THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS (NHÂN TÍNH CAO CẢ)
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊ-Ô XIV
VỀ VIỆC BẢO VỆ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
(Lm. Lê Công Đức, PSS, dịch từ bản tiếng Anh chính thức của Tòa Thánh)

GIỚI THIỆU
Những điều mới mẻ (res novae) của thời đại chúng ta
Hai hình ảnh trong Thánh Kinh
Xây dựng cho thiện ích chung
Giữ vững tính người
CHƯƠNG MỘT
MỘT CÁCH TIẾP CẬN NĂNG ĐỘNG TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG
Một Giáo hội bước đi trong lịch sử nhân loại
Sự khôn ngoan của Lời Chúa trong đối thoại với khoa học nhân văn
Học thuyết Xã hội như một sự phân định chung
Sự phát triển của Học thuyết Xã hội từ thời Giáo hoàng Lê-ô XIII đến nay
Những giai đoạn đầu tiên của Học thuyết Xã hội của Giáo hội
Những năm của Công đồng Vatican II
Huấn quyền gần đây
Giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin
CHƯƠNG HAI
CÁC NỀN TẢNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI
Các nền tảng của Học thuyết Xã hội
Con người: hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi
Phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người
Giá trị tối thượng của nhân quyền
Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội
Nguyên tắc về công ích
Nguyên tắc về mục đích phổ quát của của cải
Nguyên tắc bổ trợ
Nguyên tắc liên đới
Nguyên tắc công bằng xã hội
Sự phát triển nhân bản toàn diện
Một cuộc kiểm điểm cho Giáo hội
CHƯƠNG BA
CÔNG NGHỆ VÀ SỰ THỐNG TRỊ -
SỰ CAO CẢ CỦA NHÂN TÍNH DƯỚI ÁNH SÁNG NHỮNG TRIỂN VỌNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Kiểu thức kỹ trị và quyền lực kỹ thuật số
Trí tuệ nhân tạo
Một công cụ quý giá đòi hỏi sự cảnh giác
Trách nhiệm, tính minh bạch và sự quản trị AI
Điều không được để mất
Những diễn ngôn nền: chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân bản
Giới hạn, trái tim và sự cao trọng của con người
Cái đích thực “hơn cả con người”: ân sủng và nhân bản Kitô giáo
Hai thành phố và hai tình yêu
CHƯƠNG BỐN
BẢO VỆ NHÂN TÍNH TRONG THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI -
SỰ THẬT, LAO ĐỘNG, TỰ DO
Sự thật như một lợi ích chung
Sự thật và dân chủ
Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể
Hướng tới một hệ sinh thái truyền thông
Một liên minh giáo dục cho thời đại kỹ thuật số
Vai trò trung tâm của các trường học
Phẩm giá của lao động trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật số
Giá trị của lao động
Vấn đề thất nghiệp
Một nền kinh tế coi trọng phẩm giá
Gia đình và giới trẻ: các điều kiện xã hội cho niềm hy vọng
Bảo vệ tự do chống lại sự phụ thuộc và thương mại hóa
Những sự phụ thuộc và việc kiểm soát xã hội
Phá vỡ xiềng xích của những hình thức nô lệ mới
Một trách nhiệm cùng chia sẻ
CHƯƠNG NĂM
NỀN VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG
Nền văn minh tình thương trong thời đại kỹ thuật số
Nền văn hóa quyền lực
Sự bình thường hóa chiến tranh
Vũ lực không giới hạn
Vũ khí và trí tuệ nhân tạo
Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương
Một chủ nghĩa hiện thực chính trị được giả sử
Xây dựng nền văn minh tình thương
Tất cả chúng ta đều có thể đóng góp phần của mình
Cần phải giải giáp lời nói
Xây dựng hòa bình thông qua công lý
Lấy góc nhìn của các nạn nhân
Phát huy một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh
Khôi phục đối thoại
Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương
Cầu nguyện và hy vọng
KẾT LUẬN
Ngôi Lời đã trở thành xác thịt
Một thân thể trong Chúa Kitô
Công trường xây dựng của thời đại chúng ta
Bài ca hy vọng: Magnificat
----------------------------------------------------------

GIỚI THIỆU
1. Nhân tính, được Thiên Chúa tạo dựng trong tất cả sự cao cả của nó, ngày nay đang đối mặt với một sự lựa chọn quyết định: hoặc xây dựng một Tháp Babel mới hoặc xây dựng thành đô nơi Thiên Chúa và con người cùng cư ngụ. Mỗi thế hệ kế thừa nhiệm vụ định hình thời đại của mình, hướng dẫn lịch sử trở thành một nơi mà phẩm giá của mọi con người được bảo vệ, công lý được thúc đẩy và tình huynh đệ được thực hiện. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng có nguy cơ tạo ra một thế giới phi nhân và bất công hơn. Bất cứ khi nào nhân tính có nguy cơ bị tổn hại căn tính thực sự của mình, thì chúng ta, những Kitô hữu, hướng nhìn lên vị Thiên Chúa Nhập Thể, ý thức rằng “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể thì mầu nhiệm của nhân tính mới thực sự trở nên sáng tỏ.” [1] Trong Chúa Giêsu Kitô, nhân tính này, trong sự cao cả của nó, trở thành Con Đường, Sự Thật và Sự Sống, mở ra nẻo đường cho mỗi người chúng ta lớn lên hướng đến sự viên mãn.
2. Được xây dựng trên nền móng Chúa Kitô, viên đá sống, chúng ta kinh nghiệm hoạt động mạnh mẽ và mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần, và chúng ta tin rằng mọi nỗ lực chân chính của con người để cộng tác với Ngài vì điều thiện sẽ được chúc phúc bởi Cha trên trời, Đấng mà chúng ta đặt niềm hy vọng. Vì lý do này, chúng ta có thể chuyên chăm đóng góp vào mọi sáng kiến xây dựng một thế giới công bằng hơn, và chúng ta có thể kêu gọi những người khác cộng tác trong việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mọi con người. Chúng ta mong muốn đối thoại với tất cả mọi người nam nữ trong thời đại chúng ta, những người cùng chia sẻ với chúng ta những sự kiện, những vấn nạn và những cảm hứng của nhân loại. [2] Cùng với họ, chúng ta tìm cách nhận diện những con đường mới cho công ích để thúc đẩy một cuộc sống có phẩm giá cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Giáo hội, bởi vì được thiết lập trong Chúa Kitô như “một bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại,” [3] Giáo hội nhìn nhận lịch sử là nơi mà Tin Mừng thách thức và hướng dẫn kinh nghiệm của con người.
3. Trong tinh thần này, Giáo hoàng Lê-ô XIII đã ban hành Thông điệp Rerum Novarum vào năm 1891, năm nay chúng ta kỷ niệm 135 năm ngày ban hành với lòng biết ơn sâu sắc. Với văn kiện đó, vị tiền nhiệm yêu quý của tôi đã thúc đẩy sự suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị, mà ngày nay được gọi là “Học thuyết Xã hội của Giáo hội”. Khi một số người phản đối rằng Giáo hội không nên lãng phí năng lực vào những vấn đề thế tục, mà thay vào đó nên tập trung vào việc truyền đạt sứ điệp về sự sống vĩnh cửu, Đức Lê-ô XIII đã đáp lại bằng tinh thần thực tiễn và khôn ngoan, ngài nói rằng việc rao giảng Tin Mừng không thể bỏ qua cuộc sống cụ thể của con người. [4] Nhiều thập niên đã trôi qua kể từ đó, và Huấn quyền, các mục tử, các nhà thần học và các tín hữu đã tiếp tục suy ngẫm về các vấn đề xã hội dưới ánh sáng của Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Giáo hội là một di sản của sự khôn ngoan, nơi chúng ta tìm thấy các nguyên tắc để suy nghĩ, các tiêu chí để phân định và phán quyết, và các hướng dẫn cụ thể để hành động. Được xây dựng trên Thánh Kinh và Truyền thống, và gắn kết với các ngành khoa học, nó giúp chúng ta nhận hiểu rõ những thách thức của hiện tại và nhận diện những cách thức thích hợp để sống một chứng tá Kitô giáo rõ ràng, trong niềm vui và tinh thần phục vụ thế giới. Nó không phải là một tập hợp các khái niệm cứng nhắc, mà là một kho tàng chân lý sống động giúp bảo vệ và giải thích ơn gọi của con người hướng tới một cuộc sống viên mãn và công chính. Do đó, tôi muốn góp thêm tiếng nói của mình vào truyền thống sống động này, trong khi cầu xin sự giúp đỡ của Thần Khí khôn ngoan, Đấng vốn hiện diện trong thế giới từ thuở ban đầu (x. Cn 8,22-31).
Những điều mới mẻ (res novae) của thời đại chúng ta
4. Trong khi Đức Lê-ô XIII nói về “những điều mới mẻ” (rerum novarum) vào thời ấy, thì ngày nay chúng ta không thể giới hạn mình chỉ ở việc lặp lại những giáo huấn sâu sắc của ngài. Thay vào đó, chúng ta phải xin Chúa ban cho sự khôn ngoan để giải thích những xu hướng lớn của thời đại mình, đặc biệt là những tiến bộ công nghệ. Trong những năm gần đây, ngày càng thấy rõ về tốc độ và mức độ sâu sắc mà công nghệ số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot đang biến đổi thế giới của chúng ta. Công nghệ tự thân nó không nên bị coi là một sức mạnh đối kháng với nhân tính. Ngược lại, nó đã là một phần của lịch sử chúng ta ngay từ đầu xét như “một thực tại nhân văn sâu sắc, gắn liền với tính tự trị và tự do của người ta.” [5] Qua các thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của con người. Đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng đã bộc lộ tính hàm hồ của các công cụ vốn có thể gây hại khi không được điều hướng nhắm tới sự thiện. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta thấy mình đang đối mặt với một tình huống mới. Sức mạnh và sự phổ biến của các công nghệ mới nổi lên được đan kết vào cấu trúc của cuộc sống hàng ngày, định hình các tiến trình ra quyết định và ảnh hưởng sâu xa đến trí tưởng tượng tập thể: “Chưa bao giờ nhân loại lại có quyền lực lớn lao như vậy đối với chính mình.” [6] Các công nghệ mới mở ra một chân trời vươn ra những hướng có thể tưởng tượng được nhưng chưa thể dự báo được đầy đủ. Điều này làm phức tạp việc đánh giá tác động tiềm tàng của chúng và những ảnh hưởng lâu dài mà chúng có thể gây ra đối với cả phẩm giá của các cá nhân lẫn công ích.
5. Giờ đây, đến lượt chúng ta phải đối mặt những thách đố của thời đại, với sự rõ ràng trong nhận thức và trong trách nhiệm. Cần phải thiết lập các công cụ quản lý thích hợp có khả năng thượng tôn công lý và kiềm chế những tác động bóp méo của sức mạnh công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ giới hạn ở việc quản trị. Như Đức giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thực tế tự hỏi ai đang nắm giữ sức mạnh này ngày nay và họ sử dụng nó như thế nào: “Cũng phải thừa nhận rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kiến thức về DNA của chúng ta, và nhiều khả năng khác mà chúng ta đạt được… đã mang lại cho những người có kiến thức - và đặc biệt là cho các nguồn lực kinh tế sử dụng chúng - một sự thống trị đáng kể đối với cả nhân loại và toàn thế giới.” [7] Trong quá khứ, phần lớn việc hướng dẫn và chỉ đạo đổi mới thuộc về Nhà nước. Còn ngày nay, những người lèo lái chính của sự phát triển là thuộc các thành phần tư nhân, thường là xuyên quốc gia, được trang bị các nguồn lực và khả năng can thiệp vượt trội so với nhiều chính phủ. Sức mạnh công nghệ do đó mang một khía cạnh đậm tính “tư nhân” chưa từng có, điều này làm cho việc nhận định, quản trị và định hướng sức mạnh đó nhắm tới công ích càng trở nên khó khăn hơn.
6. Vì lý do này, cần phải bắt đầu một quá trình phân định chung để nhận diện các gốc rễ văn hóa và tâm linh của những sự chuyển hóa đang diễn ra. Nếu chúng ta chỉ tập trung vào những tình huống bất ngờ, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi các tình huống khẩn cấp quyết định đường hướng của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển đổi nhanh chóng, một “sự thay đổi thời đại”, trong đó – trong khi một số người đang tranh giành tương lai của các công nghệ mới, và những người khác thì quan tâm suy ngẫm về vấn đề này – thì đa số người ta đang quan sát và chờ đợi, theo dõi từ xa và duy chỉ ước mong điều tốt đẹp nhất. Chính vì lý do này, có những câu hỏi quan trọng đặt ra cho lương tâm chúng ta và chúng ta không còn có thể tránh né nữa: Ta đang đi đâu? Chúng ta muốn hướng mình tới mục tiêu nào? Chúng ta nên chọn hướng đi nào với tư cách là một dân tộc và một cộng đồng nhân loại?
Hai hình ảnh trong Thánh Kinh
7. Để trả lời những câu hỏi này và tìm ra cách ứng phó đầy trách nhiệm với thời đại AI, tôi muốn nhắc đến hai cảnh trong Kinh Thánh: việc xây dựng Tháp Babel (x. St 11,1-9) và việc xây dựng lại tường thành Giêrusalem (x. Nkm 2-6). Câu chuyện về Tháp Babel xuất hiện trong sách Sáng thế, về các nguồn gốc của loài người, ngay sau gia phả của các con trai Nô-ê. Sau khi định cư trên một đồng bằng ở vùng đất Si-na, dân chúng quyết định xây dựng một thành phố và một tòa tháp “đỉnh cao đến tận trời” (St 11,4). Lo sợ bị phân tán khắp mặt đất, họ tìm cách bảo đảm sự ổn định và quyền lực cho mình, và trên hết là để “tạo dựng tên tuổi” cho bản thân. Đó là một kỳ tích ấn tượng: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một hướng đi duy nhất. Tuy nhiên, dự án này ẩn chứa một mối nguy hiểm sâu sắc. Đó là một dự án được cưu mang mà không có sự tham chiếu đến Chúa, được hỗ trợ bởi một sự đồng nhất loại bỏ tính đa dạng, và nó chọn sự đồng nhất hóa hơn là sự hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên sự kiêu hãnh và tự mãn nơi chính mình, sự giao tiếp sẽ gãy đổ, ngôn ngữ bị lẫn lộn và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là sự thống nhất, mà là sự phân tán. Như vậy, câu chuyện Tháp Babel cho thấy các giới hạn của bất kỳ nỗ lực nào, dù vĩ đại đến đâu, xuất phát từ sự tự khẳng định, hy sinh phẩm giá con người để có được hiệu năng, và khao khát vươn tới trời mà không có phước lành của Chúa.
8. Về phần sách Nơkhemia, đó là sự vén mở về một thời rất chênh vênh trong lịch sử Israel cổ đại. Sau cuộc lưu đày ở Babylon, một phần dân chúng trở về Giêrusalem, nhưng thành phố vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và cổng thành bị thiêu rụi (x. Nkm 1–2). Nơkhemia, một người Do thái phục vụ vua Artaxerxes của Ba Tư, nhận được tin về tình trạng thảm khốc của thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông đã ăn chay, cầu nguyện và chuyển cầu cho dân chúng. Rồi ông xin phép nhà vua trở về Giêrusalem và khi đến nơi, ông lặng lẽ xem xét các khu vực bị tàn phá. Ông không áp đặt các giải pháp từ trên xuống. Ông triệu tập các gia đình, giao cho mỗi gia đình một phần tường thành để xây dựng lại, lắng nghe những lo ngại của họ, phối hợp các nỗ lực của họ và giải quyết mọi sự phản đối. Câu chuyện cho thấy thành phố được tái sinh như thế nào, không phải nhờ sáng kiến của một người, mà nhờ tinh thần đồng trách nhiệm của tất cả mọi người: đàn ông, phụ nữ, tư tế, thợ thủ công, các chủ hộ và thanh niên, tất cả đều có vai trò. Đó là một công cuộc đặt Chúa ở trung tâm, xây dựng lại các mối tương quan trước khi xây dựng công trình bằng đá. Như vậy, Giêrusalem cổ đại tái khám phá một ngôn ngữ chung - không phải là ngôn ngữ của sự đồng nhất, mà là ngôn ngữ của sự hiệp thông, nghĩa là sự hòa hợp nảy sinh khi tất cả mọi người đảm nhận vai trò của mình và nhìn nhận rằng sức mạnh của mình đến từ Chúa.
9. Trong ánh sáng của hai hình ảnh ấy, Chúa Thánh Thần thách thức chúng ta ngày nay về mối tương quan của chúng ta với công nghệ và với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra. Những khám phá khoa học là những tài năng được giao phó cho con người để chúng có thể sinh hoa trái (x. Mt 25,14-30). Công nghệ có sức mạnh để chữa lành, kết nối, giáo dục và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể chia rẽ, loại trừ và tạo ra những hình thức bất công mới. Nói cách khái quát, công nghệ tự thân nó không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân loại, cũng như nó vốn không xấu xa. Tuy nhiên, trong thực tế, công nghệ không bao giờ trung lập, bởi vì nó mang đặc điểm của những người thiết kế, tài trợ, điều chỉnh và sử dụng nó. Do đó, sự lựa chọn chủ yếu không phải là nói "có" hay "không" với công nghệ, mà là chọn lựa giữa việc xây dựng Tháp Babel hay xây dựng lại Giêrusalem; giữa một quyền lực tuyên bố thống trị trời đất và một dân tộc cùng nhau làm việc trong sự hiện diện của Chúa để xây dựng lại bức tường chung sống huynh đệ.
10. Do đó, chúng ta phải tránh "hội chứng Babel", nghĩa là tránh sự sùng bái lợi nhuận gắn với việc hy sinh kẻ yếu, tránh sự đồng nhất làm mất đi những khác biệt, và tránh sự giả vờ rằng một ngôn ngữ duy nhất - ngay cả là ngôn ngữ kỹ thuật số - có thể chuyển dịch mọi thứ, kể cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu suất. Nguy cơ phi nhân hóa - tức xây dựng một tương lai loại trừ Thiên Chúa và giảm trừ người khác thành phương tiện - là một cám dỗ muôn thuở mà ngày nay đang đội lốt kỹ thuật. Thay vào đó, chúng ta hãy chọn “con đường của Nơkhemia”, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau xây dựng Thành đô Thiên Chúa thành một nơi an toàn cho những người lưu vong trở về. Ngày nay việc xây dựng lại có nghĩa là nhận ra rằng chính từ sự đa dạng của các tiếng nói và tầm nhìn mà một khả năng tươi sáng xuất hiện – ngay cả dù đôi khi sự đa dạng ấy nhắc chúng ta về sự hỗn loạn do những ngôn ngữ khác nhau gây ra. Thật vậy, đó là khả năng cùng nhau xây dựng, biến sự đa dạng thành một nguồn lực, và biến việc lắng nghe và đối thoại thành nền tảng chung để vun đắp công lý và tình huynh đệ. Chính trong khi thi hành nhiệm vụ chung này, các Kitô hữu khám phá ra vai trò độc đáo của mình là hướng dẫn các hành động hướng về Thiên Chúa để, trong ánh sáng của Ngài, tính đa nguyên không tan biến thành sự hỗn loạn, mà thay vào đó, thông qua thực hành tính hiệp hành, nó trở thành nơi chốn mà nhân loại tái khám phá các nền tảng vững chắc và cùng đích của mình. Trong sách Khải huyền, Gioan nhìn thấy Giêrusalem mới “đi xuống từ trời nơi Thiên Chúa ngự” (Kh 21,2) như một quà tặng cho toàn nhân loại. Và thị kiến về ân sủng này là một lời mời gọi các Kitô hữu chúng ta cùng làm việc với nhau để thúc đẩy một đời sống bình an, công chính và xứng phẩm giá trong cộng đồng của những “thành đô” thời đại hôm nay.
Xây dựng cho công ích
11. Xây dựng một thành đô dựa trên công ích trước hết và trên hết hàm nghĩa việc xây dựng trên một mối tương quan vững chắc với Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là nhận ra rằng sự thật về tình yêu của Ngài kêu gọi chúng ta sống “trong tất cả sự tròn đầy” (Ga 10,10) và trong hiệp thông với Ngài. Giống như thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể nói: “Lạy Chúa, Ngài đã tạo dựng chúng con cho chính Ngài, và lòng chúng con còn khắc khoải cho đến khi được yên nghỉ trong Ngài.” [8] Thật vậy, Chúa đã khắc ghi trong lòng chúng ta một khát vọng hạnh phúc bao trùm tất cả các chiều kích của đời sống. Giáo hội, trong đối thoại với những con người nam nữ thời đại chúng ta, nhận ra sự khẩn thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng này hướng tới sự thật sâu xa nhất của nó.
12. Thứ hai, việc xây dựng cho công ích có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và điểm yếu của con người mà không coi chúng là một sai lỗi cần chỉnh sửa. Ngày nay, khát vọng của con người về sự sống tròn đầy đang có nguy cơ bị dẫn dụ bởi những mục tiêu dối lừa, chẳng hạn như triển vọng về một công nghệ hứa hẹn giải phóng chúng ta khỏi mọi điểm yếu, và các mô hình hạnh phúc bỏ lại phía sau những đám dân đông đảo. Rất thường, chúng ta đặt hy vọng vào những sự “nâng cấp” không giới hạn, vào các hình thức tiến bộ làm trầm trọng thêm những bất bình đẳng, và vào những giải pháp tức thời không có khả năng chữa lành các vết thương của con người. Kết quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng về sự tự khẳng định mình không giới hạn, nhiều người lại bị tước đoạt những nhu cầu cơ bản. Giáo hội nhắc nhở chúng ta, với một giọng nói kiên định nhưng từ tốn, rằng sự viên mãn thực sự không đạt được bằng cách loại bỏ điểm yếu, mà thông qua sự phát triển hài hòa. Nó được tìm thấy ở nơi tự do và trách nhiệm được đan kết với sự quan tâm lẫn nhau và tình liên đới thực sự, và nơi sự tiến bộ được đo lường bằng phẩm giá của mỗi con người và thiện ích của tất cả mọi người.
13. Thứ ba, việc xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể triển nở đòi hỏi tinh thần đồng trách nhiệm và lòng can đảm. Không ai có thể một mình gánh vác sức nặng của những thách đố mà thế giới đang đối mặt, cũng như không ai yếu đuối đến mức không thể đóng góp phần của mình, vì “sức mạnh được thể hiện hoàn hảo trong sự yếu đuối” (2Cr 12,9). Tất cả đều có phần của mình nơi bức tường ấy: các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu, các doanh nhân và công nhân, các nhà giáo dục và nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng và các cộng đoàn đức tin. Đây là logic của nguyên tắc bổ trợ, coi trọng sự hợp tác giữa các thế hệ, các dân tộc, các ngành và các nền văn hóa như cách tốt nhất để thúc đẩy sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên nhát sợ trước những căng thẳng hay những khác biệt, vì chúng có thể trở thành những lực sáng tạo khi được hướng dẫn bởi trách nhiệm chung.
14. Cuối cùng, việc xây dựng cho công ích đòi hỏi một ngôn ngữ Phúc Âm. Chúng ta phải tránh những lời lẽ xúc phạm hoặc đối đầu, thay vào đó chọn sự rõ ràng có sức soi sáng và sự thẳng thắn có sức khai mở những khả năng mới. Chúng ta không thể xuề xòa dung dưỡng những sự nhiệt tình ngây ngô, cũng không thể a dua thổi phồng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Thay vào đó, chúng ta hãy thiết lập các tiêu chuẩn để phân định – đó là, phẩm giá của con người, mục đích phổ quát của của cải, sự ưu tiên chọn lựa người nghèo, sự chăm sóc ngôi nhà chung và hòa bình của chúng ta – và hãy chuyển các tiêu chuẩn này thành những thực hành như việc lập kế hoạch có trách nhiệm, việc đánh giá tác động trên con người và xã hội, sự bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, sự thúc đẩy hiểu biết kỹ thuật số, và sự hướng dẫn nghiên cứu và nền công nghiệp nhắm tới công lý và hòa bình.
