trentô, Khóa XXIV, chương 5.

[67] Công đồng Trentô, Khóa XXIV, chương 7.

[68] Bộ Giáo luật 1917, điều 1128tt.

[69] Lêô XIII, Thông điệp Arcanum divinae sapientiae 10.02.1880.

[70] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae 10.02.1880.

[71] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae 10.02.1880.

[72] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q.91, a.1-2.

[73] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02.1880.

[74] Thánh Augustinô, Enarrationes in Psalmos, Tv 143.

[75] Rm 1, 24.26.

[76] Gc 4,6.

[77] Rm 7-8.

[78] Công đồng Vatican I, Khóa III, chương 2.

[79] Công đồng Vatican I, Khóa III, chương 4; Bộ Giáo luật 1917, điều 1324.

[80] Cv 20, 28.

[81] Ga 8, 32 tt; Gl 5, 13.

[82] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02.1880.

[83] Thánh Robert Bellarmine, De controversiis, tập III, De matrimonio, tranh luận II, chương 6.

[84] 1Tm 4, 14.

[85]  2Tm 1, 6-7.

[86] Gl 6, 9.

[87] Ep 4,13.

[88] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02.1880.

[89] Ep 6, 2-3; Xh 20,12.

[90] Thông điệp Rerum novarum, 15.05.1891.

[91] Lc 10, 7.

[92] Đnl 24, 4-15.

[93] Lêô XIII, Thông điệp Rerum novarum, 15.05.1891.

[94] Mt 25, 34 tt.

[95] 1Ga 3, 17.

[96] Thông điệp Arcanum divinae sapientiae, 10.02.1880.

[97] Concordat, điều 34; Acta Apostolicae Sedis, tập XXI (1929), tr. 290.

[98] Tt 2,12-13.

[99] Ep 3,15.

[100] Công đồng Trentô, Khóa XXIV.

[101] Pl 2,13.

----------------------------------------------------------------

(Bản dịch của Đình Trọng, Văn Phụng, Tịnh Chân - nhóm sinh viên Đại Chủng viện Huế. Linh mục Võ Xuân Tiến hiệu đính. Ngày 7/9/2026).