Giữ vững tính người
15. Trong Năm Thánh 2025 vừa qua, chúng ta đã bước đi như những người hành hương của hy vọng và được ban nhiều ân sủng. Được củng cố bởi những ơn lành này, chúng ta có thể tự tin tiến về phía trước để đảm nhận những nhiệm vụ cam go và những thách đố đầy khó khăn phía trước. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta là phải giữ vững tính người của mình. Chúng ta phải ân cần gìn giữ sự cao cả của nhân tính được ban cho chúng ta và được biểu lộ trọn vẹn trong Chúa Kitô, sự rạng ngời của nhân tính này không một cỗ máy nào có thể thay thế được. Sự tiến bộ thực sự luôn bắt nguồn từ một trái tim rộng mở với người khác, một trí tuệ sẵn sàng lắng nghe và một ý chí tìm kiếm những gì hiệp nhất hơn là những gì gây chia rẽ.
16. Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các tín hữu Công giáo, tất cả các Kitô hữu và tất cả mọi người thiện chí. Chúng ta đừng hấp tấp lăn xả vào “công trường xây dựng” của thời đại chúng ta. Như Nơkhemia, chúng ta hãy cầu nguyện, lập kế hoạch một cách khôn ngoan và làm việc một cách kiên trì, đặt Chúa lên hàng đầu trong mọi hành động của mình và đặt nhân vị con người làm trung tâm mọi lựa chọn của chúng ta. Như vậy, những “viên đá bị loại bỏ” – là người nghèo, người bệnh, người di cư và những người bé mọn nhất giữa chúng ta – sẽ trở thành hòn đá góc, và một ngôi nhà chung vững chắc, ấm áp sẽ hiện lộ trên trái đất, nơi tình yêu thương và lòng trung tín cuối cùng sẽ gặp nhau, và sự công chính và hòa bình sẽ ôm nhau (x. Tv 85,10). Đây là ơn phước mà chúng ta cầu xin Chúa; và nhiệm vụ trước mắt chúng ta là trở thành những người xây dựng sự hiệp thông, chứ không phải là những kiến trúc sư của Tháp Babel. Chúng ta phải là những người phục vụ cho Vương quốc sắp đến, thay vì là những ông chủ của những tòa tháp cuối cùng sẽ sụp đổ. Với trái tim của một mục tử và một người cha, tôi kêu gọi mọi người hãy từ bỏ việc xây dựng một Tháp Babel khác, và cùng nhau chung tay xây dựng thiện ích chung, để nhân tính không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của nó, và thế giới một lần nữa sẽ nhận ra trái tim con người là nơi Chúa muốn ngự trị.

CHƯƠNG MỘT
MỘT CÁCH TIẾP CẬN NĂNG ĐỘNG TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG
17. Trong chương đầu tiên này, tôi muốn trình bày một cách tổng hợp về cách mà Học thuyết Xã hội của Giáo hội đã hình thành trong Huấn quyền Giáo hoàng gần đây và trong Công đồng Vatican II, để cho thấy đặc tính năng động của nó. Thật vậy, trong mỗi thời đại, những điều mới mẻ (res novae) đòi hỏi giáo huấn này phải giải quyết các vấn đề lịch sử dưới ánh sáng của Chân lý mặc khải. Về phương diện này, cũng không nên xem trí tuệ nhân tạo chỉ đơn thuần là một chủ đề để nghiên cứu hay một cuộc khủng hoảng cần được quản lý, mà đúng hơn đó là một sự phát triển có sức thách thức các phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, đòi hỏi sự phát triển hơn nữa của các phạm trù ấy trong sự trung thành với Tin Mừng.
18. Tuy nhiên, cái nhìn tổng quan này sẽ không dễ hiểu nếu trước khi suy ngẫm về sự đóng góp của từng vị Giáo hoàng, và các văn kiện tiêu biểu nhất của các ngài, chúng ta không tiên vàn làm rõ một số nguyên tắc cơ bản liên quan đến cách thức Giáo hội tồn tại trong lịch sử và liên hệ với thế giới. Nếu không làm như vậy, Học thuyết Xã hội sẽ có nguy cơ bị coi là sự can thiệp không đáng có vào các vấn đề “thế tục” hoặc bị coi là một bộ quy tắc đạo đức bên ngoài được áp đặt từ trên xuống. Trong thực tế, nó xuất phát từ một Giáo hội đồng hành cùng nhân loại, thừa nhận tính tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa cộng đồng giáo hội và cộng đồng chính trị. Thật vậy, chính vì lý do này mà Giáo hội nỗ lực phục vụ thiện ích chung.
Một Giáo hội bước đi trong lịch sử nhân loại
19. Giáo hội hiện diện trong thế giới như một dấu hiệu của sự hiệp nhất cho toàn thể gia đình nhân loại. Giáo hội nhìn nhận những câu hỏi và những thách đố ngày nay như là bối cảnh hiện tại để thực thi ơn gọi riêng của mình là lắng nghe, đối thoại và phục vụ, và đáp ứng tất cả những gì liên quan đến cuộc sống của con người ngày nay. Sự liên can này vào cuộc sống của con người giúp Giáo hội hiểu rõ hơn rằng sứ mạng của mình có một tầm vóc lịch sử và bao hàm một trách nhiệm về cách thức xây dựng các mối quan hệ xã hội. Do đó, Giáo hội không thể coi mình là người xa lạ với các lực định hình xã hội. Ngược lại, Giáo hội tích cực tham gia vào các tiến trình phát triển và tổ chức xã hội, và Giáo hội đóng góp phần mình để kiến tạo một xã hội công bằng và huynh đệ hơn. Đức giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh chiều kích lịch sử này của sứ mạng Giáo hội: “Không ai có thể đòi hỏi rằng tôn giáo phải bị đẩy vào nơi thiêng liêng bên trong đời sống cá nhân, không có ảnh hưởng đến đời sống xã hội và quốc gia, không quan tâm đến sự lành mạnh của các thể chế dân sự, không có quyền đưa ra ý kiến về các sự kiện ảnh hưởng đến xã hội.” [9]
20. Ơn gọi và bổn phận của Giáo hội đồng hành cùng nhân loại trong những đặc thù của lịch sử dẫn Giáo hội đến việc nhìn nhận rằng thực tại trần thế có đặc điểm và trật tự riêng của chúng. Công đồng Vatican II đã diễn đạt nguyên tắc này một cách đặc biệt chính xác trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, mà chúng ta đã mừng kỷ niệm 60 năm với lòng biết ơn vào ngày 7 tháng 12 năm 2025: “Nếu quyền tự trị của các vấn đề trần thế có nghĩa là các tạo vật và xã hội tự chúng có các qui luật và giá trị riêng… thì yêu cầu về quyền tự trị là hoàn toàn chính đáng.” [10] Khẳng định này cho thấy rằng công trình tạo dựng mang dấu ấn của một sự tốt lành nguyên thủy mà nhân sinh quan của chúng ta phải bảo tồn, vun đắp và hoàn thành. Về phương diện này, Giáo hội dấn thân để giúp giải thích thực tại trong tất cả chiều sâu của nó. Với thái độ khiêm nhường kiên định, Giáo hội ủng hộ những lựa chọn thăng tiến phẩm giá của mỗi người, sự gắn kết của các cộng đồng và thiện ích của tất cả mọi người. Do đó, Giáo hội đứng sát cánh với thế giới mà không lấn át nó, để lời hứa về công lý và hòa bình mà Chúa Thánh Thần tiếp tục giữ vững trong trái tim con người có thể được thực hiện trong mọi công cuộc của họ.
21. Nhìn nhận rằng Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của con người trong tiến trình lịch sử, Công đồng Vatican II đã khẳng định sự phân biệt giữa cộng đồng giáo hội và cộng đồng chính trị, nhấn mạnh rằng mỗi cộng đồng phải hoạt động với đầy đủ quyền tự trị. Sự hiện diện của Giáo hội trong thế giới cũng được diễn tả qua mối tương quan của Giáo hội với xã hội dân sự và với các thiết chế công cộng. Bằng cách liên can với các thực thể này, Giáo hội thừa nhận giá trị của các thực tại xã hội và chính trị, và tôn trọng các trách nhiệm riêng của chúng, hỗ trợ những gì thúc đẩy thiện ích của các cá nhân và củng cố cấu trúc của xã hội. Giáo hội không giành lấy các chức năng thuộc về Nhà nước. Ngược lại, Giáo hội trân trọng những người phục vụ cho thiện ích chung, và Giáo hội nhất mực nhìn nhận trách nhiệm mà các thể chế dân sự nắm giữ trong xã hội. Đồng thời, do sứ mạng được ủy thác cho mình, Giáo hội được thúc đẩy quan tâm đến những đau khổ thực sự của con người thời đại chúng ta. Sự gắn bó này không xuất phát từ ý định thay thế các thể chế dân sự, càng không phải do ngầm chỉ trích công việc của các thể chế ấy. Đúng hơn, nó xuất phát từ lòng bác ái theo Phúc Âm, thúc đẩy Giáo hội tiếp cận những vết thương của con người bất cứ khi nào chúng hiện lộ với mức độ nghiêm trọng. Khi Giáo hội can thiệp, Giáo hội làm như vậy theo gương của Người Samari Tốt Lành, với sự thận trọng và gần gũi, ý thức rằng những gì nổi lên từ nhu cầu cấp bách không thể trở thành chuẩn mực, cũng không thể thay thế các trách nhiệm thể chế thuộc riêng của cộng đồng dân sự.
22. Việc khởi đi từ sự nhìn nhận kép này - về tính tự trị của các thực tại trần thế, và về sự phân biệt giữa các cảnh vực Giáo hội và chính trị - cho phép hiểu rõ hơn hướng đi mà Công đồng Vatican II đã vạch ra cho Giáo hội trong mối tương quan với thế giới. Gaudium et Spes nhắc chúng ta rằng “nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa, đặc biệt là các mục tử và các nhà thần học, là lắng nghe và phân biệt nhiều tiếng nói của thời đại chúng ta, cũng như giải thích chúng trong ánh sáng Lời Chúa, để Chân lý mặc khải có thể được nắm bắt sâu xa hơn, được nhận hiểu rõ hơn và được trình bày phù hợp hơn.” [11] Việc lắng nghe “nhiều tiếng nói” không chỉ đơn thuần là một bài tập xã hội học, mà đúng hơn nó đòi hỏi sự phân định thiêng liêng. Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Dân Thiên Chúa nhận ra trong những biến đổi văn hóa và xã hội cả những dấu hiệu về sự hiện diện của Chúa Kitô, Đấng đến và đưa lịch sử đến sự hoàn thành của nó, lẫn những sai lệch che khuất khuôn mặt của Người. Theo đó, cốt lõi thiết yếu của Chân lý mặc khải không bị thay đổi, mà được làm rõ và được chấp nhận như một tiêu chuẩn sống động để hướng dẫn những lựa chọn cụ thể, khơi lên những nẻo đường hoán cải cá nhân và cộng đồng, thúc đẩy những cải cách cơ cấu, và hỗ trợ các hình thức mới mẻ làm chứng cho Tin Mừng trong đời sống công cộng. Như thế lịch sử được hiểu là một trong những nơi mà Giáo hội cho phép mình được Thánh Linh dạy dỗ về năng lực nhân bản hóa của Tin Mừng; và Giáo hội học cách phát triển giáo huấn của mình để phục vụ cho phẩm giá của mọi người và cho thiện ích của mọi dân tộc.
Sự khôn ngoan của Lời Chúa trong đối thoại với khoa học nhân văn
23. Giáo hội coi tất cả những ai thành tâm tìm kiếm “chân, thiện, mỹ” là những bạn đồng hành trên hành trình, và coi họ là “đồng minh quý giá” [12] trong việc bảo vệ phẩm giá của mọi con người và việc chăm sóc công trình tạo dựng. Áp dụng phương thức mục vụ của Công đồng Vatican II, là phương thức mời gọi chúng ta lắng nghe, phân định và giải thích các dấu chỉ của thời đại, và được soi sáng bởi sự khôn ngoan của Lời Chúa, Giáo hội không ngại tiếp xúc với tri thức nhân loại. Thật vậy, Lời Chúa cung cấp những tiêu chuẩn đáng tin cậy để thiết lập các nẻo đường công lý và mở ra các lộ trình hòa giải và hòa bình giữa các dân tộc. Khi áp dụng những tiêu chuẩn này vào các tình huống phức tạp của thời đại chúng ta, những đóng góp của triết học và của khoa học xã hội và nhân văn là rất cần thiết. Những ngành này giúp chúng ta hiểu và phân tích các động lực văn hóa, kinh tế và chính trị một cách sâu sắc hơn. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng Giáo hội hoan nghênh những đóng góp của khoa học xã hội để “từ đó rút ra những hiểu biết cụ thể giúp Giáo hội thi hành chức năng giáo huấn của mình”. [13] Cuộc đối thoại với những loại tri thức như vậy không làm giảm thiểu sức mạnh của Tin Mừng. Ngược lại, nó giúp nhận diện rõ hơn điều gì thực sự thúc đẩy đời sống của các cá nhân và các cộng đồng. Theo nhãn giới này, Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng khi giải quyết nhiều vấn nạn cụ thể, Giáo hội không tuyên bố đưa ra “một ý kiến dứt khoát”, [14] nhưng công nhận tầm quan trọng của việc lắng nghe sự nghiên cứu khoa học và khuyến khích sự tranh luận nghiêm túc và trung thực giữa các chuyên gia, đồng thời hoan nghênh sự đa dạng của các quan điểm.
24. Được nuôi dưỡng bởi cuộc đối thoại đầy hiệu quả này giữa Tin Mừng và tri thức nhân loại, Giáo hội đã dần phát triển Học thuyết Xã hội của mình, vun đắp trong lịch sử một di sản khôn ngoan được đánh dấu bởi sự nhất quán về nhân học và thần học cắm rễ trong sự hiểu biết của Kitô giáo về con người. Chính vì di sản này xuất phát từ đức tin và từ một tầm nhìn tương ứng về thực tại, nên nó không phải là một tập hợp các giải pháp kỹ thuật hay một mô hình kinh tế hoặc chính trị để đối lập với những mô hình khác. Thay vào đó, nó thuộc về một trật tự khác, [15] trật tự của các nguyên tắc hướng dẫn việc giải thích các biến cố và hỗ trợ một nhận thức theo Tin Mừng về các tiến trình lịch sử và những lựa chọn gắn theo đó. Đây chính là chức năng riêng của Học thuyết Xã hội, không nhằm thay thế các trách nhiệm của chính trị hay các cơ chế, mà góp phần mình như một nền tảng cho sự phân định tập thể, giúp nhận ra và thúc đẩy bất cứ điều gì phục vụ cho phẩm giá của con người, cho sức sống của các cộng đồng và cho thiện ích chung.
Học thuyết Xã hội như một sự phân định chung
25. Việc nhận hiểu rằng sự thật là một món quà để chia sẻ, không phải là một tài sản để độc chiếm, sẽ giải phóng Giáo hội khỏi cám dỗ tìm kiếm các hình thức hiện diện dựa trên quyền lực. Để khám phá lại cách tiếp cận của Phúc Âm về việc rao giảng sự thật một cách nhã nhặn chứ không áp đặt, thánh Gioan Phaolô II đã mời gọi chúng ta xem xét một cách trung thực những trường hợp trong đó đã xảy ra sự nhượng bộ cho “sự bất bao dung và thậm chí đã sử dụng bạo lực để phục vụ sự thật.” [16] Cũng theo tinh thần này, tôi tái khẳng định rằng Giáo hội “không tuyên bố độc quyền về sự thật,” [17] bởi vì sự thật không phải là một lãnh thổ để bảo vệ, mà là một điều tốt đẹp để chia sẻ. Về phần mình, Đức giáo hoàng Phanxicô đã bày tỏ cùng một quan điểm này trong câu nói rất ấn tượng của ngài, “thời gian quan trọng hơn không gian.” [18] Điều quan trọng nhất không phải là chiếm giữ các vị trí quyền lực hay bảo vệ các thành trì văn hóa, mà là khởi xướng các tiến trình tốt đẹp và cho phép chúng chín muồi. Bằng cách này, sự thật của Tin Mừng không bị áp đặt từ trên xuống, mà phát triển theo thời gian bên trong mối đan kết cụ thể của cuộc sống, của các cộng đồng và các nền văn hóa. Đây không phải là một sự thật sợ hãi tính đa dạng, mà ngược lại, chào đón và hướng dẫn nó. Sự thật không loại bỏ các xung đột, mà chuyển hóa chúng, hợp nhất lại những gì lịch sử có xu hướng gây phân tán. Khái niệm này cũng có thể được minh họa bằng hình ảnh của một khối đa diện, [19] trong đó sự thật duy nhất của Tin Mừng được phản chiếu từ nhiều góc khác nhau.
26. Thái độ cởi mở này đối với sự thật, vốn vừa duy nhất vừa đa dạng, thể hiện sâu sắc tính công giáo của Giáo hội, vì Giáo hội bao trùm toàn thể gia đình nhân loại nhưng cũng lặn ngụp trong những hoàn cảnh cụ thể của các dân tộc và các nền văn hóa. Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta rằng nhờ tính công giáo này, “mỗi thành phần đóng góp các ân ban riêng của mình cho các thành phần khác và cho toàn thể Giáo hội.” [20] Theo cách này, Giáo hội phát triển như một toàn thể và như các cộng đồng riêng rẽ nhờ sự trao đổi lẫn nhau và nhờ những nỗ lực chung hướng tới sự hiệp thông ngày càng trọn vẹn hơn. Như vậy, Dân Thiên Chúa không chỉ được quy tụ từ nhiều dân tộc, mà còn được đan kết qua các chức năng, các ơn gọi, các văn hóa và truyền thống khác nhau, mỗi bên được kêu gọi hỗ trợ và làm cho nhau nên phong phú. Từ quan điểm này, thánh Phaolô VI thừa nhận rằng, trong các hoàn cảnh lịch sử rất đa dạng, sẽ là không thực tế khi nghĩ rằng Học thuyết Xã hội của Giáo hội có thể đưa ra một đáp ứng duy nhất mà có hiệu lực trong mọi bối cảnh. [21] Vì lý do này, ngài mời gọi mỗi cộng đồng Kitô giáo diễn giải thực tại ở đất nước mình một cách rõ ràng và có trách nhiệm. Sự căng thẳng đầy triển vọng giữa tính phổ quát của sứ mạng Giáo hội và các gốc rễ địa phương của Giáo hội là một khía cạnh nội tại trong đời sống Giáo hội, bởi vì Giáo hội bao trùm toàn thế giới, đồng thời giải quyết các vấn đề cụ thể của mỗi bối cảnh xét như là khung cảnh thực trong đó Tin Mừng mang lấy dáng dấp.
27. Dựa theo những điều đã nói ở trên, Học thuyết Xã hội của Giáo hội có thể được nhìn nhận một cách chân thực hơn. Nó không phải là một cuốn cẩm nang gồm các nguyên tắc và quy chuẩn cần áp dụng, mà là một tiến trình phân định chung. Nó được sinh ra từ sự gặp gỡ giữa chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng và các vấn đề của lịch sử. Nó cho phép mình bị thách thức bởi các dấu chỉ của thời đại, và được nuôi dưỡng bởi những đóng góp của khoa học, văn hóa và kinh nghiệm nhân sinh. Do đó, khi phẩm giá của anh chị em chúng ta bị xâm phạm, khi chính trị không giải quyết được những bi kịch của nhân loại, khi nền kinh tế chống lại con người hay khi khoa học vượt quá các giới hạn thẩm quyền của mình, [22] Giáo hội - cùng với các hệ phái Kitô giáo khác và các tín đồ của các tôn giáo khác - phải lên tiếng, không nhằm để áp chế, mà để thúc đẩy sự hiệp thông. Hiểu theo cách này, Học thuyết Xã hội trở thành một thần học về sự hiệp thông trong lịch sử, một lịch sử trong đó Ngôi Lời nhập thể tiếp tục hiện diện thông qua đối thoại, ký ức và lời ngôn sứ.
Sự phát triển của Học thuyết Xã hội từ thời Giáo hoàng Lê-ô XIII đến nay
28. Sau khi đã toát lược cách thức Giáo hội hiện diện trong lịch sử và đi vào cuộc đối thoại với thế giới, giờ đây tôi muốn xem xét sự phát triển của Học thuyết Xã hội trong Huấn quyền, vốn đã đáp ứng những biến đổi xã hội lớn từ thế kỷ 19 đến nay. Đương nhiên, tôi không thể lột tả hết được sự phong phú của giáo huấn này, mà các nguyên tắc cơ bản của nó được trình bày trong Bản tóm tắt Học thuyết Xã hội của Giáo hội và đã được các giáo huấn gần đây của Huấn quyền xem xét kỹ lưỡng hơn. Tôi cũng không thể khảo sát một cách có hệ thống mọi thứ đã được phát triển trong các Thông điệp của các vị tiền nhiệm đáng kính quá cố của tôi, đặc biệt là trong Laudato Si’ và Fratelli Tutti. Tuy nhiên, tôi sẽ nhấn mạnh một số điểm thiết yếu để cho thấy bản văn này tiếp nối truyền thống đó như thế nào. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng trong truyền thống này, cốt lõi bất biến của các chân lý mặc khải về nhân vị con người và về xã hội luôn đan kết với khả năng mới mẻ để lắng nghe các tình huống lịch sử và để trả lời cho các vấn đề đương đại. Tôi sẽ nhìn lại một số giai đoạn quan trọng của sự phát triển này, bắt đầu với giai đoạn được mở ra bởi Thông điệp Rerum Novarum.
Những giai đoạn đầu tiên của Học thuyết Xã hội của Giáo hội
29. Điều mà chúng ta hiện nay gọi là “Học thuyết Xã hội của Giáo hội” không phải là một sản phẩm tự phát của thời hiện đại. Đúng hơn, nó là kết quả của việc tiếp nhận và cấu trúc một truyền thống lâu dài của suy tư Giáo hội về đời sống trong xã hội, cắm rễ trong Kinh Thánh, các Giáo phụ và những phát triển về thần học và pháp luật của thời Trung cổ và thời hiện đại. Mặc dù thuật ngữ “Học thuyết Xã hội của Giáo hội” được Đức Giáo hoàng Piô XII đặt ra vào năm 1950, [23] nội dung của nó đã bắt đầu hình thành như một tập hợp hữu cơ của giáo huấn xã hội với Thông điệp Rerum Novarum của Đức giáo hoàng Lê-ô XIII. Đối mặt với “những điều mới mẻ” của thời đại mình – sự xung đột giữa tư bản và lao động, vấn đề lực lượng lao động, và những chuyển biến kinh tế và xã hội – Đức Lê-ô XIII không giới hạn mình chỉ ở việc thừa nhận sự bất ổn, mà còn coi những hoàn cảnh này là một lĩnh vực cho sứ mạng mục vụ của Giáo hội. Ngài đã xem xét chúng một cách kỹ lưỡng, soi chiếu các nguyên nhân và các giải pháp khả dĩ dưới ánh sáng của Tin Mừng và một tầm nhìn toàn diện về nhân vị con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II coi cách tiếp cận này là một “kiểu thức lâu dài” [24] của Học thuyết Xã hội: một cách làm mẫu mực mà qua đó Giáo hội, khi đối mặt với những thay đổi lịch sử, sẽ thực thi quyền và nghĩa vụ của mình để xem xét các thực tế xã hội, đưa ra các tuyên bố về chúng, và chỉ ra những nẻo đường tìm kiếm các giải pháp đúng đắn. Bằng cách này, các nội dung thường hằng của đức tin và sự khôn ngoan lâu đời của Giáo hội được thể hiện trong một học thuyết sống động, trung thành với Tin Mừng trong khi phát triển để đáp ứng “những điều mới mẻ” của mỗi thời đại.
30. Thông điệp Rerum Novarum của Giáo hoàng Leo XIII là một cột mốc trong sự phát triển giáo huấn xã hội của Giáo hội. Văn kiện này đặt phẩm giá của lao động và người lao động lên hàng đầu trong suy tư của mình; khẳng định quyền được trả lương công bằng cho bản thân và gia đình; thừa nhận rằng con người có một giá trị nền tảng vượt trên tư bản và lợi nhuận; bảo vệ quyền tư hữu cùng với vai trò xã hội không thể thiếu của nó; coi trọng các tổ chức hiệp hội công nhân; và đề xuất các hình thức hợp tác giữa các thành phần khác nhau của xã hội như một giải pháp thay thế cho tư duy đấu tranh giai cấp. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Giáo hoàng Piô XI định nghĩa nó là “Magna Carta” [25] của hành động xã hội Kitô giáo. Trong Rerum Novarum, sự khôn ngoan cổ xưa của Giáo hội về nhân vị con người và về đời sống xã hội đã mang một hình thức mới có khả năng đáp ứng thời đại công nghiệp và cung cấp khung hệ thống quan trọng đầu tiên cho Học thuyết Xã hội sẽ được phát triển hơn nữa trong những thập niên tiếp theo. Mặc dù nhiều điều kiện lịch sử được Đức Lê-ô XIII mô tả đã thay đổi, nhưng ít nhất hai nhận thức vẫn còn rất phù hợp hôm nay: tầm quan trọng hàng đầu của lao động con người so với bất kỳ não trạng nào chỉ tập trung vào tài chính hoặc năng suất - với sự quan tâm đến những người và những gia đình dễ bị bóc lột nhất; và mối nối kết không thể tách rời giữa việc rao giảng Tin Mừng và việc theo đuổi một trật tự xã hội công bằng hơn. Do đó, Rerum Novarum tiếp tục nhắc nhở chúng ta rằng không có sự loan báo Tin Mừng đích thực nào mà không tác động đến các cấu trúc của xã hội con người.
31. Thông điệp Quadragesima Anno của Đức giáo hoàng Piô XI được ban hành năm 1931 nhân kỷ niệm 40 năm Rerum Novarum, tại đỉnh điểm của một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lớn, đánh dấu một bước tiến nữa trong giáo huấn xã hội của Giáo hội. Thay vì chỉ giới hạn ở việc giải quyết “vấn đề lực lượng lao động”, thông điệp đã mở rộng tiêu điểm để bao gồm toàn bộ cấu trúc của trật tự kinh tế và chính trị. Thông điệp lên án sự tập trung quyền lực kinh tế vào tay một số ít người; phê phán cả sự cạnh tranh không giới hạn lẫn các dự án tập thể làm suy yếu tự do và trách nhiệm của cá nhân; khẳng định mạnh mẽ quyền lập hội của người lao động; và nhắc lại yêu cầu rằng tiền lương phải tương xứng không chỉ với hiệu suất làm việc mà còn với nhu cầu của người lao động và gia đình họ. Trong khuôn khổ này, Đức Piô XI đã định thức nguyên tắc bổ trợ một cách hệ thống, nguyên tắc này sẽ trở thành một trong những cột trụ của Học thuyết Xã hội. Theo nguyên tắc này, bất cứ điều gì có thể được thực hiện bởi các cá nhân, gia đình, các tổ chức trung gian và các cộng đồng địa phương thì không nên được thực hiện bởi các quyền bính cấp cao hơn. Cùng với những đóng góp này, trong nhiều diễn từ giáo huấn của ngài - từ các Thông điệp Non Abbiamo Bisogno và Mit Brennender Sorge đến Divini Redemptoris - Đức giáo hoàng Piô XI đã nhắc lại rõ ràng về vai trò xã hội của quyền tư hữu và lên án các hình thức của chủ nghĩa toàn trị làm suy giảm phẩm giá con người, bóp nghẹt đời sống xã hội, đề cao Nhà nước hơn giá trị thực của nó, và phân biệt chủng tộc. Ít nhất ba nhận thức sâu sắc trong giáo huấn xã hội của ngài vẫn đặc biệt phù hợp đối với ngày nay: nhận thức rằng sự bất công không chỉ liên quan đến hành vi cá nhân mà còn cả các cấu trúc kinh tế và thể chế; tầm quan trọng của nguyên tắc bổ trợ, điều này kêu gọi việc củng cố cấu trúc của các hiệp hội và các cộng đồng, đồng thời tránh tập trung quyền lực thêm nữa; và mối nối kết giữa phẩm giá của lao động, tiền lương công bằng và khả năng thực sự để các gia đình có một cuộc sống xứng phẩm giá.
32. Trong bối cảnh bi tráng của Chiến tranh Thế giới Thứ hai, và những năm tái thiết sau đó, giáo huấn của Đức giáo hoàng Piô XII đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Học thuyết Xã hội. Điều này đặc biệt đúng với các sứ điệp truyền thanh Giáng Sinh của ngài, trong đó ngài đã sơ phác chiếc khung của một trật tự quốc tế dựa trên công lý, hòa bình và sự nhìn nhận phẩm giá con người. Trong những sứ điệp này, vị giáo hoàng đã đề xuất một cuộc đối thoại với xã hội dựa trên sự cổ võ luật tự nhiên được hiểu là một tập hợp các nguyên tắc khách quan đi trước lợi ích của các cá nhân và các Nhà nước, và phải điều chỉnh cả đời sống nội bộ của các quốc gia lẫn các mối quan hệ đối với nhau. Đức Piô XII cũng gán cho các hiệp hội nghề nghiệp, các công đoàn và các tổ chức trung gian khác nhau một vai trò quyết định trong trật tự kinh tế và xã hội. Ngài công nhận những hình thức tổ chức xã hội này là một sự bảo vệ thiết yếu cho sự cân bằng dân sự và để bảo vệ công ích. Ngài khẳng định sự cần thiết của một nền pháp trị vững mạnh để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực, và ngài công nhận dân chủ là phương tiện để bảo đảm việc thực thi quyền bính đúng đắn. Đồng thời, ngài cảnh báo chống lại bất kỳ cố gắng nào nhằm xây dựng luật pháp dựa trên lợi ích hay vũ lực, nhắc lại rằng một trật tự quốc tế được sắp xếp theo lợi thế của kẻ mạnh sẽ đặt các dân tộc yếu hơn vào thế bị áp bức và sẽ làm suy yếu nghiêm trọng sự tin tưởng giữa các quốc gia. Cuối cùng, Đức Piô XII nhận diện sự mất cân bằng kinh tế sâu xa giữa các quốc gia là một trong những yếu tố đẩy mạnh các xung đột. [26] Ba nguyên tắc vẫn còn đặc biệt quan trọng đối với thời đại của chúng ta, hiện đang được in dấu các hình thức mới của quyền lực toàn cầu cũng như sự bất bình đẳng đang ngày càng gia tăng: nhu cầu luật pháp phải được ưu tiên hơn lợi ích; sự ý thức rằng các chênh lệch kinh tế là mảnh đất sản sinh căng thẳng và bạo lực; và sự cần thiết của một mạng lưới các hiệp hội có khả năng làm trung gian giữa cá nhân và Nhà nước. Những nguyên tắc này tiếp tục cung cấp các tiêu chí quan trọng cho phép Học thuyết Xã hội giải thích động lực của toàn cầu hóa và thúc đẩy một trật tự quốc tế công bằng và hòa bình hơn.
Những năm của Công đồng Vatican II
33. Một giai đoạn mới trong giáo huấn xã hội của Giáo hội bắt đầu với thánh Gioan XXIII, người đã nhấn mạnh hơn vào chiều kích toàn cầu của các vấn đề xã hội và sự đề cập về các quyền. Trong Mater et Magistra, ngài đã trình bày đức tin Kitô giáo như một ánh sáng có khả năng kết hợp trời và đất. Ngài nhắc lại rằng trong khi sứ mạng chính yếu của Giáo hội là thánh hóa và rao giảng những điều tốt lành vĩnh cửu, thì Giáo hội vẫn không phớt lờ những nhu cầu cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của con người, và quan tâm đến mọi điều thiện hảo đích thực của con người. [27] Dựa trên tầm nhìn thống nhất này về con người, Đức Gioan XXIII nhấn mạnh rằng đời sống xã hội đòi hỏi sự cân bằng giữa một bên là sáng kiến của các công dân và các nhóm – là những người được kêu gọi tự tổ chức và làm việc cùng nhau - và bên kia là hành động của Nhà nước, có bổn phận điều phối và hỗ trợ mà không bóp nghẹt tự do và trách nhiệm của các cá nhân. Do đó, ngài đã lưu ý về việc trả lương công bằng cho lao động, về sự tham gia của người lao động, và về những sự chênh lệch ngày càng tăng giữa các quốc gia. Vài năm sau, trong Pacem in Terris, Đức Gioan XXIII lần đầu tiên không chỉ hướng đến các tín hữu mà còn đến tất cả những người thiện chí, liên kết một cách hữu cơ phẩm giá của con người với sự nhìn nhận các quyền và các nghĩa vụ cơ bản, và đề xuất một hướng đi cho xã hội - cả ở bình diện quốc tế nữa - dựa trên sự thật, công lý, tình yêu và tự do. [28] Trong thời hiện nay, được đánh dấu bởi sự xung đột lan rộng và các hình thức mới của sự phụ thuộc lẫn nhau trên toàn cầu, những khía cạnh sau đây trong tư tưởng của ngài vẫn có ý nghĩa đặc biệt: nhãn giới phổ quát trong lời kêu gọi của ngài; việc ngài qui chiếu đến nhân quyền như một khuôn khổ chung; và niềm xác tín của ngài rằng nền hòa bình trường cửu đòi hỏi phải có các thể chế và các mối quan hệ giữa các dân tộc, được thôi thúc bởi phẩm giá của mọi con người.
34. Công đồng Vatican II đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức của Giáo hội về chính mình trong thế giới ngày nay. Trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, Công đồng đã trình bày hình ảnh một Giáo hội gần gũi với con người, gắn bó với thế giới và quan tâm suy ngẫm về thực tế cụ thể của các hoàn cảnh lịch sử, hơn là các khái niệm trừu tượng. Bản văn đề cập các vấn đề lớn như về hôn nhân và gia đình, đời sống kinh tế và xã hội, cộng đồng chính trị, chiến tranh và hòa bình. Văn kiện này khẳng định rằng các cấu trúc kinh tế và thể chế chỉ đúng đắn trong mức độ chúng phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của mọi người. [29] Tầm quan trọng của văn kiện công đồng này đối với Học thuyết Xã hội của Giáo hội không chỉ nằm ở việc mở ra những chân trời cho sự suy tư các chủ đề, mà còn ở phương pháp phân định của nó mời gọi chúng ta giải thích những thay đổi lịch sử được hướng dẫn bởi Tin Mừng và bởi chuyên môn của con người. Cách tiếp cận này cho thấy rằng đối thoại với thế giới không phải là một lựa chọn chiến thuật của Giáo hội, mà là một diễn tả cụ thể của sứ mạng Giáo hội, bởi vì Tin Mừng - giống như men - có khả năng biến đổi các cấu trúc xã hội từ bên trong và kiến tạo những nẻo đường nhắm tới một nhân tính cao cả hơn. Tuyên ngôn Dignitatis Humanae có thể được bao gồm trong cùng bối cảnh. Ở đây, Công đồng nhìn nhận rằng tự do tôn giáo là một quyền cơ bản xuất phát từ phẩm giá con người, điều phải được pháp luật bảo đảm để đề phòng việc người ta bị buộc phải hành động trái với lương tâm của họ hoặc bị cản trở trong việc tìm kiếm và tuyên xưng sự thật cả trong riêng tư lẫn công khai. [30] Nguyên tắc này rất phù hợp ngày nay và tiếp tục cung cấp cho Học thuyết Xã hội những tiêu chí quyết định để bảo vệ các cá nhân và xây dựng các xã hội đa nguyên và hòa bình.
35. Trong triều đại giáo hoàng của thánh Phaolô VI, nổi lên một nhận thức về hòa bình, theo đó hòa bình không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của chiến tranh, mà còn thể hiện trong tầm mức phát triển toàn diện của con người. Trong Populorum Progressio, ngài mô tả sự phát triển như một quá trình chuyển đổi từ điều kiện sống kém nhân văn sang điều kiện sống nhân văn hơn. Ngài còn hiểu nó như một tiến trình quan tâm đến “mỗi người và toàn thể con người”, [31] tức là mọi chiều kích của con người và tất cả mọi người không trừ ai. Vì lý do này, Đức Phaolô VI có thể khẳng định rằng sự phát triển được hiểu theo cách này thực sự là “tên gọi mới của hòa bình”, [32] bởi vì nó nhắm xóa bỏ tận gốc rễ bất công và xung đột, và tạo ra các cơ hội cho một cuộc sống xứng phẩm giá hơn cho mọi người. Việc thiết lập Ủy ban Giáo hoàng Iustitia et Pax (Công lý và Hòa bình) cũng nên được nhìn trong ánh sáng này như một nỗ lực định thức hóa cách nhận hiểu nói trên ở các bình diện giáo hội và quốc tế, trong khi lưu ý đến khoảng cách ngày càng tăng giữa các nước giàu và các nước nghèo, và nhu cầu cần có các chính sách thực sự thúc đẩy điều kiện sống nhân văn hơn cho tất cả mọi người.
36. Trong Octogesima Adveniens, được viết nhân dịp kỷ niệm 80 năm Rerum Novarum, Đức Phaolô VI đã áp dụng quan điểm này vào xã hội hậu công nghiệp, được đánh dấu bởi quá trình đô thị hóa, bởi các hình thức nghèo đói mới và những thay đổi văn hóa nhanh chóng làm bật ra câu hỏi về tương lai của các cá nhân và các cộng đồng. Đức Phaolô VI tin rằng mặc dù Tin Mừng được rao giảng, được viết ra và được sống trong một bối cảnh lịch sử và văn hóa rất khác với bối cảnh của chúng ta, nhưng sứ điệp của Tin Mừng không “lỗi thời”. [33] Thay vào đó, nó trao một tầm nhìn về nhân vị con người, về các mối tương quan, về quyền bính và về công ích vẫn có khả năng hướng dẫn các lựa chọn kinh tế, chính trị và văn hóa ngày nay. Nói cách khác, Tin Mừng vẫn phù hợp vì nó cung cấp các tiêu chí để nhận ra điều gì nhân văn hay điều gì phi nhân, điều gì giải phóng hay điều gì áp bức trong các hoàn cảnh không ngừng thay đổi. Đối với Học thuyết Xã hội của Giáo hội, di sản đòi hỏi khắt khe nhất của Đức Phaolô VI chính là điều này: chừng nào trên thế giới còn có những người bị loại trừ khỏi sự phát triển phù hợp với phẩm giá con người, thì cộng đồng Kitô giáo không thể bằng lòng với một lời rao giảng hòa bình thuần lý thuyết. Thay vào đó, khởi đi từ chính nơi mà người ta bị gạt ra ngoài lề, ta phải cho phép Phúc Âm đưa ra phán quyết về những cơ cấu kinh tế và chính trị mà có thể trở thành những “cơ cấu tội lỗi” thực sự - như Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II sau này nhắc nhở chúng ta. [34] Do đó, không một ai hay một dân tộc nào sẽ bị coi là có thể bị loại bỏ trong các tiến trình phát triển.
Huấn quyền gần đây
37. Giáo huấn xã hội phong phú của thánh Gioan Phaolô II nằm ở giao lộ cuộc khủng hoảng của các hệ thống ý thức hệ lớn của thế kỷ 20 và sự khởi đầu của toàn cầu hóa kinh tế. Thông điệp Laborem Exercens của ngài, được viết 90 năm sau khi Rerum Novarum được ban hành, đã mở ra một con đường mới để suy ngẫm về lao động. Nó nêu việc trả lương công bằng như phương tiện cụ thể để xác thực tính chính đáng của toàn bộ hệ thống kinh tế xã hội, bởi vì điều này cho thấy liệu người lao động có được đối xử như một con người hay chỉ đơn thuần là một chi phí sản xuất. [35] Lao động không được coi chỉ như một vấn đề cần giải quyết hay một phương tiện tạo ra thu nhập, mà là một điều tốt cơ bản cho con người, một nguyên tắc của hoạt động kinh tế và là chìa khóa cho toàn bộ vấn đề xã hội. Thông qua lao động, con người phát huy sự tự do, sáng tạo và khả năng hợp tác của mình, góp phần nâng cao văn hóa và đạo đức của xã hội. [36] Trong cái nhìn này, các tình trạng bất ổn về việc làm, các con đường sự nghiệp phân mảnh và sự tự động hóa không được đánh giá chỉ dựa trên hiệu năng, mà còn liên quan đến phẩm giá của người lao động, quyền được trả lương đầy đủ, và khả năng thực sự tham gia vào xã hội.
38. Với Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis của ngài, đánh dấu kỷ niệm 20 năm Populorum Progressio, Đức Gioan Phaolô II đã khảo sát lại tai họa của sự kém phát triển. Ngài thừa nhận sự thất bại của nhiều nỗ lực nhằm đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của các dân tộc nghèo và hỗ trợ họ trong tiến trình công nghiệp hóa, lưu ý khoảng cách dai dẳng và thực sự ngày càng giãn rộng giữa Bắc và Nam bán cầu. [37] Ngài cũng lên án các cơ chế kinh tế, tài chính và thương mại do các nền kinh tế mạnh nhất quản lý, được cấu trúc để ưu tiên lợi ích riêng của họ, trong khi bóp nghẹt các nền kinh tế yếu hơn, và ngài yêu cầu các cơ chế ấy phải được thẩm tra nghiêm túc về mặt đạo đức, chứ không chỉ về mặt kỹ thuật. [38] Trong bối cảnh này, sự liên đới được hiểu là một trách nhiệm cụ thể cùng được chia sẻ giữa các cá nhân, các dân tộc và quốc gia - một hình thức tình thân hữu xã hội hay bác ái chính trị hướng tới “nền văn minh tình thương” mà Đức Phaolô VI đề xuất. [39]
39. Nhân kỷ niệm 100 năm Rerum Novarum, Thông điệp Centesimus Annus đã đưa ra một suy tư về sự sụp đổ của hệ thống Xô Viết và sự trỗi dậy của nền dân chủ và nền kinh tế thị trường. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại sứ điệp của Đức Piô XII rằng Giáo hội coi trọng nền dân chủ trong mức độ mà nó bảo đảm sự tham gia đầy hiệu quả của công dân, cho phép họ bầu cử và thay đổi các nhà lãnh đạo của họ một cách hòa bình, và ngăn chặn quyền lực bị độc chiếm bởi các nhóm ưu tú nhỏ được thúc đẩy bởi các lợi ích riêng hoặc có tính ý thức hệ. [40] Tương tự, Giáo hội chỉ công nhận tiềm năng tích cực của thị trường và sáng kiến tư nhân nếu chúng vẫn tuân theo luật luân lý và được hướng dẫn bởi nguyên tắc liên đới, mà không hy sinh những người dễ bị tổn thương nhất cho lý lẽ duy lợi nhuận. [41] Điều này bổ sung một di sản đặc biệt phù hợp với Học thuyết Xã hội của Giáo hội. Việc khẳng định mối nối kết giữa phẩm giá của lao động, sự liên đới giữa các dân tộc, sự đánh giá có phê bình về nền dân chủ và nền kinh tế thị trường tiếp tục cung cấp các tiêu chí để đánh giá các hình thức mới của bóc lột, loại trừ và khủng hoảng trong môi trường chính trị.
40. Trong Thông điệp xã hội Caritas in Veritate, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã tìm cách đánh giá lại và mở rộng khái niệm phát triển được trình bày trong Populorum Progressio, diễn giải nó dưới ánh sáng của toàn cầu hóa. Ngài lưu ý rằng sự phát triển phải có nghĩa là “tăng trưởng thực sự, ích lợi cho mọi người và thực sự bền vững”. [42] Nghĩa là, tiến bộ kinh tế phải thực sự bao hàm hết mọi người và phải tôn trọng các giới hạn của việc sáng tạo. Tuy nhiên, ngài tái khẳng định rằng ở các nước giàu có, đang nổi lên những dạng nghèo mới cũng như các hình thức loại trừ chưa từng có, trong khi ở các khu vực nghèo hơn, các nhóm thiểu số nhỏ sống trong sự tiêu thụ thừa mứa bên cạnh những hoàn cảnh nghèo đói đến mất tính người. [43] Ngoài ra, ngài ghi nhận rằng hệ thống kinh tế và tài chính toàn cầu mới, được đánh dấu bằng sự di chuyển rộng lớn của vốn và phương tiện sản xuất, đã làm suy giảm quyền lực chính trị của các nhà nước, và suy giảm khả năng ảnh hưởng của họ đến các quá trình kinh tế. [44] Vì lý do này, Đức Bênêđictô XVI nhắc lại rằng hoạt động kinh tế không có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội duy chỉ thông qua việc mở rộng tư duy thương mại, mà phải được định hướng nhắm tới công ích, điều mà cộng đồng chính trị phải gánh vác trách nhiệm không thể thay thế của mình. [45]
41. Đức Bênêđictô XVI đặt bác ái vào trung tâm phân tích của ngài, tuyên bố rằng nó “là cốt lõi của Học thuyết Xã hội của Giáo hội,” [46] với điều kiện là nó luôn được kết hợp với sự thật. Ngài cũng ghi nhận với mối lo ngại rằng có một xu hướng bác bỏ sự liên quan về mặt đạo đức trong chính các lĩnh vực xã hội, pháp luật, chính trị và kinh tế. Tính độc đáo trong đóng góp của ngài nằm ở chỗ chỉ ra rằng sự phát triển, công lý, các thể chế và thị trường không phải là những thực tại trung lập, mà là những không gian nơi mà bác-ái-trong-sự-thật phải tìm thấy sự thể hiện trong lịch sử. Giáo huấn này đặc biệt phù hợp ngày nay trong bối cảnh những bất bình đẳng đang gia tăng, những áp lực trong thị trường tài chính, sự khủng hoảng môi trường, và tình trạng thiếu niềm tin vào chính trị. Nó là lời mời gọi đánh giá mọi mô hình phát triển theo khả năng bao gồm và bền vững của nó, xây dựng lại mối tương quan giữa kinh tế và chính trị dựa trên công ích, và thừa nhận vai trò quan trọng và tạo sinh của bác ái trong đời sống công cộng.
42. Giáo huấn xã hội của Đức giáo hoàng Phanxicô phát triển theo hướng của Gaudium et Spes, mời gọi chúng ta nhìn lịch sử qua lăng kính của những niềm hy vọng và những sự mong manh của con người, và đưa chúng vào đối thoại với Tin Mừng. Cách tiếp cận này xuất hiện rõ ràng nhất trong Evangelii Gaudium, nơi ngài tuyên bố rằng lời rao giảng của Kitô giáo có một chiều kích xã hội nội tại, và kêu gọi một Giáo hội có khả năng lắng nghe tiếng kêu than của người nghèo, người di cư và nạn nhân của các hình thức nô lệ mới. Cũng phù hợp rất khớp với quan điểm này, đó là sự nhấn mạnh của Đức Phanxicô về một Giáo hội hiệp hành, một Giáo hội “cùng nhau bước đi”, tìm cách đọc các dấu chỉ của thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng và cho phép mình được Phúc Âm hóa bởi người nghèo, là những người mà Giáo hội cùng chia sẻ lịch sử với họ. [47]
43. Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đã cung ứng sự xử lý quan trọng và có tính hệ thống đầu tiên trong một Thông điệp xã hội đối với cuộc khủng hoảng môi trường, cho thấy rằng đó không phải là một vấn đề riêng lẻ, mà là khía cạnh sinh thái của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội hiện nay. Đề xuất của ngài về một hệ sinh thái toàn diện đã kết hợp việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta với sự ưu tiên lựa chọn người nghèo, và khẳng định mạnh mẽ rằng “tiếng kêu than của trái đất và tiếng kêu than của người nghèo” [48] không thể tách rời. Trong cách nhìn này, mục đích phổ quát của của cải được đưa lên hàng đầu, cùng với sự phê phán kiểu thức kỹ trị vốn tìm cách giảm trừ mọi thứ thành một đối tượng để thống trị; sự bảo vệ lao động của con người đang bị đe dọa bởi tâm thức vứt bỏ; và nhu cầu về công lý giữa các thế hệ. Cuối cùng, ngài ủng hộ cuộc đối thoại chân thành giữa những người làm việc trong các lĩnh vực chính trị và tài chính, để không bên nào trở thành tự quy chiếu.
44. Đối mặt với sự đổ vỡ của cấu trúc xã hội, một “cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra từng phần”, sự toàn cầu hóa cá nhân chủ nghĩa, và tác động của đại dịch đối với các mối gắn kết cộng đồng, Đức Phanxicô, trong Fratelli Tutti, đã tìm cách khôi phục giấc mơ về một nhân loại lựa chọn tình thân hữu xã hội và tình huynh đệ phổ quát. Ngài đề xuất một nền văn hóa gặp gỡ, một “nền chính trị tốt hơn” với khả năng tìm kiếm công ích, những nẻo đường hòa giải, và một thế giới bảo đảm “đất đai, nhà ở và việc làm cho tất cả mọi người”. [49] Cuối cùng, trong Dilexit Nos, ngài đã chỉ ra rằng những công cuộc xã hội quan trọng này không thể tách rời khỏi mối tương quan cá vị với Chúa Kitô. Hướng về lời Chúa, ngài nhắc chúng ta rằng sự đáp trả chân thật nhất đối với tình yêu của Trái tim của Chúa Giêsu là tình yêu thương cụ thể dành cho anh chị em của chúng ta, và ngài khẳng định rằng “chúng ta phải đáp lại tình yêu bằng tình yêu, không có cách nào tốt hơn.” [50]
Giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin
45. Khi xem xét tổng quan lịch sử này, ta thấy rõ ràng Học thuyết Xã hội của Giáo hội không phải là kết quả của một dự án được lập ra trên bàn giấy, mà đó là sản phẩm của một quá trình kiên nhẫn, trong đó mỗi vị giáo hoàng - cùng với Công đồng Vatican II - đã có một sự đóng góp độc đáo dưới ánh sáng của “những điều mới mẻ” của mỗi thời đại cụ thể. Đáp lại những thách đố của thời đại mình, mỗi vị đã giải thích những thay đổi lịch sử theo Phúc Âm, làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau của một di sản duy nhất: phẩm giá con người, giá trị của lao động, mục đích phổ quát của của cải, sự liên đới và nguyên tắc bổ trợ, sự chăm sóc công trình tạo dựng, và tầm quan trọng cốt lõi của hòa bình và tình huynh đệ. Kết quả là một sự phát triển hài hòa, dù không phải lúc nào cũng theo con đường thẳng, được đánh dấu bằng những điểm nhấn khác nhau, những nhận thức tiếp tục tiến bộ, và đôi khi là những thay đổi trong quan điểm nhưng không đoạn tuyệt với những gì đến trước đó, mà cho phép những hàm ý của nó được chín muồi. Nếu ngày nay chúng ta có thể nói về một tập hợp các nguyên tắc và các tiêu chí chung, đó là bởi vì cách giải thích lịch sử dựa trên đức tin này chưa bao giờ bị gián đoạn, luôn luôn mở ra với những thách đố do mỗi thế hệ đặt ra. Giờ đây tôi muốn hướng sự chú ý của chúng ta đến những nguyên tắc lớn của Giáo huấn Xã hội, là điều hướng dẫn sự phân định của các tín hữu trong đời sống cá nhân và cộng đồng, để nắm hiểu một cách hiệu quả hơn sự nhất quán và khả năng của các nguyên tắc ấy trong việc hướng dẫn thời đại chúng ta.

CHƯƠNG HAI
CÁC NỀN TẢNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI
46. Giáo huấn Xã hội của Giáo hội là một thực tại sống động, trong đối thoại với lịch sử, với các nền văn hóa và các khoa học. Đồng thời, nó chứa đựng một tập hợp các chân lý bất biến. Vì lý do này, nó có thể được coi là một dạng thức khôn ngoan có khả năng hướng dẫn đời sống cá nhân và xã hội của các tín hữu ngay cả hôm nay. Trong chương thứ hai này, tôi muốn tập trung vào một số nền tảng và nguyên tắc của Giáo huấn Xã hội của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiểu được “những điều mới mẻ” của thời đại mình, đặc biệt là xét đến phẩm giá cố hữu của con người. Để bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi tin rằng ngày nay chúng ta cần phải suy ngẫm lại về công ích, về mục đích phổ quát của của cải, về nguyên tắc bổ trợ, về sự liên đới và công bằng xã hội. Tôi tin chắc rằng mối tương quan hài hòa giữa các nguyên tắc này đòi hỏi chúng phải được xem xét một cách tổng thể, để làm rõ cách mà chúng liên hệ với nhau và bổ sung cho nhau.
47. Khi đưa ra những suy tư này, trước hết và trên hết, tôi hy vọng sẽ giúp các tín hữu giáo dân và những người thiện chí khám phá lại bổn phận của mình trong việc thực hiện các nguyên tắc nêu trên trong cuộc sống hàng ngày, trong các mối tương quan gia đình, trong công việc và trong sự dấn thân xã hội. Như vậy, họ sẽ cho phép mình được thôi thúc bởi mục đích thể hiện tình yêu của Thiên Chúa trong những sự kiện cụ thể của cuộc sống. Đồng thời, tôi muốn khuyến khích các cơ sở giáo dục và các trường đại học đem lại động lực mới cho các nguyên tắc này, và áp dụng chúng một cách phù hợp và hiệu quả trong việc giải quyết cuộc cách mạng kỹ thuật số. Bằng cách này, việc nghiên cứu thần học và triết học sẽ có thể tiếp tục khám phá và hỗ trợ cho hành trình mục vụ của Giáo hội, và góp phần vào nhiệm vụ của Huấn quyền trong việc soi sáng lương tâm của các tín hữu và hướng dẫn các nỗ lực của họ để làm cho đời sống xã hội chúng ta trở nên công bằng và huynh đệ hơn.
Các nền tảng của Học thuyết Xã hội
Con người: hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi
48. Học thuyết Xã hội của Giáo hội đưa chúng ta đến tận cốt lõi của đức tin: mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống như được mặc khải trong Chúa Giêsu Kitô, là sự hiệp thông của các Ngôi vị - Cha, Con và Thánh Thần - là chính tình yêu trong tương quan, được diễn tả trong sự trao hiến chính mình cho nhau và trong chia sẻ với thế giới. [51] Như Công đồng đã nhắc lại, con người được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa và “chỉ có thể khám phá trọn vẹn chính mình cách đích thực trong sự chân thành tự hiến”. [52] Thật vậy, ơn gọi sâu xa nhất của con người là đi vào năng động tình yêu Ba Ngôi được đón nhận và chia sẻ.
49. Nếu mầu nhiệm Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu là nguồn mạch của Học thuyết Xã hội, thì chúng ta thấy biểu hiện cụ thể nhất của nó nơi khuôn mặt của Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Qua việc trở thành con người, Con Thiên Chúa bước vào lịch sử của chúng ta và mang lấy xác thịt con người, mang theo tình yêu kết hợp Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Trong Người, “mầu nhiệm nhân tính trở nên thực sự sáng tỏ” [53] bởi vì nhân tính của Người hoàn toàn tự do, mở ra với tha nhân, có khả năng xây dựng những mối tương quan lành mạnh tốt đẹp, và hết lòng hiến mình cách trọn vẹn. Những ai tin vào Người sẽ dấn thân vào công cuộc đổi mới vĩ đại bắt đầu với mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người, và họ cộng tác trong việc xây dựng Nước Thiên Chúa, học cách đón nhận mọi con người nam nữ như anh chị em, là con cái của một Cha. Bằng cách này, cả việc rao giảng Tin Mừng lẫn đời sống Kitô giáo, được hướng dẫn bởi hành động của Chúa Thánh Thần, đều nhằm mang lại những hệ quả xã hội trên thế giới. [54]
50. Ở cốt lõi của nhận thức Kitô giáo về con người là sự khẳng định nổi tiếng của Kinh Thánh rằng con người nam và nữ được tạo dựng theo hình ảnh và giống như (x. St 1,26-27) Thiên Chúa Ba Ngôi. Được tạo dựng để tương quan, mỗi con người đều được Thiên Chúa hoạch định và muốn đưa vào mối hiệp thông với Ngài, với người khác và với tạo vật. Phẩm giá con người không phụ thuộc vào khả năng, của cải hay địa vị trong cuộc sống của họ, cũng không phụ thuộc vào những lựa chọn đúng hay sai; thay vào đó, nó là một quà tặng có trước và siêu vượt trên mỗi người, được Thiên Chúa ban cho như biểu hiện của tình yêu bất tuyệt của Ngài. Vì lý do này, con người luôn luôn là “con đường cho Giáo hội” [55] và là trái tim của mọi nẻo đường phát triển nhân bản toàn diện đích thực. [56]
Phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người
51. Thánh Gioan Phaolô II tuyên bố rằng “cảm thức được nâng cao này về nhân phẩm và về tính độc đáo của nhân vị, cũng như về sự tôn trọng dành cho hành trình lương tâm, chắc chắn tiêu biểu cho một trong những thành tựu tích cực của nền văn hóa hiện đại.” [57] Tuyên bố này tiếp nối đường lối đã được Công đồng Vatican II nêu ra khi ghi nhận sự nhìn nhận ngày càng tăng đối với phẩm giá cao cả của mọi con người, tính ưu việt của họ so với vật chất, cũng như các quyền và nghĩa vụ phổ quát và bất khả xâm phạm của họ. [58] Thật quan trọng phải bảo đảm rằng sự tiến triển này trong niềm trân trọng phẩm giá con người không bị làm lu mờ bởi áp lực của các ý thức hệ mới hay các lợi ích rất quyền lực trong thế giới hôm nay. Trong số những ý thức hệ này, tôi cho rằng đặc biệt nguy hiểm là ý thức hệ cho rằng mỗi người phải kiếm được hoặc chứng minh danh giá của bản thân, đến mức gán giá trị lớn hơn cho những người có hiệu năng và hiệu quả nhiều hơn. Từ quan điểm này, con người cuối cùng bị giảm trừ chỉ còn là một phương tiện để đạt được các kết quả, một nguồn lực để sử dụng và bóc lột, và không còn được nhìn nhận là một cứu cánh tự thân đúng đắn, không bao giờ cho phép ai lợi dụng. Tuy nhiên, giá trị của con người không phụ thuộc vào những gì họ đạt được hoặc sản xuất. Có những quyền áp dụng cho mọi người chỉ đơn giản bởi vì họ là con người, và không một quyền lực nào của con người có thể hợp pháp phủ nhận chúng hay tùy tiện hạn chế chúng. [59]
52. Khi chúng ta nói về phẩm giá, không phải lúc nào chúng ta cũng dùng từ này theo cùng một cách. Đôi khi chúng ta đề cập đến phẩm giá đạo đức, cụ thể là cách một người định hướng các lựa chọn và hành động của mình. Lúc khác, chúng ta nghĩ đến phẩm giá xã hội, đề cập đến điều kiện sống của một người và sự tôn trọng cụ thể mà xã hội dành cho người đó. Trong những trường hợp khác, chúng ta đề cập đến phẩm giá hiện sinh, nghĩa là cách một người nhận thức về giá trị của bản thân và giá trị của cuộc sống. Những khía cạnh này của phẩm giá có thể được bồi đắp hoặc bị suy giảm. Ngoài những khái niệm này, còn có một cấp độ quan trọng và thâm sâu hơn, đó là phẩm giá theo hữu thể. Đây là phẩm giá thuộc về mỗi con người chỉ đơn giản do sự tồn tại, do được Thiên Chúa muốn, tạo nên và yêu thương. [60] Không tội lỗi, thất bại, sự sỉ nhục hay loại trừ nào có thể làm giảm giá trị sâu xa của một sự sống con người mà Chúa đã muốn và kêu gọi vào hiện hữu. [61]
53. Do đó, phẩm giá nền tảng của mỗi người không phải là cái gì đạt được hay kiếm được, cũng không cần phải được biện minh. Tuyên ngôn Dignitas Infinita gần đây đưa ra một tổng lược tư tưởng của Giáo hội về chủ đề này: “Mỗi con người đều sở hữu một phẩm giá vô hạn, được đặt nền một cách bất khả nhượng trong chính hữu thể của họ, tồn tại trong và vượt trên mọi hoàn cảnh, tình trạng hay tình huống mà người đó có thể gặp phải” [62] - nói cách khác, luôn luôn như thế và không có ngoại lệ. Phẩm giá của mỗi con người có thể được mô tả là vô hạn, như thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố, [63] vì hai lý do: thứ nhất, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta làm bạn với Ngài, là vô hạn; và thứ hai, tình yêu của Ngài là hoàn toàn vô điều kiện, theo nghĩa rằng ngay cả khi chúng ta tìm kiếm đến không cùng, chúng ta cũng sẽ không bao giờ tìm thấy bất cứ điều gì có thể xóa bỏ hay phủ nhận nó.
Giá trị tối thượng của nhân quyền
54. Với lòng biết ơn, Giáo hội thừa nhận rằng “phong trào hướng tới việc xác định và công bố các quyền con người là một trong những nỗ lực có ý nghĩa nhất để đáp ứng hiệu quả những đòi hỏi tất yếu của phẩm giá con người.” [64] Về điều này, thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, vẫn là một trong những diễn đạt cao nhất của lương tâm con người trong thời đại chúng ta. [65] Đó là “một cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại.” [66] Vì lý do này, từ quan điểm Kitô giáo, nhân quyền không phải là một sự bổ sung bên ngoài cho con người, mà là một biểu hiện của phẩm giá nội tại, mà cộng đồng quốc tế được kêu gọi bảo vệ và thăng tiến.
55. Nhân quyền là bất khả xâm phạm, vì chúng “vốn có nơi nhân vị và nhân phẩm.” [67] Vì thế, chúng là phổ quát và bất khả chuyển nhượng. [68] Chính vì chúng được đặt nền trên phẩm giá chung của mọi con người nam nữ, nên chúng có những hệ quả thực tiễn và những hiệu ứng pháp lý, bởi vì “sẽ là vô ích nếu tuyên bố nhân quyền mà đồng thời không làm gì để bảo đảm bổn phận tôn trọng chúng, sự tôn trọng của tất cả mọi người, ở mọi nơi và cho mọi người.” [69] Trong số những quyền này, quyền đầu tiên là quyền sống, từ khi thụ thai đến khi kết thúc tự nhiên, [70] nếu không có quyền này thì không thể thực thi bất kỳ quyền nào khác. Khi quyền nền tảng này bị phủ nhận - như trong các trường hợp cố ý phá thai, giết người vô tội và an tử - chúng ta đứng trước những lựa chọn mà Giáo hội coi là sai trái nghiêm trọng. [71]
56. Nhìn vào thời của chúng ta, ta không thể bỏ qua thực tế rằng việc bảo vệ nhân quyền đã phải đối mặt với hai mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng. Thứ nhất, những quyền này được tuyên bố theo nghĩa thuần túy hình thức, trong khi tiến bộ công nghệ vẫn tiếp diễn song song với những vi phạm ngầm hoặc công khai đối với phẩm giá con người. Thứ hai, thực ra là gốc rễ của mối nguy hiểm thứ nhất, đó là sự thiếu khả năng nhận ra nền tảng tính phổ quát của chúng, vì chúng ta đã từ bỏ “việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc chống đỡ các quyết định và luật pháp của chúng ta”. [72] Đức giáo hoàng Phanxicô khẩn thiết kêu gọi chúng ta không nên xem thường vấn đề này. Ngài chỉ ra rằng khi lý trí nghiêm túc xem xét bản tính con người, nó có khả năng khám phá ra những giá trị áp dụng cho hết mọi người, vì những giá trị này rút ra từ bản tính của con người. Nếu nhiệm vụ tìm kiếm này bị bỏ, có thể hình dung rằng những quyền được coi là bất khả xâm phạm hôm nay, trong tương lai sẽ bị những người nắm quyền chất vấn hoặc phủ nhận, có lẽ sau khi đạt được chỉ một sự đồng thuận biểu kiến từ những người dân bị hoảng sợ hoặc bị thao túng. [73]
57. Cùng với ý thức cao hơn về giá trị của mỗi con người và các quyền của họ, sự nhìn nhận quyền của các nhóm thiểu số cũng tăng lên. Tuy nhiên, vẫn còn một quãng đường dài phải đi để bảo đảm rằng quyền của rất nhiều người phụ nữ được bảo đảm một cách bình đẳng và thực sự trên toàn thế giới. Thực tế là “có những phụ nữ nghèo gấp đôi khi phải chịu đựng những tình cảnh bị loại trừ, ngược đãi và bạo lực, vì họ thường ít có khả năng bảo vệ các quyền của mình.” [74] Do đó, việc chỉ đơn giản tuyên bố rằng nam và nữ bình đẳng về quyền và phẩm giá là chưa đủ; cần phải phản ánh điều này trong các quyết định cụ thể, chẳng hạn như trong luật pháp, trong sự tiếp cận việc làm, trong giáo dục, trong các trách nhiệm xã hội và chính trị, và trong cách xã hội lắng nghe và trân trọng những đóng góp của phụ nữ. Chừng nào khoảng cách này còn tồn tại, chúng ta không thể nói xã hội nhìn nhận thực sự và đầy đủ rằng phụ nữ có cùng phẩm giá như nam giới.
58. Điều quan trọng là các cá nhân, từng người và mọi người, cùng với gia đình của họ. Các phong trào xã hội, các ý thức hệ tập thể, và những tuyên bố chính trị to tát ủng hộ một cộng đồng dân chúng đều vô giá trị nếu chúng không dẫn đến sự phát triển của những con người - nam và nữ - với những quyền bất khả nhượng của họ. Tương tự, sẽ không đủ việc chúng ta hô hào tự do cá nhân hay doanh nghiệp tư nhân nếu sau đó chúng ta để cho vô số người tiếp tục sống mà không có việc làm xứng đáng, không có sự bảo vệ hay sự tiếp cận những nhu cầu cơ bản.
Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội
Nguyên tắc về công ích
59. Mỗi người nam nữ đều sở hữu một phẩm giá bất khả nhượng, cùng với những quyền mà không một thế lực con người nào có thể phản bội hay vô hiệu hóa, sự nhìn nhận này đòi hỏi chúng ta phải định hình cách chúng ta sống cùng nhau, bao gồm các lựa chọn kinh tế và chính trị của chúng ta, và việc xây dựng các thành phố của chúng ta. Từ đó nảy sinh nguyên tắc chính đầu tiên của Học thuyết Xã hội mà tôi muốn nhấn mạnh: công ích. Chúng ta có thể mô tả nó như là sự thể hiện xã hội của phẩm giá được công nhận nơi mỗi con người. Khi Đức Bênêđictô XVI đề cập đến các giá trị không thể thương lượng mà Giáo hội phải luôn bảo vệ, ngài đã bao gồm trong đó “việc thúc đẩy công ích”. [75] Đối với một Kitô hữu, việc vượt ra khỏi những giới hạn hẹp hòi của lợi ích cá nhân và dấn thân, trong phạm vi khả năng của mình, phục vụ công ích, đó là một giá trị không thể thương lượng, cũng như chính việc thăng tiến sự sống.
60. Công đồng Vatican II khẳng định rằng công ích bao gồm “tổng thể các điều kiện xã hội cho phép người ta, trong tư cách là những nhóm hay những cá nhân, đạt được sự viên mãn của mình một cách trọn vẹn và dễ dàng hơn”. [76] Định nghĩa này cung cấp cho chúng ta một điểm tham chiếu khởi đầu rất giá trị, bởi vì công ích không thể bị thu hẹp thành chỉ một danh sách các điều kiện hay các cơ chế. Nó không phải là tổng thể các lợi ích cá nhân, cũng không phải là sự đồng qui của các lợi ích cụ thể của họ; đó là một thiện ích lớn hơn thuộc về tất cả mọi người, và nó chỉ có thể đạt được, nuôi dưỡng và bảo vệ bằng những nỗ lực tập thể của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng hành động xã hội đạt đến sự viên mãn khi nó được điều hướng nhắm tới thiện ích chung này, cũng như hành động đạo đức của một người tìm thấy sự viên mãn trong việc lựa chọn điều thiện đích thực. [77]
61. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng toàn thể “lớn hơn tổng các phần của nó” [78] và chính vì lý do này, “duy chỉ tổng số các lợi ích cá nhân thì không có khả năng tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể gia đình nhân loại.” [79] Quả vậy, thật là một ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ cần theo đuổi sự tiến bộ của bản thân - mà không cần quan tâm đến người khác - là đủ để đóng góp vào thiện ích của mọi người. Quan điểm này bỏ qua giá trị cố hữu và đặc thù của công ích, vốn là kết quả của một “sự phụ thuộc lẫn nhau” [80] tạo ra một mạng lưới lợi ích xã hội mở rộng và tác động đến mọi người. Công ích là một “thặng dư”, kết quả của sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau kết nối các hành động, sáng kiến, nỗ lực và quyết định khác nhau. Nếu chúng ta cộng các lợi ích cá nhân lại với nhau, chúng ta không thể giải thích sự tồn tại của “thặng dư” này, thứ siêu vượt trên chúng và đồng thời làm giàu cho chúng.
62. Chính việc theo đuổi công ích mang lại sức sống cho một dân tộc, được hiểu không chỉ đơn thuần là một tập hợp các cá nhân, mà là một thực tại sống động trong đó mọi người học cách nhìn nhận rằng họ được nối kết với nhau và cùng nhau trách nhiệm cho các việc chung (res publica). Theo nghĩa này, mọi người đóng góp vào việc xây dựng dân tộc mình thông qua “một nỗ lực từ từ và cam go đòi hỏi phải có một khát vọng hội nhập và sẵn sàng đạt được điều này thông qua sự phát triển của một nền văn hóa gặp gỡ hòa bình và đa diện.” [81] Làm việc cùng nhau vì công ích có nghĩa là có một tầm nhìn chung. Thật rõ là có nhiều sự khác biệt về thực tiễn và về ý thức hệ giữa người ta, cũng như những lợi ích khác biệt nhau và những bất đồng thường xuyên, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể đi vào đối thoại để thiết lập một tập hợp các thỏa thuận cơ bản cho phép tạo ra một tầm nhìn chung, nhờ đó mọi người có thể cùng nhau tiến tới.
63. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự gắn kết, sự thống nhất và sự tổ chức đúng đắn xã hội dân sự, để công ích có thể được theo đuổi với sự đóng góp của mọi người. Về mặt thực tiễn, điều này có nghĩa là các cơ quan công quyền có nhiệm vụ tế nhị là “hài hòa các lợi ích cục bộ khác nhau với các yêu cầu của công lý,” [82] tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và công ích, mà không bỏ lại những người dễ bị tổn thương nhất. Khi chính trị từ bỏ tầm nhìn dài hạn và tự thu hẹp lại thành những tính toán ngắn hạn hay những sự phân cực vô ích, thì ngôn ngữ về công ích sẽ mất đi uy tín, đồng thời, bất bình đẳng và chia rẽ xã hội sẽ gia tăng.
64. Điều này cũng áp dụng cho chính trị quốc tế. Khi khoảng cách giữa các quốc gia giãn rộng, một tâm thức đối đầu và gây hấn bắt đầu hình thành, và con đường khó khăn hướng tới một thế giới đoàn kết và huynh đệ hơn phải chịu những lực cản mới và đau đớn. Trong bối cảnh này, việc nói về một hành trình chung hướng tới sự phát triển công bằng hơn cho toàn thể nhân loại “nghe có vẻ điên rồ.” [83] Tuy nhiên, chúng ta không được mất hy vọng. Tôi mời mọi người cùng suy nghĩ về các cách thức hợp tác và các cơ chế quốc tế hiệu quả hơn, có khả năng bảo vệ công ích toàn cầu mà không làm tổn hại đến sự đa dạng hợp pháp của các dân tộc và quốc gia. Thật vậy, việc thúc đẩy công ích không bao giờ có thể tách rời khỏi sự tôn trọng quyền tồn tại của các dân tộc, quyền bảo tồn bản sắc riêng và quyền đóng góp những phẩm chất độc đáo của họ cho cộng đồng các quốc gia. [84] Hơn nữa, bất kỳ toan tính hay kế hoạch nào nhằm xóa bỏ hoặc áp chế một quốc gia đều là vô đạo đức trầm trọng và do đó không thể chấp nhận được.
Nguyên tắc về mục đích phổ quát của của cải
65. “Trong số nhiều hàm ý của công ích, thì ý nghĩa trước hết chính là nguyên tắc về mục đích phổ quát của của cải.” [85] Trước hết, nguyên tắc này nhắc chúng ta rằng của cải của trái đất - đất, nước, không khí và các tài nguyên thiên nhiên - được Thiên Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại để duy trì sự sống của tất cả mọi người, và mỗi người đều có quyền của mình đối với việc sử dụng những của cải đó, cả trong hiện tại và tương lai. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn thể nhân loại để nuôi sống tất cả các thành viên của nó, không loại trừ hay biệt đãi bất cứ ai.” [86] Vì thế, “sẽ không phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa nếu sử dụng món quà này theo cách mà lợi ích của nó chỉ đổ dồn cho một số ít người được chọn.” [87] Ngày nay, chúng ta được kêu gọi nhìn nhận rằng mục đích phổ quát này không chỉ áp dụng cho của cải vật chất, mà còn cho của cải có tính phi vật chất và văn hóa.
66. Chắc chắn có một quyền tư hữu, với ý nghĩa và mục đích chuyên biệt của nó, nhưng nó luôn luôn phụ thuộc vào mục đích phổ quát của của cải. Theo Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, sự phụ thuộc này là quy tắc vàng của hành vi xã hội và là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức và xã hội.” [88] Trong truyền thống của Giáo hội, tài sản được coi là một phương tiện để bảo vệ và quản lý của cải sao cho chúng có thể phục vụ tốt hơn cho công ích. Vì “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ công nhận quyền tư hữu là tuyệt đối hoặc bất khả xâm phạm,” [89] chức năng xã hội của nó không được coi là một quan điểm thần học đơn thuần, mà là một giáo lý của Giáo hội, đã có trong Kinh Thánh và trong các văn liệu của các Giáo phụ. Vì lý do này, Đức giáo hoàng Phanxicô nhắc chúng ta rằng sự liên đới, khi được thực thi trọn vẹn nhất, cũng có nghĩa là “trả lại cho người nghèo những gì thuộc về họ”. [90]
67. Ngày nay, trong số những của cải được dành cho tất cả mọi người, chúng ta cũng phải bao gồm các dạng tài sản mới, chẳng hạn như bằng sáng chế, thuật toán, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong bối cảnh mà sự giàu có của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào tri thức và công nghệ, khi những của cải này vẫn tập trung trong tay một số ít người, mà không có các hình thức chia sẻ và tiếp cận phù hợp, một sự mất cân bằng mới được tạo ra, trái ngược với mục đích phổ quát của của cải. Đến lượt nó, điều này làm gia tăng khoảng cách giữa những người được bao gồm và những người bị loại trừ, giữa những người có thể tham gia vào cuộc cách mạng kỹ thuật số và những người vẫn ở bên lề. Hơn nữa, việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta và trách nhiệm của chúng ta đối với người nghèo và các thế hệ tương lai đòi hỏi rằng việc sử dụng các của cải của công trình tạo dựng và những khả năng mới do công nghệ mang lại phải được điều chỉnh theo cách tôn trọng môi trường, tránh lãng phí và ngăn chặn các hình thức bóc lột mới.
Nguyên tắc bổ trợ
68. Nguyên tắc bổ trợ cũng xuất phát từ chính nhận thức về con người đã hướng dẫn suy nghĩ của chúng ta về phẩm giá và về công ích. Nếu mọi con người nam nữ đều được kêu gọi làm chủ cuộc sống của chính mình và đóng góp vào việc hình thành xã hội, thì các cơ chế xã hội cũng phải tôn trọng và hỗ trợ cho trách nhiệm này. Học thuyết Xã hội của Giáo hội đề cập đến nguyên tắc bổ trợ như là nguyên tắc theo đó vai trò của các cá nhân, các gia đình, các cộng đồng địa phương và các tổ chức trung gian không nên bị thay thế bởi các thẩm quyền cấp cao hơn. Hơn nữa, các cơ chế cấp cao hơn phải nhìn nhận, bảo vệ và thúc đẩy sự tự do và sự sáng tạo của các thực thể cấp thấp hơn, phối hợp các đóng góp của họ để họ có thể hợp tác một cách hữu hiệu vì công ích. [91]
69. Bắt đầu từ Đức Lê-ô XIII và những khởi đầu của giáo huấn xã hội hiện đại, Giáo hội đã nhấn mạnh rằng cả cá nhân lẫn gia đình không nên bị Nhà nước thôn tính, mà nên được phép hành động tự do, trong chừng mực có thể, mà không phương hại đến công ích. [92] Thánh Gioan Phaolô II đã tiếp nhận và phát triển quan điểm này, lưu ý rằng cộng đồng chính trị phục vụ xã hội dân sự và rằng Nhà nước phải bảo vệ công ích, can thiệp khi cần thiết, nhưng không thay thế vĩnh viễn trách nhiệm của các tổ chức trung gian và các cơ chế xã hội. [93] Nguyên tắc bổ trợ không biện minh cho việc Nhà nước không can thiệp, mà đúng hơn là hướng dẫn hành động của Nhà nước. Thật vậy, sự can thiệp của nhà nước là cần thiết nhằm cho phép tất cả các chủ thể xã hội hoàn thành sứ mạng của mình mà không bị kìm hãm. Cộng đồng chính trị có trách nhiệm tạo điều kiện cho phép các cá nhân, gia đình, hiệp hội và các tổ chức trung gian chu toàn sứ mạng của mình trong xã hội, mà không bị thay thế hoặc bị chế giảm xuống thành những người hỗ trợ đơn thuần. [94]
70. Nguyên tắc này khuyến khích chúng ta vượt ra ngoài mọi hình thức quản lý đời sống xã hội mang tính gia trưởng hoặc dựa trên phúc lợi, mà thay vào đó thúc đẩy một nền văn hóa chia sẻ trách nhiệm trong một Nhà nước coi trọng sáng kiến của công dân, và một xã hội dân sự có khả năng tạo lập những mối liên kết và huy động các năng lực để phục vụ công ích. Theo nguyên tắc bổ trợ, các quyết định được đưa ra ở cấp độ gần nhất có thể với những người liên quan, nhờ đó củng cố đời sống cộng đồng và tránh cho người ta việc phải nhận những quyết định như chuyện đã rồi. Bằng cách này, người dân có thể tham gia vào tiến trình ra quyết định. Khi các gia đình, các hiệp hội, các cộng đồng địa phương, các tổ chức tình nguyện và những người được gọi là thuộc “khu vực thứ ba” được công nhận và được hỗ trợ, đời sống xã hội trở nên dễ tiếp cận hơn với mọi người, các dịch vụ trở nên phù hợp với nhu cầu thực tế hơn, và các giải pháp trở nên sáng tạo và tôn trọng phẩm giá của mỗi người hơn. [95]
71. Nguyên tắc bổ trợ đặc biệt áp dụng trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ở đây, cấp cao nhất không phải là Nhà nước, mà là các tác nhân kinh tế và công nghệ chủ chốt thực thi quyền lực thực tế (de facto) đối với các điều kiện của cuộc sống hàng ngày. Cấp độ này, độc quyền về chuyên môn, dữ liệu và quyền ra quyết định, bao gồm các công ty và các nền tảng nắm giữ việc xác định các điều kiện truy cập, các quy tắc hiển thị, các hình thức tương tác, và thậm chí cả các cơ hội kinh tế. Nguyên tắc bổ trợ yêu cầu các quy trình như vậy không được áp đặt từ trên xuống một cách mờ ám và đơn phương, mà thay vào đó phải hướng tới công ích với sự minh bạch, trách nhiệm giải trình và các hình thức tham gia có ý nghĩa (bao gồm những sự kiểm tra độc lập, sự minh bạch liên quan đến các thuật toán, quyền truy cập công bằng vào dữ liệu và các con đường khiếu nại). [96]
72. Trong bối cảnh này, các nhà nước và các tổ chức xuyên quốc gia được kêu gọi bảo đảm các quy tắc công bằng và các biện pháp bảo vệ hiệu quả, để các cộng đồng địa phương, các tổ chức trung gian, các trường học, đại học, các tổ chức và hiệp hội tôn giáo có tiếng nói và có thể đóng góp vào việc phân định các lựa chọn ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân, chẳng hạn như công việc làm, sự tiếp cận các dịch vụ, sự quản lý dữ liệu và môi trường kỹ thuật số. Khi nói đến các quyết định liên quan đến dòng chảy kinh tế và các nền tảng kỹ thuật số, cũng như sự quản trị dữ liệu và các thuật toán, chúng ta không thể cho phép một số ít các tác nhân tự ý quyết định các quy trình này; thay vào đó, chúng ta phải xây dựng các hình thức hợp tác biết tôn trọng các cấp độ khác nhau của cộng đồng toàn cầu và làm cho họ cùng chịu trách nhiệm về công ích. [97]
Nguyên tắc liên đới
73. Sau khi xem xét về công ích và nguyên tắc bổ trợ, tôi muốn suy ngẫm về nguyên tắc liên đới. Nguyên tắc này xuất phát từ một tầm nhìn về con người nảy sinh từ đức tin, đó là mỗi con người được tạo ra theo hình ảnh Thiên Chúa và là thành phần của một mạng lưới tương quan ràng buộc họ với những người khác, với các cộng đồng cụ thể và với công trình tạo dựng. Thánh Phaolô VI ghi nhận rằng các nghĩa vụ liên đới, công bằng và bác ái bắt nguồn từ các mối liên kết huynh đệ nhân bản và siêu nhiên gắn kết các cá nhân và các cộng đồng. [98] Tình huynh đệ không chỉ là khát vọng của các tín hữu, mà còn là một thực tế xã hội và chính trị được thể hiện trong các lựa chọn và các công cuộc chung. Vì thế, liên đới là sự nhìn nhận cụ thể rằng tương lai của mỗi cá nhân nối kết với tương lai của tất cả; quả thực, “không ai được cứu một mình”. [99] Mối gắn kết chặt chẽ giữa nguyên tắc bổ trợ và liên đới vì thế trở nên rất rõ ràng. Khi nguyên tắc bổ trợ không được nối kết với liên đới, nó cuối cùng trở thành chỉ là sự bảo vệ các lợi ích riêng biệt; khi liên đới không được hỗ trợ bởi nguyên tắc bổ trợ, nó suy thoái thành một hình thức phúc lợi không thúc đẩy trách nhiệm. [100] Mối nối kết tương liên này cũng liên quan đến trách nhiệm tham gia đích thực. Liên đới được thể hiện khi mỗi người, cả cá nhân và tập thể, tham gia vào đời sống cộng đồng - bằng cách được cập nhật thông tin, liên can với người khác, lên tiếng và đóng góp vào các quyết định và các lựa chọn công cộng - đồng thời cũng đảm nhận trách nhiệm thực sự để đạt được công ích thông qua việc ra quyết định cùng với nhau.
74. Ở nhiều vùng, chúng ta đang kinh nghiệm một loại “liên đới trên thực tế”, vì cuộc sống của chúng ta đan kết với nhau; những mạng lưới kỹ thuật số kết nối mọi người và các cộng đồng trên khắp thế giới trong thời gian thực, và các nền kinh tế và truyền thông toàn cầu, có nghĩa là các sự kiện ở một nơi có một tác động vươn rất xa. Tuy nhiên, mạng lưới tương quan này chỉ cấu thành sự liên đới theo ý nghĩa đầy đủ nhất khi nó trở thành một lựa chọn có ý thức. Đức tin mời gọi chúng ta nhìn thực tế này như một lời kêu gọi: chúng ta không chỉ là hàng xóm của nhau, mà còn được giao phó cho nhau, để mỗi người trong chúng ta có thể chịu trách nhiệm, nhiều nhất có thể, đối với cuộc sống và những thương tích của anh chị em mình. Sự liên đới nảy sinh chính khi chúng ta quyết định không dửng dưng với những gì xảy ra với người xung quanh mình, mà thay vào đó chuyển hóa những mối ràng buộc không tránh được – như kinh tế, văn hóa và công nghệ - thành những con đường chia sẻ, hợp tác và chăm sóc lẫn nhau, trong tinh thần “suy nghĩ và hành động vì cộng đồng”. [101]
75. Giáo huấn xã hội của Giáo hội nhấn mạnh rằng sự liên đới vừa là một nguyên tắc vừa là một nhân đức. Là một nguyên tắc, nó biểu đạt trật tự khách quan của các mối tương quan giữa các cá nhân, các nhóm và các dân tộc, hướng đến ý thức về sự phụ thuộc lẫn nhau, trong đó thiện ích của mỗi người phụ thuộc vào thiện ích của những người khác. Là một nhân đức, nó đòi hỏi một “quyết tâm vững chắc và kiên trì” [102] để phấn đấu cho công ích, đặc biệt chú ý đến những người cần giúp đỡ nhất. Đức giáo hoàng Phanxicô ghi nhận rằng liên đới là “một cách làm nên lịch sử” [103] kiến tạo các cộng đồng chứ không chỉ là những đám đông các cá nhân. Vì lý do này, nó đòi hỏi một lối sống khiêm tốn và chia sẻ, khả năng từ bỏ lợi ích trước mắt để tạo cơ hội cho những người khác trong tương lai, và sẵn sàng thách thức những thói quen và những đặc quyền - bao gồm cả những thói quen và đặc quyền liên quan đến tiêu dùng kỹ thuật số và sử dụng công nghệ - khi chúng không cho phép người ta sống đúng phẩm giá.
76. Trong một thế giới được đánh dấu bởi sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa con người, các cộng đồng và các quốc gia, sự liên đới cũng mang một chiều kích toàn cầu. Đức Bênêđictô XVI đã rất nhấn mạnh mối gắn kết giữa phát triển, công lý và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, ngài tuyên bố rằng sự phát triển đích thực đòi hỏi sự liên đới và công bằng giữa các thế hệ, [104] cũng như đòi hỏi sự ý thức về những mối ràng buộc gắn kết chúng ta với môi trường tự nhiên. Ngày nay, trách nhiệm này cũng mở rộng đến hạ tầng kỹ thuật số và thông tin. Giống như môi trường tự nhiên, “hệ sinh thái kỹ thuật số” có thể được bảo tồn hay được khai thác, chia sẻ hoặc độc chiếm. Sự liên đới đòi hỏi rằng các quyết định liên quan đến các dữ liệu, các thuật toán, các nền tảng và trí tuệ nhân tạo phải tính đến không chỉ lợi ích trước mắt cho một số ít người, mà còn tính đến cả tác động trên mọi dân tộc và các thế hệ tương lai.
Nguyên tắc công bằng xã hội
77. Đối với cộng đồng Kitô giáo, công bằng xã hội là một cách cụ thể để đi theo Chúa Giêsu và trung thành với Tin Mừng. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu loan báo “tin mừng cho người nghèo” (Lc 4,18) và đồng hóa mình với những người thấp hèn, người bệnh, người bị giam cầm và người khách lạ (x. Mt 25,31-46). Do đó, Người dạy chúng ta rằng công lý được sinh ra và được hoàn thành trong tình huynh đệ, bởi vì cách chúng ta tiếp cận và liên hệ với những người bé mọn nhất giữa chúng ta sẽ trở thành thước đo cụ thể mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Tuy nhiên, công lý không chỉ liên quan đến hành vi của các cá nhân, mà còn liên quan đến cách thức mà các cơ cấu xã hội được hình dung và được tổ chức. Về phương diện này, Công đồng Vatican II nhắc chúng ta rằng mọi thiết chế đều được kêu gọi phục vụ nhân vị và nhân phẩm. [105] Do đó, công bằng xã hội được đặc trưng bởi khả năng của một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị cho phép mọi người - đặc biệt là những người yếu thế nhất - sống một cuộc sống thực sự có phẩm giá, mà không bỏ lại ai phía sau.
78. Huấn quyền gần đây đã nhấn mạnh rằng công bằng xã hội bắt đầu với những người thấp kém nhất giữa chúng ta. Thánh Gioan Phaolô II nói về một sự ưu tiên lựa chọn người nghèo [106] phải hướng dẫn cả những lựa chọn cá nhân và xã hội, trong khi Đức Phanxicô lên án một “nền văn hóa ‘vứt bỏ’” [107] tạo ra những hình thức loại trừ mới. Từ quan điểm này, công bằng xã hội đòi hỏi chúng ta phải nhìn vào các cá nhân và các cộng đồng, bắt đầu từ những người dễ bị tổn thương nhất: người nghèo, người nhập cư, người tị nạn, người di cư nội địa, các nạn nhân của bạo lực và những người sống ở những vùng ngoại biên đô thị hay những vùng ngoại biên hiện sinh.
79. Ý niệm về “công bằng xã hội” giúp chúng ta nhận ra rằng bất công không chỉ phát sinh từ những lựa chọn sai lầm của các cá nhân, mà còn từ các cấu trúc, các cơ chế và các hệ thống kinh tế và văn hóa tạo ra sự bất bình đẳng gần như tự động. Trong chiều hướng này thánh Gioan Phaolô II đã nói về các cơ cấu tội lỗi [108] chống lại ý muốn của Thiên Chúa và đòi hỏi một cam kết hoán cải cá nhân và xã hội. Theo quan điểm này, công bằng không chỉ đơn thuần là sự phân phối các nguồn lực công bằng hơn, hay sự sửa chữa những bất công hiện hành, mà nó còn mang một chiều kích phục hồi. Nó nhắm hàn gắn những mối dây liên kết bị đổ vỡ và tái hòa nhập những người bị loại trừ, có xét đến những vết thương do bất công gây ra, như chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, sự phân biệt chủng tộc hoặc giới tính, bạo lực chống lại các cộng đồng dân tộc và sự bóc lột. Điều này có thể bao gồm việc khôi phục phẩm giá và tiếng nói cho những người đã bị bỏ quên, thúc đẩy các tiến trình chữa lành ký ức tập thể, phản đối các luật và các thực hành phân biệt đối xử, và cung cấp sự hỗ trợ cụ thể cho những người vẫn đang gánh lấy hậu quả của những sai trái đã phải chịu đựng trong quá khứ.
80. Trong thời đại ngày nay, công bằng xã hội cũng phải vật lộn với môi trường được định hình bởi các công nghệ kỹ thuật số. Sự lan rộng của các mạng lưới toàn cầu, các nền tảng và hệ thống trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách chúng ta thu thập thông tin, giao tiếp và tiếp cận các dịch vụ. Sự công bằng đòi hỏi chúng ta phải ngăn chặn sự nổi lên của các hình thức loại trừ và tước đoạt tự do mới: các cá nhân và cộng đồng bị cản trở hoặc bị từ chối tiếp cận các công nghệ cơ bản, các cộng đồng bị phô ra cho sự giám sát có tính xâm phạm, và các nhóm xã hội bị trừng phạt bởi các thuật toán mờ ám bám vào định kiến và kỳ thị. Trong thời đại kỹ thuật số, một trật tự xã hội công bằng bảo đảm cho mọi người quyền tiếp cận bình đẳng đối với các cơ hội, bảo vệ các thành viên non trẻ nhất và yếu thế nhất trong xã hội, chống lại sự thù hận và thông tin sai lệch, và đưa việc sử dụng dữ liệu và công nghệ vào sự giám sát của công chúng, để nguyên tắc chỉ đạo không chỉ là lợi nhuận mà là phẩm giá của mỗi người và lợi ích chung của tất cả mọi người.
81. Một phép thử cho công bằng xã hội ngày nay là cách đối xử với người di cư, người tị nạn và những người buộc phải di chuyển do nghèo đói, bạo lực, biến đổi khí hậu và thảm họa môi trường. Cách một xã hội đối xử với họ cho thấy liệu cảm thức về công bằng của xã hội đó được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hay bởi tinh thần huynh đệ. Đức giáo hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta xem những người di cư không chỉ đơn thuần là một vấn đề cần được quản lý, mà là một hình ảnh sống động của Dân Chúa đang di chuyển. [109] Họ là những người có phẩm giá, có các nguồn lực và những ước mơ, họ có quyền được đối xử tôn trọng và muốn trở thành các thành viên tích cực của các xã hội chào đón họ. Công bằng xã hội trong lĩnh vực này gắn với ít nhất hai cam kết có tính bổ sung nhau. Một mặt, điều này có nghĩa là bảo vệ những niềm hy vọng chính đáng của những người buộc phải rời đi bằng cách bảo đảm các tuyến đường an toàn và hợp pháp, những điều kiện tiếp nhận có phẩm giá, và những lộ trình hội nhập thực sự. Mặt khác, nó có nghĩa là cổ võ cho quyền được ở lại quê hương trong hòa bình và an ninh bằng cách giải quyết các nguyên nhân gốc rễ buộc người dân phải di cư, bao gồm cả những nguyên nhân liên quan đến bất công kinh tế và khủng hoảng khí hậu. Khi những quyền này được tôn trọng, di cư có thể trở thành cơ hội gặp gỡ và làm phong phú lẫn nhau giữa các dân tộc.
Sự phát triển nhân bản toàn diện
82. Trong Thông điệp Populorum Progressio, Đức giáo hoàng Phaolô VI khẳng định rằng sự phát triển chỉ chân thực nếu nó “toàn diện”, nghĩa là nó có thể “thúc đẩy sự phát triển của mỗi người và của toàn thể con người”.[110] Trong những thập niên tiếp theo, Học thuyết Xã hội của Giáo hội đã nhắc lại và suy ngẫm về cách diễn đạt này để chỉ ra những cách thức thực tiễn theo đó các nguyên tắc vàng - về phẩm giá, công ích, mục đích phổ quát của của cải, tính bổ trợ, sự liên đới, và công bằng xã hội - được thực hiện trong đời sống thực tế. Nói “phát triển nhân bản toàn diện”, chúng ta muốn nói đến một tiến trình trong đó sự phát triển của các cá nhân và các dân tộc bao trùm mọi chiều kích của hiện sinh và đồng thời mở ra tương lai cho các thế hệ tiếp theo.
83. Đối với các cá nhân cũng như các quốc gia, phát triển vừa là nghĩa vụ vừa là quyền. Cần có những điều kiện tối thiểu để cho phép mỗi người và mỗi dân tộc tiến triển phù hợp với phẩm giá của họ, mà không bị giữ trong tình trạng phụ thuộc hoặc bị loại trừ khỏi việc tiếp cận các nhu yếu phẩm. Phát triển thực sự có tính nhân bản khi nó đặt con người làm trung tâm thay vì tích lũy của cải, và khi nó liên quan đến các dân tộc cũng như các cá nhân. Sự công bằng đòi hỏi việc nhìn nhận các quyền của xã hội và các quyền của các dân tộc, và bao gồm trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Phát triển không thực sự mang tính nhân bản nếu nó làm tăng mức tiêu thụ cho một số người trong khi chuyển gánh nặng chi phí sang những người khác, hoặc hạ thấp toàn bộ các khu vực xuống vai trò phụ thuộc, ngăn cản họ phát huy hết tiềm năng của mình. [111] Phát triển có tính toàn diện khi nó không giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà còn thúc đẩy chất lượng cuộc sống trong các chiều kích tinh thần, văn hóa, đạo đức và quan hệ, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta, tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc và lối sống của họ. [112]
84. Ngày nay, khái niệm phát triển nhân bản toàn diện là một chuẩn mực để đánh giá sinh thái toàn diện, vốn đã trở thành một chiều kích thiết yếu của Học thuyết Xã hội của Giáo hội. Thật vậy, chất lượng phát triển được đo bằng khả năng hội nhập sự công bằng cho con người và việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta, và thúc đẩy các điều kiện sống xứng phẩm giá, sự tiếp cận các nhu yếu phẩm, các mối quan hệ xã hội công bằng, sự chăm sóc công trình tạo dựng và sự quan tâm đến các thế hệ tương lai. Theo đó thì sự tiến bộ thực sự không phải là điều làm tăng phúc lợi cho một số người bằng cách làm suy thoái hệ sinh thái, chuyển gánh nặng chi phí sang các cộng đồng thiệt thòi nhất, hoặc làm tổn hại đến điều kiện sống của những thế hệ sau chúng ta.
85. Nhìn trong ánh sáng này, sự phát triển nhân bản toàn diện là chiếc khung qua đó chúng ta có thể diễn giải những thay đổi của thời chúng ta, bao gồm cả những thay đổi do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang lại. Những đổi mới công nghệ, bao gồm cả trí tuệ nhân tạo, không phải là trung lập, bởi vì chúng có thể thúc đẩy sự tham gia và công bằng, hoặc làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, sự kiểm soát và loại trừ. Vì lý do này, chúng phải được đánh giá bằng một câu hỏi quan trọng: Liệu chúng có thực sự giúp các cá nhân và các dân tộc trở nên nhân văn và huynh đệ hơn, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta và các thế hệ tương lai? Chính tại đây, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội trở thành các tiêu chí cụ thể để phân định về các vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong các chương tiếp theo.
Một cuộc kiểm điểm cho Giáo hội
86. Tóm lại, tôi muốn đề cập đến một điểm đặc biệt gần gũi với trái tim tôi. Học thuyết Xã hội không chỉ là một thông điệp gửi đến xã hội; nó còn là một cuộc tự vấn lương tâm cho Giáo hội – là một ngôi nhà và trường học hiệp thông luôn được kêu gọi bảo đảm rằng các nguyên tắc được nêu trong chương này phải được áp dụng, đặc biệt là bên trong các cơ cấu của chính Giáo hội. Trong bối cảnh Giáo hội, công ích mang hình thức của một cách tiếp cận sứ mạng mang tính hiệp hành để phục vụ cho Nước Thiên Chúa. Thật vậy, Giáo hội là “chủ thể về mặt lịch sử và cộng đồng của tính hiệp hành và sứ mạng”. [113] Điều này đòi hỏi phải chú ý đến cách thức đưa ra quyết định và cách thực thi trách nhiệm. Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng xác định một văn hóa của sự minh bạch, của trách nhiệm giải trình và sự đánh giá là những thực hành chủ chốt giúp cho sự chuyển hóa sứ mạng thừa sai. [114]
87. Trong nhận thức này, nguyên tắc bổ trợ trở thành nguyên tắc hướng dẫn cho việc quản trị và đời sống mục vụ. Nó liên quan tới việc nhìn nhận và hỗ trợ các tín hữu và các tổ chức giáo hội trung gian trong việc thực thi trách nhiệm của mình, trân trọng các đặc sủng và các kỹ năng, và tránh bất kỳ hình thức gia trưởng nào bóp nghẹt sự tự do của Phúc Âm. Trong thực tiễn, sự tham gia của những người đã lãnh Phép Rửa vào các tiến trình đưa ra quyết định và việc họ chia sẻ trách nhiệm trong sứ mạng được thực hiện thông qua các cơ quan tham gia thực sự, chứ không chỉ mang tính hình thức. [115]
88. Đối với cộng đoàn Kitô hữu, sự liên đới tìm thấy nguồn mạch của nó trong mầu nhiệm Chúa Kitô và được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể. Sự liên đới đến từ sự hiệp thông trong đức tin và các Bí tích: Bí tích Phép Rửa và Bí tích Thêm sức kết hợp chúng ta trong Chúa Kitô, để chúng ta trở thành một Thân thể và một Thần Khí, một trái tim và một linh hồn (x. Ep 4,4; Cv 4,32). Bí tích Thánh Thể, là bí tích của sự hiệp nhất, nuôi dưỡng sự thuộc về Thân thể Chúa Kitô của chúng ta, và dạy chúng ta cách chia sẻ. Các cảm quan đa dạng trong Giáo hội và những xác tín mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người là một nguồn của sự phong phú nếu chúng luôn được neo giữ trong xác quyết rằng sự hiệp nhất là một món quà nhận được và là một trách nhiệm phải chu toàn.
89. Sống sự công bằng trong Giáo hội có nghĩa là thanh lọc các mối tương quan và các cơ cấu Giáo hội khỏi những sự bóp méo dẫn đến sự bất bình đẳng, sự thiếu minh bạch và sự lạm dụng quyền lực. Về khía cạnh này, việc lắng nghe các nạn nhân của những sự lạm dụng về tâm linh, kinh tế, cơ chế, tình dục và quyền lực, cũng như những sự lạm dụng lương tâm, là một phần không thể thiếu của hành trình hướng tới công lý, bao gồm việc thừa nhận những tổn hại đã gây ra, việc bồi thường thích đáng và việc thực hiện các bước để ngăn chặn điều đó tái diễn. Mọi quyền lực đều phục vụ cho sự hiệp thông và cho sứ mạng. Mọi quyền bính đều phục vụ cho Dân Chúa. Sứ vụ phục vụ này được thể hiện không chỉ qua đức tin của chúng ta được cử hành và được sống trong các Bí tích, và trong việc áp dụng phong cách hiệp hành, mà còn trong việc chia sẻ của cải cụ thể. Theo gương của Giáo hội sơ khai, các nguồn lực của Giáo hội cần được chia sẻ để không ai trong chúng ta phải thiếu thốn (x. Cv 4,34), và để việc quản lý chúng có thể hỗ trợ sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo nhất. Nên khuyến khích những đánh giá thường xuyên việc thực hiện các trách nhiệm sứ vụ, không phải như những phán xét đối với cá nhân, mà như những công cụ để học hỏi và sửa chữa trong định hướng sứ mạng. [116] Chỉ trong mức độ chúng ta mở lòng đón nhận sự tác động của Chúa Thánh Thần, những nguyên tắc này của Học thuyết Xã hội mới được nhập thể vào đời sống Giáo hội. Bằng cách này, Giáo hội sẽ có thể nêu chứng tá đáng tin cậy cho xã hội rằng việc cùng nhau tìm kiếm công ích, với sự chia sẻ trách nhiệm và với tình huynh đệ, không phải là một điều không tưởng, nhưng là một khả năng thực sự. [117]

CHƯƠNG BA
CÔNG NGHỆ VÀ SỰ THỐNG TRỊ -
SỰ CAO CẢ CỦA NHÂN TÍNH DƯỚI ÁNH SÁNG NHỮNG TRIỂN VỌNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
90. Sau khi nhắc lại những nguyên tắc soi sáng Học thuyết Xã hội, giờ đây tôi muốn tập trung vào một số thách thức đang định hình sâu sắc cách sống của chúng ta ngày nay. Hình ảnh Kinh Thánh đi kèm với những suy tư này là hình ảnh của một dự án xây dựng. Một mặt, đó là Tháp Babel, nơi nỗ lực tập thể đi theo một kế hoạch thống trị và rốt cục làm mất nhân tính (x. St 11,1-9). Mặt khác, đó là những tàn tích của Giêrusalem, được xây dựng lại từng phần dưới sự chỉ đạo của Nơkhemia như một dự án về trách nhiệm cùng chia sẻ (x. Nkm 2-6). Chúng ta được kêu gọi suy ngẫm về những “công trường xây dựng” vĩ đại của thời đại chúng ta và tự hỏi: Chúng ta đang xây dựng cái gì? Khi sự phát triển công nghệ nhanh chóng biến đổi các ngôn ngữ, các mối tương quan, các cơ chế và các dạng quyền lực, thì các tín hữu chúng ta phải và có thể lựa chọn những dự án nào để thực hiện và bằng cách nào, để bảo vệ và trân trọng sự cao cả của nhân tính là món quà mà chúng ta được ban tặng. Đây là sự lựa chọn không chỉ cho tương lai mà còn cho hiện tại của chúng ta, vì trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới nổi lên khác đã là một phần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
91. Tôi tin chắc rằng cách thức cụ thể để sống các mối tương quan xã hội theo ánh sáng Tin Mừng không được thiết lập một lần cho tất cả, mà vẫn là một nhiệm vụ được giao phó, từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho cộng đoàn Kitô hữu. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo hội để mình được soi sáng bởi Lời Chúa, đọc các dấu chỉ của thời đại và sáng tạo tìm kiếm những cách thức mới để tương quan giữa các dân tộc và quốc gia ngày càng phù hợp hơn với những đòi hỏi của Nước Thiên Chúa. [118] Vì lý do này, tôi khuyến khích tất cả mọi người trong Giáo hội đừng sợ hãi những thách thức hiện tại, mà hãy lắng nghe lẫn nhau và vững vàng đón nhận trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một xã hội nhân văn và huynh đệ hơn.
Kiểu thức kỹ trị và quyền lực kỹ thuật số
92. Trong Thông điệp Laudato Si’, Đức giáo hoàng Phanxicô đã lên án sự thống trị ngày càng tăng của một kiểu thức kỹ trị [119] trong thế giới toàn cầu hóa của chúng ta: xu hướng chỉ để cho logic về hiệu năng, về sự kiểm soát và lợi nhuận định hình các quyết định cá nhân, xã hội và kinh tế. Điều này cho thấy rõ rằng công nghệ không chỉ là một công cụ. Khi nó trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mọi thứ, nó bắt đầu áp đặt về điều gì quan trọng và điều gì có thể bị loại bỏ, biến công trình tạo dựng thành một đối tượng khai thác và con người thành những bánh răng đơn thuần trong một hệ thống hướng tới hiệu năng ngày càng cao hơn.
93. Kiểu thức này đã lan rộng nhanh chóng trong những năm gần đây, một phần được thúc đẩy bởi sự bành trướng của trí tuệ nhân tạo, khoa học nhận thức, công nghệ nano, robot và công nghệ sinh học. Bản thân những đổi mới này có thể phục vụ rất nhiều cho sự phát triển nhân bản toàn diện và việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Tuy nhiên, chính vì sức mạnh của chúng, chúng cũng có thể đẩy nhanh sự bành trướng của kiểu thức kỹ trị và do đó đòi hỏi một khuôn thức mới về chính trị, đạo đức và tâm linh. Nhiều quyền lực hơn không nhất thiết có nghĩa là một điều gì đó tốt hơn. Về khía cạnh này, những lời của Romano Guardini vẫn còn phù hợp: “Con người thời nay chưa được đào tạo để biết sử dụng quyền lực.” [120]
94. Nguy cơ nhân loại trở thành nạn nhân của chính những thành tựu của mình đã được thánh Phaolô VI nhận ra rõ ràng, ngài cảnh báo rằng “tiến bộ khoa học phi thường nhất, kỳ tích kỹ thuật đáng kinh ngạc nhất và tăng trưởng kinh tế kỳ diệu nhất, nếu không đi kèm với tiến bộ đạo đức và xã hội đích thực, về lâu dài sẽ chống lại con người.” [121] Vì lý do này, tiến bộ công nghệ - tự nó vốn có giá trị - đòi hỏi sự phân định cẩn thận về tầm nhìn nhân học hướng dẫn nó và các cứu cánh mà nó theo đuổi. Nếu sự phát triển công nghệ tiến bộ mà không có sự tiến bộ đạo đức và xã hội tương ứng, kết quả có thể là sự gia tăng phương tiện mà không có sự phát triển về nhân tính: “có nhiều hơn” mà không “trở nên tốt hơn”. Trong diễn biến như vậy, có nguy cơ các cá nhân sẽ được đánh giá chủ yếu dựa trên kết quả mà họ tạo ra. [122]
95. Ở đây, chúng ta phải nhận ra một khía cạnh quan trọng khác mà tôi đã lưu ý trên kia. Trong nhiều trường hợp trong bối cảnh kỹ thuật số, quyền kiểm soát các nền tảng, hạ tầng, dữ liệu và năng lực tính toán không thuộc về các Nhà nước, mà thuộc về các tác nhân kinh tế và công nghệ lớn. Các thực thể này thực sự thiết lập các điều kiện truy cập, ấn định các quy tắc hiển thị và định hình chính các khả năng tham gia. Khi quyền lực như vậy tập trung trong tay một số ít người, nó có xu hướng trở nên mờ ám và né tránh sự giám sát của công chúng, làm tăng nguy cơ về các hình thức phát triển méo mó, dẫn đến những sự lệ thuộc, những loại trừ, thao túng và bất bình đẳng mới.
96. Đứng trước sự tập trung quyền lực này trong thế giới kỹ thuật số, các tiêu chí để phán xét và phân định trong tình huống mới này là các nguyên tắc vàng của Học thuyết Xã hội: phẩm giá bất khả nhượng của con người, công ích, mục đích phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, sự liên đới và công bằng xã hội. Chúng đòi hỏi chúng ta phải đánh giá xem liệu sức mạnh của các hạ tầng kỹ thuật số và các thuật toán có thực sự thúc đẩy sự tham gia và trách nhiệm, bảo vệ những người dễ bị tổn thương, bảo đảm sự tiếp cận công bằng các cơ hội và luôn hướng tới lợi ích của tất cả mọi người hay không. Trên cơ sở này, giờ đây chúng ta có thể khảo sát kỹ hơn trí tuệ nhân tạo là gì, những khả năng mà nó mở ra và những rủi ro gắn liền với nó.
Trí tuệ nhân tạo
97. Ở đây, tôi không có ý định đưa ra một đối sách toàn diện liên quan đến trí tuệ nhân tạo, cũng như không đưa ra một cái nhìn tổng quan về các tài liệu liên quan rộng lớn, vì đã có những đóng góp có thẩm quyền, kể cả trong bối cảnh Giáo hội. [123] Tôi chỉ giới hạn mình ở việc nhắc lại một vài yếu tố thiết yếu cho một sự phân định đạo đức và xã hội nhằm bảo vệ tính ưu việt của con người, để bảo đảm rằng chính trí tuệ con người, với lương tâm và tự do của nó, sẽ luôn hướng dẫn những đổi mới kỹ thuật và xác định một cách có trách nhiệm việc sử dụng cũng như giới hạn của chúng.
98. Để bước vào cuộc thảo luận này, nên nêu hai điểm cần lưu ý. Thứ nhất, bất kỳ tuyên bố nào liên quan đến AI đều có nguy cơ nhanh chóng trở nên lỗi thời, do tốc độ phát triển đáng kể của các hệ thống này. Thứ hai, tất cả chúng ta, kể cả những người thiết kế chúng, đều chỉ hiểu biết rất hạn chế về cách thức hoạt động thực tế của chúng. Thật vậy, các hệ thống AI hiện nay được “phát huy” nhiều hơn là “xây dựng”, vì các nhà phát triển không trực tiếp thiết kế từng chi tiết, mà thay vào đó tạo ra một khuôn thức trong đó trí tuệ “phát triển”. Kết quả là, các khía cạnh khoa học cơ bản - chẳng hạn như các biểu thị nội bộ (internal representations) và các quy trình tính toán của những hệ thống này - hiện vẫn chưa được biết đến. Do đó, xuất hiện một nhu cầu cấp thiết về một cam kết hai mặt: một mặt, một sự đào sâu nghiên cứu khoa học; mặt khác, thực hành sự phân định đạo đức và tâm linh.
99. Không thể đưa ra một định nghĩa duy nhất, toàn diện về Trí tuệ Nhân tạo (AI). Tuy nhiên, điều có thể khẳng định là chúng ta phải tránh quan niệm sai lầm khi đánh đồng loại “trí tuệ” này với trí tuệ của con người. Các hệ thống này chỉ đơn thuần bắt chước một số chức năng nhất định của trí tuệ con người. Khi làm như vậy, chúng thường vượt trội hơn trí tuệ con người về tốc độ và khả năng tính toán, mang lại lợi ích hữu hình trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, sức mạnh này vẫn hoàn toàn gắn với việc xử lý dữ liệu. Cái gọi là trí tuệ nhân tạo không trải qua những kinh nghiệm, không có cơ thể, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành thông qua các mối tương quan và không hiểu từ bên trong ý nghĩa của tình yêu, công việc, tình bạn hay trách nhiệm. Chúng cũng không có lương tâm đạo đức, vì chúng không phán xét thiện ác, không nắm bắt được ý nghĩa cuối cùng của các tình huống, hoặc chịu trách nhiệm về các hậu quả. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và các kỹ năng phân tích, hay thậm chí mô phỏng sự đồng cảm và thấu hiểu, nhưng chúng không hiểu những gì chúng tạo ra, vì chúng thiếu góc nhìn về tình cảm, mối quan hệ và tâm linh mà qua đó con người trưởng thành trong sự khôn ngoan. Ngay cả khi những công cụ này được mô tả là có khả năng “học hỏi”, cách thức học hỏi của chúng cũng khác với con người. Đó không phải là kinh nghiệm của những người cho phép bản thân được cuộc sống định hình và trưởng thành theo thời gian xuyên qua những lựa chọn, sai lầm, sự tha thứ và lòng trung thành. Thay vào đó, nó là một hình thức thích ứng thống kê dựa trên dữ liệu và phản hồi, có thể rất hiệu quả, nhưng không hàm ý sự trưởng thành bên trong.
Một công cụ quý giá đòi hỏi sự cảnh giác
100. Dựa trên những điều đã nói, chúng ta có thể hiểu rõ hơn tại sao AI có thể là một công cụ quý giá và đồng thời, tại sao nó đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng và có chừng mực. Trong những năm gần đây, việc sử dụng AI trong đời sống cá nhân đã mở rộng đáng kể, thúc đẩy sự suy ngẫm nhiều hơn về cả những cơ hội mà nó mang lại lẫn những rủi ro gắn liền với sự lan rộng nhanh chóng của nó. Trong sử dụng cá nhân, cách riêng ba khía cạnh cần được xem xét kỹ: sự dễ dàng trong việc thu được kết quả, ấn tượng về tính khách quan, và sự mô phỏng giao tiếp của con người. Tốc độ và sự đơn giản trong việc truy cập thông tin, các phân tích phức tạp, nội dung truyền thông và sự hỗ trợ thực tiễn rõ ràng làm cho cuộc sống dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chúng cũng có thể khuyến khích sự phụ thuộc thái quá cũng như việc tìm kiếm các câu trả lời có sẵn, đồng thời làm suy yếu khả năng sáng tạo và phán đoán cá nhân. Tính khách quan bề ngoài của các phản hồi và các đề xuất mà những hệ thống này cung cấp có thể khiến chúng ta bỏ qua thực tế rằng chúng phản ánh những giả định văn hóa của những người đã thiết kế và huấn luyện chúng, với tất cả những điểm mạnh và hạn chế của họ. Việc bắt chước nhân tạo sự giao tiếp tích cực của con người - những lời khuyên, sự đồng cảm, tình bạn và thậm chí cả tình yêu - có thể hấp dẫn và đôi khi thực sự hữu ích. Tuy nhiên, đối với những người dùng kém tinh ý hơn, nó cũng có thể dẫn dắt sai, tạo ra ảo tưởng về một tương quan với một chủ thể cá vị thực sự. Khi các lời nói được mô phỏng, chúng không xây dựng được các tương quan chân thực, mà chỉ là vẻ bề ngoài. Việc bắt chước nhân tạo sự quan tâm hoặc hỗ trợ có thể trở nên đặc biệt rủi ro khi nó xuất hiện trong các bối cảnh thiếu các mối tương quan thực sự và các gắn kết tình cảm. Ở đây, nguy hiểm không phải là việc một người có thể tin rằng họ đang giao tiếp với một người khác, mà là họ có thể dần dần đánh mất chính mong muốn hình thành các kết nối con người thực sự.
101. Mở rộng quan điểm của chúng ta về việc sử dụng AI trong xã hội, chúng ta thấy rằng nó hiện đang được đưa vào các quy trình ra quyết định trong nhiều lĩnh vực và ở nhiều cấp độ: trong giao tiếp, quản lý và kiểm soát. Những lợi ích về hiệu quả và tiềm năng cải thiện một số dịch vụ là rõ ràng, tuy nhiên việc áp dụng chúng một cách nhanh chóng và thiếu cân nhắc sẽ khiến chúng ta phải đối mặt với một loạt rủi ro, bao gồm cả xu hướng bỏ qua tác động đến môi trường. Các hệ thống AI hiện tại đòi hỏi một lượng năng lượng và nước khổng lồ, ảnh hưởng đáng kể đến lượng khí thải carbon dioxide và đặt ra những yêu cầu nặng nề đối với tài nguyên thiên nhiên. Khi độ phức tạp của chúng tăng lên, đặc biệt là trong trường hợp các mô hình ngôn ngữ lớn, nhu cầu về sức mạnh tính toán và dung lượng lưu trữ cũng tăng lên, điều này đòi hỏi một mạng lưới rộng lớn về máy móc, cáp, trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng tiêu tốn nhiều năng lượng. Vì lý do này, điều cần thiết là phải phát triển các giải pháp công nghệ bền vững hơn nhằm giảm tác động đến môi trường và giúp bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. [124]
Trách nhiệm, tính minh bạch và sự quản trị AI
102. Việc sử dụng AI không bao giờ chỉ là vấn đề thuần túy kỹ thuật: khi nó đi vào các quy trình ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, nó tác động đến các quyền, các cơ hội, địa vị và sự tự do. Các quyết định quan trọng và nhạy cảm - liên quan đến việc làm, tín dụng, sự tiếp cận các dịch vụ công cộng hay thậm chí thanh danh của một người - có nguy cơ bị giao hoàn toàn cho các hệ thống tự động không biết đến “lòng trắc ẩn, sự thương xót, sự tha thứ, và trên hết là niềm hy vọng rằng con người có thể thay đổi,” [125] và do đó có thể dẫn đến các hình thức loại trừ mới. Có những cách sử dụng rõ ràng có hại, chẳng hạn như sự thao túng thông tin hay những vi phạm quyền riêng tư. Tuy nhiên, cũng có một mối nguy hiểm tinh vi hơn, bởi vì khi các hệ thống AI tự thể hiện mình là trung lập và khách quan, chúng cuối cùng lại phản ánh và củng cố các khuôn mẫu hay các thành kiến ý thức hệ của những người thiết kế và phát triển chúng.
103. Thật vậy, trong thực tế việc giao phó cho một thuật toán quyền lựa chọn ai xứng đáng hay không, mà không ai chịu trách nhiệm về phán xét đó, là giao phó nhiệm vụ định nghĩa lại các ranh giới của khả năng con người. Trong quá trình này, trách nhiệm chính trị cũng bị mất đi, chứ không chỉ là sự đồng cảm đối với những người bị loại trừ, điều mà xét cho cùng cũng có thể được giả tạo. Việc loại trừ những người dễ bị tổn thương được che đậy bằng một lớp vỏ bọc trung lập và khách quan, khiến việc phản đối nó cũng trở nên khó khăn. Bằng cách này, sự bất công không bị chú ý, và lòng trắc ẩn, xót thương và tha thứ - được hiểu không chỉ là những vẻ bề ngoài mà là những hành động chính trị thực sự - sẽ dần dần biến mất khỏi tầm nhìn.
104. Từ đó dẫn đến một hệ quả đơn giản nhưng đầy thuyết phục: chúng ta không thể coi AI là trung lập về mặt đạo đức. Trong thực tế, mọi công cụ kỹ thuật đều thể hiện các lựa chọn và các ưu tiên thông qua những gì nó đo lường, bỏ qua và tận dụng, và cách nó phân loại con người và các tình huống. Nếu một hệ thống được thiết kế hoặc sử dụng theo cách đối xử với một số cuộc sống như là kém giá trị, hoặc loại trừ họ mà không có khả năng khiếu nại, thì nó không chỉ đơn thuần là một công cụ “để sử dụng tốt”, vì nó đã đưa ra các tiêu chí mâu thuẫn với phẩm giá bất khả nhượng của con người. Vì lý do này, sự phân định đạo đức không thể chỉ giới hạn ở việc chất vấn liệu chúng ta đang sử dụng một hệ thống cho những mục đích tốt hay xấu; nó cũng phải xem xét cách mà hệ thống đó được thiết kế, và xem xét tầm nhìn nào về con người và xã hội được đưa vào các dữ liệu và các mô hình hướng dẫn nó. [126]
105. Để AI tôn trọng phẩm giá con người và thực sự phục vụ công ích, trách nhiệm phải được xác định rõ ràng ở mọi giai đoạn: từ những người thiết kế và phát triển các hệ thống này đến những người sử dụng chúng và dựa vào chúng để đưa ra các quyết định cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các quy trình nội bộ dẫn đến kết quả vẫn còn mơ hồ, khiến việc phân công trách nhiệm và sửa lỗi trở nên khó khăn hơn. Chính ở đây trách nhiệm giải trình trở nên quan trọng: khả năng nhận diện ai phải “chịu trách nhiệm” về các quyết định, biện minh cho chúng, giám sát chúng và, khi cần thiết, thách thức chúng và khắc phục mọi thiệt hại gây ra. [127]
106. Việc kêu gọi sự thận trọng, sự nghiêm khắc đánh giá, và ngay cả, đôi khi, một tốc độ tương đối chậm trong việc ứng dụng AI không có nghĩa là chống lại sự tiến bộ; đúng hơn, đó là thực thi trách nhiệm đối với gia đình nhân loại. Nhu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn khi thường xuyên xảy ra sự mất cân bằng giữa tốc độ tăng trưởng công nghệ và sự phát triển chậm hơn của nhận thức, các chuẩn mực, các biện pháp bảo vệ và các cơ chế có khả năng quản lý tác động của nó. Thật là không đủ việc chỉ nại đến đạo đức một cách trừu tượng; cần phải có các khuôn khổ pháp lý vững chắc, sự giám sát độc lập, người dùng được thông tin đầy đủ, và một hệ thống chính trị không thoái thác trách nhiệm của mình. Nếu không, sự thay đổi sẽ được quản lý chỉ bởi tư duy kỹ trị và được trình bày như là cần thiết và tất yếu, rốt cục áp đặt các quy tắc được định hình bởi những người kiểm soát dữ liệu, cơ sở hạ tầng và năng lực tính toán.
107. Chúng ta không thể hài lòng với việc chỉ kêu gọi đạo đức hóa các máy móc - điều gọi là "sự phù hợp" của AI với các giá trị con người - mà không có đủ can đảm để nhấn mạnh một điều kiện nữa: khả năng thảo luận công khai về các khuôn khổ đạo đức liên quan và đưa chúng vào các tiêu chuẩn chung của công bằng xã hội. Nếu không, những người kiểm soát AI sẽ áp đặt tầm nhìn đạo đức của riêng họ, điều sẽ trở thành hạ tầng vô hình của các hệ thống này. Một trí tuệ nhân tạo (AI) có đạo đức hơn là chưa đủ nếu tính đạo đức ấy được ấn định bởi một số ít người. Điều cần thiết là một sự tham gia chính trị tích cực hơn, có khả năng điều tiết mọi thứ chậm lại khi mọi thứ đang tăng tốc, và bảo vệ các cơ hội cho các cộng đồng vẫn có thể tham gia và chất vấn.
108. Trong thực tế, cũng như đối với mọi sự chuyển đổi công nghệ lớn, AI có xu hướng khuếch đại quyền lực của những người đã sở hữu nguồn lực kinh tế, chuyên môn và quyền truy cập dữ liệu. Dưới ánh sáng của công ích và mục đích phổ quát của của cải, điều này làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng, vì các nhóm nhỏ nhưng có ảnh hưởng lớn có thể định hình các phương thức thông tin và tiêu thụ, ảnh hưởng đến các quy trình dân chủ và điều khiển động lực kinh tế theo hướng có lợi cho họ, làm suy yếu công bằng xã hội và sự liên đới giữa các dân tộc. Vì lý do này, thật thiết yếu việc sử dụng AI, đặc biệt khi nó liên quan đến dịch vụ công cộng và các quyền cơ bản, phải được hướng dẫn bởi các tiêu chí rõ ràng và sự giám sát hiệu quả, dựa trên sự tham gia và nguyên tắc bổ trợ. Các cộng đồng và các tổ chức trung gian không được bị giảm xuống thành những người thụ động tiếp nhận các quyết định được đưa ra ở nơi khác; họ phải có thể đóng góp vào việc phân biệt và giám sát. Hơn nữa, quyền sở hữu dữ liệu không thể chỉ đặt trong tay tư nhân mà phải được điều chỉnh một cách thích hợp. Dữ liệu là sản phẩm của nhiều người đóng góp và không nên được coi là thứ để bán đi hoặc giao phó cho một số ít người được chọn. Cần phải suy nghĩ một cách sáng tạo để quản lý dữ liệu như một tài sản chung hay được chia sẻ, với tinh thần tham gia, như thánh Gioan Phaolô II đã gợi ý liên quan đến tài sản tập thể. [128]
109. Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội cung cấp một khuôn thức để hiểu thực tế mới này. Trong một thế giới nơi dữ liệu, tài nguyên tính toán và ảnh hưởng điều tiết vẫn nằm trong tay một số ít người, thì nói về lợi ích chung có nghĩa là vạch trần hình thức mới này của sự bất đối xứng về nhận thức, kinh tế và chính trị và gọi tên các độc quyền mới của AI. Nói về mục đích phổ quát của của cải có nghĩa là tìm cách bảo đảm quyền truy cập phổ quát về cả công nghệ lẫn giáo dục cần thiết để sử dụng chúng. Nói về tính bổ trợ, đó là kêu gọi việc bảo vệ khả năng của các cộng đồng trong việc đưa ra những sự lựa chọn và sửa chữa, thay vì giới hạn vai trò của họ chỉ là giám sát sau khi các tiêu chuẩn đã được thiết lập ở nơi khác. Nói về sự liên đới, đó là đòi chúng ta phải nhận ra những người lao động ẩn danh, thường bị bóc lột, những người duy trì các hệ thống thuật toán. Nói về công bằng, đó là đòi phải chất vấn về sự phân bổ quyền lực toàn cầu vốn quyết định ai thực sự có thể đào tạo những mô hình này và ai chỉ đơn thuần là bị chúng chi phối. Tương tự, điều đó có nghĩa là thừa nhận rằng công bằng xã hội không chỉ là mục tiêu cần được bảo vệ sau khi công nghệ được triển khai, mà còn là một điều kiện phải định hình chính khâu thiết kế từ ban đầu của chúng.
110. Cuối cùng, tôi muốn sử dụng cụm từ “giải giáp”, một cụm từ rất gần gũi với trái tim tôi. Giải giáp AI có nghĩa là giải phóng nó khỏi não trạng chạy đua “vũ trang”, điều mà ngày nay không chỉ giới hạn trong bối cảnh quân sự, mà còn là một hiện tượng kinh tế và nhận thức. Điều này gắn với một cuộc chạy đua để có được các thuật toán ngày càng mạnh mẽ hơn và các tập dữ liệu đồ sộ hơn, được thúc đẩy bởi mong muốn bảo đảm sự thống trị về địa chính trị hoặc thương mại. Giải giáp có nghĩa là bác bỏ giả định rằng sức mạnh kỹ thuật sẽ tự động mang lại quyền cai trị. Giải giáp không có nghĩa là từ chối công nghệ, mà là ngăn chặn nó thống trị con người. Nó có nghĩa là giải phóng công nghệ khỏi sự kiểm soát độc quyền và mở ra cho thảo luận và tranh luận, nhờ đó làm cho nó thân thiện với con người và khôi phục nó vào sự đa dạng của các nền văn hóa và các lối sống của con người. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là về đạo đức hay kỹ thuật. Nó mang tính sinh thái theo nghĩa sâu xa nhất, bởi vì nó liên quan đến một chiều kích mới của ngôi nhà chung của chúng ta. AI đã là một môi trường mà chúng ta đang lọt trong đó, cũng như một thế lực mà chúng ta phải tương tác. Vì lý do này, việc chỉ điều chỉnh nó là không đủ; nó phải được giải giáp, trở nên thân thiện và dễ tiếp cận.
111. Tôi muốn gửi lời kêu gọi đặc biệt đến những người phát triển trí tuệ nhân tạo. Theo một nghĩa nào đó, sự đổi mới công nghệ có thể nói lên sự tham gia của con người vào hành động sáng tạo của Thiên Chúa. Do đó, các nhà phát triển phải gánh vác một trách nhiệm đạo đức và tâm linh đặc biệt, bởi vì mỗi lựa chọn thiết kế đều phản ánh một tầm nhìn về nhân tính. Cũng như người sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật hay văn học phải xem xét các giá trị mà nó chuyển tải, thì các nhà phát triển cũng được kêu gọi phải đưa các giá trị vào các dự án của mình một cách nghiêm túc: với sự minh bạch, với trách nhiệm đối với các cộng đồng nhận ảnh hưởng, và với sự chú ý cẩn thận để bảo đảm rằng điều đang được phát huy là một điều tốt đẹp thực sự.
Điều không được để mất
112. Sau khi xem xét các vấn đề về trách nhiệm và sự quản trị AI, giờ đây chúng ta phải quay trở lại câu hỏi trung tâm của mình: bảo vệ nhân tính của chúng ta có nghĩa là gì? Sự rủi ro vượt quá cả việc sử dụng sai trái một số công nghệ nào đó. Nghiêm trọng hơn, kiểu thức kỹ trị lan rộng mà chúng ta đang lọt thỏm trong đó, và nó được khuếch đại bởi cuộc cách mạng kỹ thuật số và AI, đang đe dọa bình thường hóa một tầm nhìn chống lại con người. Trong tầm nhìn đó, sự viên mãn của cuộc sống được đánh đồng với việc sở hữu nhiều hơn, giảm thiểu điểm yếu, loại bỏ sự không chắc chắn, và thực hiện quyền kiểm soát hoàn toàn. Khi hiệu năng trở thành thước đo giá trị tối thượng, con người dễ bị cám dỗ coi mình như một dự án cần được khai thác hơn là như những nhân vị được kêu gọi để tương quan và hiệp thông.
113. Trong thực tế, việc nâng bất kỳ chiều kích nào của hiện sinh con người lên mức tuyệt đối luôn là một sai lầm. Thật vậy, sự hỗn loạn không chỉ phát sinh từ sự khan hiếm; ngay cả sự tăng trưởng không kiểm soát cũng có thể gây ra sự bần cùng. Trong một hệ sinh thái, sự cân bằng bị phá vỡ khi một loài bành trướng bằng cách bắt các loài khác phải trả giá; trong cuộc sống con người, điều tương tự xảy ra khi một năng lực nào đó tự cho mình là thước đo của mọi thứ. Do đó, trí thông minh, khi được tuyệt đối hóa, sẽ che khuất các chiều kích thiết yếu khác của cuộc sống, chẳng hạn như tình cảm, ý chí, sự dấn thân và các mối tương quan. Tương tự, sức mạnh kỹ thuật, nếu không được cân bằng, sẽ không làm cho chúng ta có khả năng hơn; nó làm cho chúng ta bị cô lập hơn, yếu đuối hơn và do đó dễ bị thống trị và bị loại trừ. Điểm quan trọng này không chống lại trí thông minh, mà là lời nhắc nhở rằng khi trí thông minh trở nên tự quy chiếu, thì mục đích thực sự của nó - là phục vụ sự sống và con người - sẽ bị mất đi.
114. Chất lượng của một nền văn minh không được đo bằng sức mạnh của các phương tiện, mà bằng sự quan tâm mà nó có thể cung ứng, bằng khả năng nhận ra người khác như một con người chứ không chỉ là một chức năng. Khả năng quan tâm đến nhau là một chiều kích nền tảng của nhân tính, một chiều kích được học hỏi và hoàn thiện xuyên qua kinh nghiệm sống. Đọc truyện cho trẻ em, bầu bạn với người già và sắp xếp nhà cửa sao cho ấm cúng là những cử chỉ đơn giản thường bắt nguồn từ cuộc sống gia đình. Chúng dạy chúng ta trân trọng sự quan tâm ở cấp độ xã hội và rèn luyện chúng ta nhận ra người khác là những con người đáng được quan tâm. Công nghệ cũng có thể hỗ trợ sự quan tâm lẫn nhau giữa con người, ví dụ, bằng cách cung cấp các công cụ giúp chúng ta dự đoán và sắp xếp mọi việc, mà không làm suy yếu tự do và khả năng phán đoán của con người. Xét cho cùng, con người là chủ thể của các mối tương quan và chịu trách nhiệm về các quyết định của chính mình.
Những diễn ngôn nền: chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân bản
115. Trong nỗ lực làm sáng tỏ những giả định văn hóa đi kèm với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra, tôi muốn chuyển sự chú ý của chúng ta đến một số dòng tư tưởng diễn giải sự tiến bộ như vượt qua điều kiện của con người, và thường được gộp lại dưới các nhãn hiệu chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân bản. Những quan điểm này tạo thành bối cảnh ý thức hệ hiện diện trong một số trung tâm quyền lực công nghệ và chiếm lĩnh trí tưởng tượng tập thể dưới một dạng đơn giản hóa, đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Chúng có xu hướng thúc đẩy sự nhiệt tình đối với các công nghệ mới xuyên qua một tầm nhìn tương lai về một “con người được gia cố” hay “hỗn hợp người-máy”.
116. Chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân bản bao gồm một loạt các dòng tư tưởng và cảm nhận, gây khó khăn cho việc định nghĩa chúng theo một cách duy nhất và rõ ràng. Chúng có thể được ví như một quần đảo gồm các “đảo” khái niệm, riêng biệt nhưng được kết nối bởi một “biển” giả định chung, cụ thể là vai trò trung tâm của công nghệ và khát vọng vượt qua những giới hạn của điều kiện con người. Nhìn chung, chủ nghĩa siêu nhân hình dung việc nâng cao con người thông qua các công nghệ - chẳng hạn như y sinh học, kỹ thuật cơ thể, các thiết bị và các thuật toán - với mục đích tăng cường hiệu suất và khả năng. Chủ nghĩa hậu nhân bản, đặc biệt là ở các hình thức cực đoan hơn, còn đi xa thêm: nó thách thức chủ nghĩa qui nhân và hình dung sự lai ghép giữa con người, máy móc và môi trường, thậm chí còn dự đoán một ngưỡng mà nhân loại vượt qua chính mình trong một giai đoạn tiến hóa mới. Ngay cả khi những ý tưởng như vậy vẫn chủ yếu mang tính suy đoán, chúng vẫn có được sự phù hợp bằng việc thay đổi hình dung của tập thể và do đó ảnh hưởng đến các lựa chọn xã hội, kinh tế và chính trị. [129]
117. Từ quan điểm của Học thuyết Xã hội của Giáo hội, vấn đề chủ chốt không phải là chính việc sử dụng công nghệ, mà là tầm nhìn nằm dưới nó. Nếu con người được đối xử như thứ gì đó cần được hoàn thiện hoặc vượt qua, thì người ta sẽ dễ dàng chấp nhận rằng một số cuộc sống ít hữu ích hơn, ít được mong muốn hơn hoặc ít xứng đáng hơn. Nhân danh sự tiến bộ, “những hy sinh cần thiết” có thể bắt đầu được biện minh, đặt gánh nặng lên những người dễ bị tổn thương nhất trong việc theo đuổi cái được cho là sự tối ưu hóa giống loài. Về khía cạnh này, lời cảnh báo trên kia của thánh Phaolô VI vẫn giữ nguyên giá trị tiên lượng: quả thực, những tiến bộ khoa học và công nghệ, khi tách rời khỏi sự tiến bộ về đạo đức và xã hội, cuối cùng sẽ chống lại nhân tính. [130] Vì lý do này, cần phải có sự phân biệt rõ ràng. Việc tích hợp công nghệ vào một tầm nhìn có tính liên hệ và lấy con người làm trung tâm, đó là một chuyện; việc được hướng dẫn bởi một quan điểm coi thường những giới hạn của con người và hứa hẹn một hình thức “cứu rỗi” thuần túy có tính kỹ thuật, đó lại là một chuyện hoàn toàn khác.
Giới hạn, trái tim và sự cao trọng của con người
118. Mối tương quan của chúng ta với cuộc sống dường như đang gặp khủng hoảng ngày nay. Mọi thứ có vẻ như một “giới hạn” - sự bất lực, bệnh tật, tuổi già, đau khổ, dễ bị tổn thương - có xu hướng được xem chủ yếu là một khiếm khuyết cần được sửa chữa, hơn là một thực tại mà qua đó nhân tính của chúng ta trưởng thành và mở ra cho tương quan. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng nhân tính triển nở không phải bất chấp những hạn chế, mà thường là thông qua chúng. Ánh sáng của đức tin cung cấp một góc nhìn về thực tại giúp chúng ta nhận ra điều mà chúng ta gọi là “sự bất trắc” của những thứ thuộc về thế giới này. Mặc dù việc nỗ lực làm giảm bớt nỗi đau khổ gắn với cuộc sống con người là điều đúng đắn, nhưng cũng nên thừa nhận sự hữu hạn cơ bản của chúng ta, biết rằng “kinh nghiệm tôn giáo, cách riêng là đức tin Kitô giáo, đề xuất rằng chúng ta sống - mà không đơn giản hóa quá mức - sự hàm hồ này giữa sự vĩ đại và giới hạn của con người, diễn giải nó dưới ánh sáng mối tương quan nguyên thủy và nền tảng của chúng ta với Thiên Chúa.” [131]
119. Chính trong những giới hạn của mình mà chúng ta hiểu ý nghĩa của những điều sau đây: lòng trắc ẩn, cũng như sự quan tâm chân thành đến nhu cầu của người khác; lòng quảng đại, có thể nảy sinh ngay cả giữa bóng tối và thất bại; kinh nghiệm tâm linh và sự thờ phượng Thiên Chúa. Chúng ta hiểu điều này ở nhiều khoảnh khắc khi những giới hạn của chúng ta được thấy rõ: khi chúng ta bị từ chối, khi chúng ta chịu đựng bệnh tật hay sự mất mát người thân yêu, khi chúng ta gặp phải điểm yếu hoặc thất bại của chính mình. Một cách kỳ diệu, chính trong những khoảnh khắc như vậy mà chúng ta có thể khám phá ra một sự khôn ngoan mới, cảm nhận rõ ràng sự gần gũi của người khác và gặp gỡ sự hiện diện của Chúa.
120. Ngay cả khi những giới hạn được kinh nghiệm như nỗi đau khổ nội tâm, sự khôn ngoan con người dạy chúng ta không nên phủ nhận hay kìm nén nó, mà phải hội nhập nó. Loại bỏ hoàn toàn đau khổ cuối cùng cũng có nghĩa là dập tắt cả tình yêu và khát vọng. Những người yêu thương và khao khát không thể tránh việc trải qua thử thách và đau khổ; và qua nhiều năm tháng, chúng ta mang trong mình những bài học để lại dấu ấn như những vết sẹo, những ký ức về một hành trình được định hình bởi tự do và thất bại, những ước mơ và những chán nản. Chỉ nhờ sự tương tác của những yếu tố này mà những điều kỳ diệu của tâm hồn mới xảy ra bên trong chúng ta, cho phép chúng ta cảm nhận được sự phong phú của nhân tính. [132] Từ bỏ cuộc phiêu lưu này, vừa bi thảm vừa huy hoàng, nhân danh sự siêu việt được cho là vượt qua mọi giới hạn, có thể có những ý nghĩa nào đó, nhưng đó sẽ không còn là con người nữa.
121. Sự hư hỏng đạo đức của những hạn chế nơi chúng ta trong tư cách là những hữu thể thụ tạo – tức sự dữ rõ ràng khuấy động lòng người – tàn phá xã hội và cuộc sống, đôi khi đạt đến những hình thức cực đoan phi nhân tính. Nhưng ngay cả những biểu hiện đau đớn này của những hạn chế nơi chúng ta vẫn mở ra cho điều tốt đẹp. Ngay cả khi con người tự làm mình mất nhân tính và gây ra bi kịch, thì một ánh sáng nhỏ vẫn tiếp tục lóe lên bên trong con người, một ánh sáng có thể được thắp lại, với ân sủng của Chúa, trên con đường hoán cải và hòa giải. Như Viktor Frankl đã ghi nhận xác đáng, trong những khoảnh khắc kinh hoàng, “chúng ta nhận biết sự thật về con người. Sau tất cả, con người là sinh vật đã phát minh ra các phòng hơi ngạt ở Auschwitz; tuy nhiên, anh ta cũng là sinh vật đã bước vào những phòng hơi ngạt đó một cách đĩnh đạc, thầm thĩ đọc Kinh Lạy Cha hay Kinh Shema Yisrael.” [133]
122. Sự hữu hạn, khi được chân thành chấp nhận, không làm giảm giá trị của chúng ta mà mở ra cho chúng ta khuôn mặt của Thiên Chúa và tha nhân. Thật vậy, chính vì chúng ta kinh nghiệm những giới hạn – tình trạng dễ bị tổn thương, đau khổ và thất bại – mà chúng ta có thể nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người, của chính chúng ta và của người khác. Trong chính kinh nghiệm này, chúng ta vẫn có khả năng trực giác về một tình huynh đệ lớn hơn chính mình và nhận hiểu sự bất công như một điều đáng xấu hổ. Văn hóa và nghệ thuật đích thực bảo tồn tia lửa này, chống lại sự bình thường hóa sự dữ. Vì lý do này, một số tác phẩm đã mang ý nghĩa gần như tiên tri: Bản giao hưởng số 9 của Beethoven có thể được xem như một khát vọng về sự hiệp nhất; Guernica như một tố cáo sự phi nhân hóa; Danh sách Schindler như một lời kêu gọi không được lãng quên quá khứ.
123. Lịch sử không chỉ xuất hiện như một ghi chép về bạo lực của con người, mà còn như bằng chứng cho thấy nhân loại có khả năng tạo ra các cơ chế bảo vệ cuộc sống chung của chúng ta. Trong hai thế kỷ qua, điều này có thể được thấy trong một số thành tựu mang tính biểu tượng: việc thành lập Hội Chữ Thập Đỏ Quốc tế (1863), với tính trung lập trong hoạt động bảo đảm sự chăm sóc nhân ái cho tất cả mọi người; quá trình lâu dài dẫn đến việc bãi bỏ chế độ nô lệ, không chỉ tiêu biểu cho một sự thay đổi về mặt pháp lý mà còn là một sự chuyển hóa về lương tâm; việc thành lập Liên Hiệp Quốc (1945) và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948), diễn đạt rõ một ngôn ngữ chung để khẳng định, ít nhất là như một lý tưởng chung, về tính phổ quát của phẩm giá con người; và Công ước về Người Tị Nạn năm 1951, công nhận nghĩa vụ bảo vệ những người chạy trốn khỏi sự đàn áp và nguy hiểm. Trong mỗi trường hợp này, khát vọng điều tốt đẹp đã được thể hiện cụ thể trong các bối cảnh công cộng - luật pháp, thể chế và thực hành - có khả năng hạn chế việc lạm dụng quyền lực và bảo vệ những người dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, không một sự phát triển nào trong số này diễn ra mà không gặp phải sự phản kháng, những lợi ích hẹp hòi, hay sự trì trệ thuộc văn hóa. Tiến bộ về mặt đạo đức hầu như luôn diễn ra xuyên qua một hành trình dài và đầy cam go, thường được đánh dấu bằng những cản ngại. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến các tiến trình hòa bình bị đình trệ hoặc việc thực hiện chậm chạp các cam kết về môi trường. Chính sự mong manh của những thành tựu này càng cho thấy trách nhiệm của những người khởi xướng và duy trì chúng thật quí giá biết bao.
124. Một số sự kiện cho thấy rõ rằng lịch sử cũng có thể thay đổi khi các cá nhân thực sự coi trọng phẩm giá của mọi người: phong trào dân quyền ở Hoa Kỳ, gắn liền với lời chứng của Martin Luther King Jr., hay sự chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi sau khi Nelson Mandela được trả tự do và quyết tâm của ông không thí nộp tương lai cho lòng thù hận. Trong những bối cảnh khác nhau, nhiều phụ nữ dũng cảm và quảng đại cũng được thấy nổi bật, bao gồm thánh Laura Montoya, thánh Teresa thành Calcutta, Dorothy Day, Marie Skłodowska-Curie, Maria Montessori, Elisabeth Elliot, Wangari Maathai, Benazir Bhutto và vô số những người khác từ mọi châu lục, những người mà sự cống hiến của họ đã góp phần làm cho lịch sử trở nên nhân văn hơn.
125. Bên cạnh những dấu chỉ công khai này, còn có một câu chuyện kín đáo nhưng mang tầm quyết định hơn. Chúng ta thấy điều đó ở các cộng đoàn tu sĩ chọn phục vụ ở những nơi nghèo khó và nguy hiểm. Chúng ta cũng thấy điều đó ở các vị tuẫn đạo của tình huynh đệ và công lý, chẳng hạn như thánh Maximilian Mary Kolbe, thánh Oscar Romero và Chân phước Enrique Angelelli; và nơi những chứng nhân đã thể hiện niềm hy vọng của Tin Mừng cũng như phẩm giá con người giữa những điều kiện khắc nghiệt, thường là vô nhân đạo, như Đấng đáng kính Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Trên hết, điều đó được thấy rõ ở những “vị tuẫn đạo của đời sống thường nhật” – những người chăm sóc, giáo dục, đồng hành và an ủi mà không phô trương, như các bậc cha mẹ, y tá, bác sĩ, tình nguyện viên và những người ở bên cạnh người già hoặc người bị ruồng bỏ. Chứng từ của họ cho thấy rằng lòng tốt không tự nhiên mà có, mà cần sự kiên trì, cần ký ức và sự hoán cải nội tâm cần thiết để bắt đầu lại, ngay cả sau thất bại.
126. Chính sự đan kết này của các cơ chế công lý, những chứng nhân đáng tin cậy, và sự trung thành hằng ngày đã nâng đỡ niềm hy vọng và cung cấp hướng đi rõ ràng cho sự tiến bộ công nghệ mà không cho phép trái tim đi thụt lùi. Vì lý do này, nhân tính - với tất cả sự cao cả và tổn thương của nó - không bao giờ bị thay thế hoặc vượt qua. Chúng ta có thể đón nhận sự tiến bộ công nghệ giúp giảm bớt đau khổ và mở ra những khả năng mới, miễn là chúng ta không từ bỏ chính yếu tính của nhân tính, đó là khả năng tương quan và yêu thương. Điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng: nếu tồn tại thật sự cái “hơn cả con người”, thì nó được tìm thấy ở đâu? Đức tin Kitô giáo trả lời câu hỏi đó bằng cách chỉ ra một sự viên mãn không phát sinh từ sự thần thánh hóa công nghệ, mà thông qua ân sủng của Thiên Chúa được đón nhận trong Chúa Kitô.
Cái đích thực “hơn cả con người”: ân sủng và nhân bản Kitô giáo
127. Cụm từ “hơn cả con người” không phải là một lĩnh vực độc quyền của lời hứa công nghệ. Trong nhiều thế kỷ, truyền thống Kitô giáo đã khẳng định rằng con người không bị giới hạn bởi những ranh giới của bản tính riêng của mình; thay vào đó, họ được kêu gọi siêu vượt trên chính mình, không phải qua việc trốn tránh thực tại hay coi thường những giới hạn của mình, mà qua sự viên mãn của mình trong tình yêu. Đức tin nhìn nhận một sự mở ra cho sự “vượt quá”, bắt nguồn từ một ân ban của Thiên Chúa. Sự biến đổi này là công trình của Chúa Thánh Thần. Như thánh Tôma Aquinô đã dạy, quá trình nâng cao và biến đổi này “vượt qua mọi khả năng của bản tính thụ tạo”, [134] vì một khoảng cách vô hạn ngăn cách bản tính hữu hạn của chúng ta với sự sống của Thiên Chúa. [135] Tuy nhiên, vẫn có thể bước vào trung tâm của sự sống vô tận đó, ngay cả khi chúng ta bước đi xuyên qua những giới hạn của thế giới này. Người làm cho cuộc đi qua này có thể xảy ra chỉ có thể là Đấng Vĩnh Cửu, Đấng trao hiến chính mình. Thật vậy, chính Thiên Chúa là Đấng vượt qua sự bất cân xứng “vô hạn”. [136] Trong Ngài, sự tái tạo con người diễn ra. “Ai ở trong Đức Kitô, người ấy là một thụ tạo mới; mọi sự cũ đã qua đi, này, mọi sự đã trở nên mới” (2 Cr 5,17).
128. Khi chúng ta đón nhận khả năng siêu vượt trên chính mình nhờ ân sủng Thiên Chúa, chúng ta không phủ nhận bản tính của mình, cũng không trở nên ít là người hơn. Ngược lại, như Đức giáo hoàng Phanxicô đã giải thích, “Chúng ta trở nên trọn vẹn là con người khi chúng ta trở nên hơn cả con người, khi chúng ta để Thiên Chúa đưa ta vượt trên chính mình để đạt được sự thật trọn vẹn nhất của hữu thể chúng ta.” [137] Đây chính là sự vượt thoát căn bản khỏi những giấc mơ Prometheus: điều cứu rỗi con người không phải là sự tự túc được gia cố, mà là một mối tương quan có sức giải phóng, một sự hiệp thông có sức biến đổi. Trong ánh sáng này, một công nghệ duy chỉ phân loại và khai thác triệt để những gì đã tồn tại có thể - dù không hữu ý - trở thành một cản trở cho sự thay đổi và phát triển. Đối với một thuật toán, lỗi là một khiếm khuyết cần được sửa chữa; nhưng đối với một người, lỗi có thể là một xúc tác cho sự thay đổi sâu sắc. Tương lai của một người không thể tính toán được, mà phụ thuộc vào sự tự do của người đó - được nâng cao bởi ân sủng vô tận của Chúa - và tùy thuộc vào các mối tương quan được vun xới.
Hai thành phố và hai tình yêu
129. Tư tưởng nhân bản Kitô giáo không bác bỏ khoa học hay công nghệ, mà đón nhận chúng với lòng biết ơn và tinh thần hiện thực, và đặt nền tảng cho chúng trong một ơn gọi cao cả hơn. Trí tuệ sáng tạo của con người là một món quà có thể làm giảm bớt đau khổ và mở ra những khả năng mới, nhưng nó phải luôn được điều hướng nhắm tới công ích, công bằng, sự chăm sóc những người dễ bị tổn thương và công trình tạo dựng. Theo nghĩa này, sự lựa chọn thực sự không phải là giữa sự nhiệt tình và nỗi sợ hãi, mà là giữa hai con đường phát triển: một sự tiến bộ phục vụ các cá nhân và các dân tộc, hoặc một sự tiến bộ khiến họ phải phục tùng não trạng quyền lực. Cuối cùng, câu hỏi then chốt vẫn là câu hỏi do thánh Gioan Phaolô II nêu ra: liệu AI có “làm cho cuộc sống của con người trên trái đất ‘nhân văn hơn’ trong mọi khía cạnh của cuộc sống đó không? Liệu nó có làm cho cuộc sống xứng đáng với con người hơn không?” [138] Nếu câu trả lời là có, thì chúng ta có thể nhìn nhận đó là một cơ hội cần được đón nhận một cách có trách nhiệm, trên con đường kiên nhẫn cùng nhau xây dựng lại, tương tự như việc xây dựng lại Giêrusalem được kể trong sách Nơkhemia. Tuy nhiên, nếu quyền lực gia tăng trong khi trái tim héo úa và các mối liên kết giữa con người rạn nứt, thì chúng ta sẽ phải đối mặt với một hình thức tháp Babel mới - một công trình to tát nhưng về cơ bản lại phi nhân tính.
130. Việc đặt câu hỏi về khả năng con đường tiến bộ này cùng với cách chúng ta diễn giải và sống theo nó cuối cùng là vấn đề xem xét chính trái tim mình. Cách chúng ta hiểu và định hình các mối tương quan, công việc và các cơ chế, trên thực tế cho thấy các giá trị nền tảng của chúng ta. Cuối cùng, tất cả đều xuất phát từ những gì chúng ta trân trọng nhất. Đó là một tình yêu hướng dẫn chúng ta về những gì chúng ta thực sự trân quý, cả với tư cách cá nhân và xã hội, và định hướng cuộc sống và hành động của chúng ta. Thánh Augustinô đã mô tả lịch sử loài người như một cuộc đấu tranh giữa hai tình yêu, tạo ra hai cách sống trong thế giới và sống cùng nhau - hay hai “thành phố”, đó là: một mặt, tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân; mặt khác, tình yêu ích kỷ đối với bản thân. “Hai tình yêu đã xây dựng nên hai thành phố: thành phố trần gian, tình yêu bản thân đến mức khinh thường Thiên Chúa; thành phố thiên đường, tình yêu đối với Thiên Chúa đến mức khinh miệt bản thân.” [139] Cũng như trong suốt lịch sử, ngày nay hai tình yêu này tiếp tục tranh giành vị trí thống trị trong trái tim chúng ta. Thời đại AI cũng không ngoại lệ: việc xây dựng Tháp Babel hay việc xây dựng lại Giêrusalem bắt đầu từ bên trong mỗi người chúng ta.
(còn nữa)
------------------------------------------------
[1] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22: AAS 58 (1966), 1042.
[2] x. ibid., 11: AAS 58 (1966), 1033-1034.
[3] Công đồng Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 1: AAS 57 (1965), 5.
[4] x. Lê-ô XIII, Thông điệp Rerum Novarum (15.5.1891), 22: ASS 23 (1890-1891), 653.
[5] Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), 69: AAS 101 (2009), 702.
[6] Phanxicô, Thông điệp Laudato Si ’ (24.5.2015), 104: AAS 107 (2015), 888.
[7] Ibid.
[8] Thánh Augustinô, Tự thú, I, 1, 1: CCSL 27, Turnhout 1981, 1.
[9] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 183: AAS 105 (2013), 1097.
[10] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 36: AAS 58 (1966), 1054; x. Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân Apostolicam Actuositatem, 7: AAS 58 (1966), 843-844.
[11] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 44: AAS 58 (1966), 1065.
[12] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 257; AAS 105 (2013), 1123.
[13] Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư dưới dạng “Tự sắc” Socialium Scientiarum (1.1.1994): AAS 86 (1994), 209.
[14] Phanxicô, Thông điệp Laudato Si ’ (24.5.2015), 61: AAS 107 (2015), 871.
[15] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 41: AAS 80 (1988), 570-572.
[16] Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Tertio Millennio Adveniente (10.11.1994), 35: AAS 87 (1995), 27.
[17] Diễn từ với các Thành viên của Tổ chức “Centesimus Annus Pro Pontifice” (17.5.2025): AAS 117 (2025), 696.
[18] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 222: AAS 105 (2013), 1111.
[19] x. ibid., 236: AAS 105 (2013), 1115; Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 215: AAS 112 (2020), 1045-1046.
[20] Công đồng Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 13: AAS 57 (1965), 17.
[21] x. Thánh Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens (14.5.1971), 4: AAS 63 (1971), 403.
[22] x. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 243: AAS 105 (2013), 1118.
[23] x. Piô XII, Tông huấn Menti Nostrae (23.9.1950): AAS 42 (1950), 657-702.
[24] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), 5: AAS 83 (1991), 799.
[25] Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno (15.5.1931), 39: AAS 23 (1931), 189; x. Piô XII, Sứ điệp Phát thanh nhân Kỷ niệm 50 năm “Rerum Novarum”: AAS 33 (1941), 198.
[26] x. Piô XII, Diễn từ với Hồng y đoàn (24.11.1940): AAS 33 (1941), 13.
[27] x. Thánh Gioan XXIII,Thông điệp Mater et Magistra (15.5.1961), 2-3: AAS 53 (1961), 402.
[28] x. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris (11.4.1963), 87: AAS 55 (1963), 301.
[29] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes , 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.
[30] x. Công đồng Vatican II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, 2: AAS 58 (1966), 930-931.
[31] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), 14: AAS 59 (1967), 264.
[32] Ibid ., 76: AAS 59 (1967), 299.
[33] x. Thánh Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens (14.5.1971), 4-7: AAS 63 (1971); 404-406.
[34] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 36: AAS 80 (1988), 561.
[35] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14.9.1981), 19: AAS 73 (1981), 625-629.
[36] x. ibid, 10: AAS 73 (1981), 600-602.
[37] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 14: AAS 80 (1988), 526-528.
[38] x. ibid., 16: AAS 80 (1988), 531.
[39] x. ibid., 31-33: AAS 80 (1988), 555-559.
[40] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), 46: AAS 83 (1991), 850-851.
[41] x. ibid., 42: AAS 83 (1991), 844-846.
[42] Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), 21: AAS 101 (2009), 656.
[43] x. ibid., 22: AAS 101 (2009), 657.
[44] x. ibid., 24: AAS 101 (2009), 658-659.
[45] x. ibid., 36: AAS 101 (2009), 671-672.
[46] Ibid., 2: AAS 101 (2009), 642.
[47] x. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 198: AAS 105 (2013), 1103.
[48] Phanxicô, Thông điệp Laudato Si ’ (24.11.2015), 49: AAS 107 (2015), 866.
[49] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 127: AAS 112 (2020), 1013.
[50] Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24.10.2024), 167: AAS 116 (2024), 1421.
[51] x. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, Vatican City 2004, 32.
[52] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 24: AAS 58 (1966), 1045.
[53] Ibid., 22: AAS 58 (1966), 1042.
[54] x. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 38.
[55] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor Hominis (4.3.1979), 14: AAS 71 (1979), 284.
[56] x. Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), 11: AAS 101 (2009), 647-648.
[57] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor (6.8.1993), 31: AAS 85 (1993), 1159.
[58] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.
[59] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.
[60] x. Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Dignitas Infinita (2.4.2024), 7: AAS 116 (2024), 592-593.
[61] x. ibid., 8: AAS 116 (2024), 593-594.
[62] Ibid., 1: AAS 116 (2024), 589-590.
[63] x. Thánh Gioan Phaolô II, Kinh Truyền Tin với những người khuyết tật tại Nhà thờ Chính tòa Osnabrück (16.11.1980): Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. III/2, Vatican City 1980, 1232.
[64] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 152.
[65] x. Thánh Gioan Phaolô II, Diễn từ với Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 50 (5.10.1995), 2: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XVIII/2, Vatican City 1998, 731.
[66] Thánh Gioan Phaolô II, Diễn từ với Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 34 (2.10.1979), 7: AAS 71 (1979), 1148.
[67] Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 32 (1.1.1999), 3: AAS 91 (1999), 379.
[68] x. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris (11.4.1963), 5: AAS 55 (1963), 259.
[69] Thánh Phaolô VI, Sứ điệp cho Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền (15.4.1968): AAS 60 (1968), 285.
[70] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae (25.3.1995), 2: AAS 87 (1995), 402.
[71] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 27: AAS 58 (1966), 1047-1048; x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor (6.8.1993), 80: AAS 85 (1993), 1197-1198; x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae (25.3.1995), 7-28: AAS 87 (1995), 408-427.
[72] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 208: AAS 112 (2020), 1043.
[73] x. ibid., 209: AAS 112 (2020), 1043-1044.
[74] Ibid., 23: AAS 112 (2020), 977. x. Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 212: AAS 105 (2013), 1108.
[75] Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum Caritatis (22.2.2007), 83: AAS 99 (2007), 169.
[76] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes , 26, AAS 58 (1966), 1046-1047.
[77] x. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 164.
[78] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 235: AAS 105 (2013), 1115.
[79] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 105: AAS 112 (2020), 1005.
[80] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 38: AAS 80 (1988), 564.
[81] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 220: AAS 105 (2013), 1110.
[82] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 169.
[83] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 16: AAS 112 (2020), 974.
[84] x. Thánh Gioan Phaolô II, Diễn từ cho Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 50 (5.10.1995), 8: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XVIII/2, 735.
[85] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 171.
[86] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), 31: AAS 83 (1991), 831.
[87] Thánh Gioan Phaolô II, Bài giảng lễ cho các nông dân tại Recife (7.7.1980), 4: AAS 72 (1980), 926.
[88] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14.9.1981), 19: AAS 73 (1981), 626.
[89] Phanxicô, Thông điệp Laudato Si ’ (24.5.2015), 93: AAS 107 (2015), 884; x. Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 120: AAS 112 (2020), 1010.
[90] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 189: AAS 105 (2013), 1099.
[91] x. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 187.
[92] x. Lê-ô XIII, Thông điệp Rerum Novarum (15.5.1891), 26: ASS 23 (1890-1891), 656.
[93] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1 May 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.
[94] x. ibid.
[95] x. ibid., 48: AAS 83 (1991), 852-854.
[96] x. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 169: AAS 112 (2020), 1028.
[97] x. ibid., 168: AAS 112 (2020), 1027-1028.
[98] x. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), 17: AAS 59 (1967), 265-266.
[99] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 32 and 54: AAS 112 (2020), 980 and 988.
[100] x. Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), 58: AAS 101 (2009), 693-694.
[101] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.
[102] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 38: AAS 80 (1988), 564.
[103] Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.
[104] x. Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), 48: AAS 101 (2009), 685.
[105] x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 25: AAS 58 (1966), 1045-1046.
[106] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 42: AAS 80 (1988), 572-574.
[107] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 53: AAS 105 (2013), 1042.
[108] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), 36-37: AAS 80 (1988), 561-564.
[109] x. Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Người Di dân và Tị nạn lần thứ 110 (29.9.2024): AAS 116 (2024), 735.
[110] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.
[111] x. ibid., 17: AAS 59 (1967), 265-266; Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 125-127: AAS 112 (2020), 1012-1013.
[112] x. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), 14: AAS 59 (1967), 264; Bênêđictô XVI, Diễn từ với Ngoại giao đoàn (8.1.2007): AAS 99 (2007), 73; Phanxicô, Diễn từ với các Tham dự viên Hội nghị Toàn cầu lần thứ 3 Diễn đàn các Dân tộc Bản địa của Quĩ Quốc tế Phát triển Nông nghiệp (15.2.2017): AAS 109 (2017), 244-245.
[113] Văn kiện Chung kết Khóa họp thứ 2 Thượng Hội đồng Giám mục thường kỳ lần thứ 16 (26.10.2024), 17.
[114] x. ibid. , 11.
[115] x. ibid. , 103-108.
[116] x. ibid., 100-101.
[117] x. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), 94: AAS 112 (2020), 1001.
[118] x. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tuyển tập Học thuyết Xã hội của Giáo hội, 53.
[119] x. Phanxicô, Thông điệp Laudato Si ’, (24.5.2015), 106-109: AAS 107 (2015), 889-891.
[120] R. Guardini, Das Ende der Neuzeit, Würzburg 1951, 89.
[121] Thánh Phaolô VI, Diễn từ dịp Kỷ niệm 25 năm Tổ chức FAO (16.11.1970): AAS 62 (1970), 833.
[122] x. Phanxicô, Diễn từ với Hội đồng về một Chủ nghĩa Tư bản Bao gồm (11.11.2019): L’Osservatore Romano, 11-12.11.2019, 8.
[123] x. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa Giáo dục, Note Antiqua et Nova (14.1.2025): AAS 117 (2025), 159-210; Phanxicô, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 57 (8.12.2023): AAS 116 (2024), 54-64; Phanxicô, Sứ điệp Ngày Truyền thông Xã hội lần thứ 58 (24.1.2024): AAS 116 (2024), 261-266; Phanxicô, Sứ điệp cho Hội nghị G7 về Trí tuệ Nhân tạo (14.6.2024): AAS 116 (2024), 866-875; Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Nghĩ về nhân học Kitô giáo trước một số hình dung về tương lai của nhân loại (9.2.2026); Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60 (24.1.2026): L’Osservatore Romano, 24.1.2026, 2-3.
[124] x. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa Giáo dục, Ghi chú Antiqua et Nova (14.1.2025), 96: AAS 117 (2025), 201.
[125] Phanxicô, Diễn từ với các Tham dự viên Hội nghị “Đối thoại Minerva” do Bộ Văn hóa Giáo dục tổ chức (27.3.2023): AAS 115 (2023), 465.
[126] x. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa Giáo dục, Ghi chú Antiqua et Nova (14.1.2025), 41: AAS 117 (2025), 178.
[127] x. ibid., 44-45: AAS 117 (2025), 179-180.
[128] x. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), 40: AAS 83 (1991), 843.
[129] x. Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Nghĩ về nhân học Kitô giáo trước một số hình dung về tương lai của nhân loại (9.2.2026), 63.
[130] x. Thánh Phaolô VI, Diễn văn dịp Kỷ niệm 25 năm Tổ chức FAO (16.11.1970): AAS 62 (1970), 833.
[131] Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Nghĩ về nhân học Kitô giáo trước một số hình dung về tương lai của nhân loại (9.2.2026), 3.
[132] “Nếu coi thường trái tim, chúng ta cũng coi thường ý nghĩa của việc nói từ trái tim, hành động bằng trái tim, vun đắp và chữa lành trái tim. Nếu chúng ta không trân trọng tính chuyên biệt của trái tim, chúng ta sẽ bỏ hụt những thông điệp mà duy chỉ trí óc thì không thể truyền đạt; chúng ta sẽ bỏ lỡ sự phong phú của những cuộc gặp gỡ với người khác; chúng ta sẽ bỏ lỡ thi ca. Chúng ta cũng đánh mất dấu vết của lịch sử và quá khứ của chính mình, vì lịch sử con người thực của chúng ta được xây dựng bằng trái tim. Vào lúc cuối đời, chỉ điều đó mới quan trọng.” Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24.10.2024), 11: AAS 116 (2024), 1372.
[133] V. Frankl, Con người đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Một dẫn nhập vào Liệu pháp ý nghĩa, Boston 1963, 213.
[134] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 112, a. 1, co; q. 114, a, 5, co.: ed. Leonina, VII, Rome 1892, 323 and 349.
[135] x. ibid., q. 114, a. 1, co.: ed. Leonina, VII, 344.
[136] x. Thánh Tôma Aquinô, Super Boetium de Trinitate, q. 1, a. 2, ad 3: ed. Leonina, L, Rome 1992, 96; Summa Theologiae, I, q. 7, a. 1, ad 3: ed. Leonina, IV, Rome 1888, 72.
[137] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, (24.11.2013), 8: AAS 105 (2013), 1022.
[138] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor Hominis (4.3.1979), 15: AAS 71 (1979), 286-287.
[139] Thánh Augustinô, De civitate Dei, XIV, 28: CCSL 48, Turnhout 1955, 451.
...
------------------------------------------------------------------
