Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Bài Tường Thuật Cuộc Hành Hương La Vang năm 1910 Trong Báo Cáo Của Đức Cha Allys

Trong tâm tình hướng về Đại hội Hành hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 32, chúng tôi chuyển ngữ bài tường thuật cuộc hành hương La Vang vào ngày 9/8/1910 (được cho là Đại hội Hành hương La Vang lần 4), được ghi lại trong bản báo cáo mục vụ năm 1910 của Đức cha Eugène Marie Joseph Allys, vị Giám mục thứ 5 của Tổng Giáo phận Huế, gởi cho Tổng trưởng Thánh bộ Truyền bá Đức tin thời bấy giờ là Đức Hồng y Girolamo Maria Gotti (Tổng trưởng Thánh bộ Truyền bá Đức tin từ năm 1902 đến năm 1916).

Hy vọng qua bài tường thuật này, những người hành hương ngày nay tiếp tục sốt sắng và nhiệt thành đi vào truyền thống sống động của cuộc hành hương Đức Mẹ  La Vang, để thêm lòng tin, cậy, mến đối với Chúa và Đức Mẹ, được thể hiện qua việc xưng tội, rước lễ, chầu Thánh Thể, kiệu tôn vinh Đức Mẹ…, cũng như  sống và loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay; hay, như nhận định của cha Léopold-Michel Cadière, các tín hữu hành hương “sẽ được củng cố chính mình, ý thức được sức mạnh của mình và nhờ đó cảm thấy đức tin cũng như sự gắn kết với Đạo ngày càng được lớn lên”.

 

Bản báo cáo mục vụ khá dài, ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn đoạn nói về Hành hương La Vang (nguồn: văn khố Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris).

 

Tý Linh

 

Báo cáo hằng năm của các Giám mục

 

Năm: 1910

Quốc gia: Việt Nam

Miền Truyền giáo: Bắc Đàng Trong

Người biên soạn: Đức cha Allys

 

Bắc Đàng Trong

Số giáo dân Công giáo: 54.275

Số người lớn được rửa tội: 2.261

Số trẻ em lương dân được rửa tội: 2.886

 

 

[…]

« Cuộc hành hương diễn ra tại La Vang vào ngày 9 tháng Tám đã mang lại niềm mãn nguyện trọn vẹn cho tất cả các tín hữu, đặc biệt là những ai có cơ hội tham dự buổi lễ tuyệt đẹp này. Bên cạnh tường thuật của cha Cadière, người tổ chức cuộc hành hương, và trong giáo xứ nơi tọa lạc Đền thánh Đức Mẹ La Vang, con xin bổ sung thêm lời kể của một người hành hương được chia sẻ với tờ Mémorial de la Mission de Qui Nhơn (Ký sự Miền Truyền giáo Qui Nhơn).

 

Vào ngày 9 tháng Tám, 1.150 người hành hương từ Huế đã khởi hành đến Quảng Trị từ rất sớm trên hai chuyến tàu. Chuyến tàu thứ nhất khởi hành lúc 3g30 sáng, dừng tại cầu Bạch Hổ để đón người hành hương từ Kim Long, tại An Hòa để đón người hành hương từ Đốc Sơ, và tại Văn Xá để đón người hành hương từ Dương Sơn. Chuyến tàu thứ hai, chở người hành hương từ Phủ Cam, Thợ Đúc và Ngọc Hồ, khởi hành vào khoảng 4g10 sáng. Nhiều người không kịp đón tàu đã khởi hành bằng cách đi bộ hoặc đi thuyền.

 

Khi đoàn tàu đã lăn bánh ổn định, mọi người cùng lấy tràng hạt ra và bắt đầu đồng thanh lần hạt: vào thời khắc sáng sớm ấy, âm điệu của lời kinh An Nam mới êm dịu và đầy cuốn hút làm sao, tiếng kinh vang lên từ hàng trăm giọng người hòa quyện, vượt lên trên tiếng ồn ào của đoàn tàu và theo làn hơi nước bay vào không gian!

 

Hình ảnh Đức Trinh Nữ uy nghi tràn ngập mọi trái tim và tâm trí; với biết bao lòng sốt sắng và đạo đức, các khách hành hương đã chào kính Mẹ Thiên Quốc bằng lời "Kính mừng Maria" đầy hân hoan! Và hẳn là Mẹ đã lắng nghe đầy vui sướng những lời chào lặp đi lặp lại của đoàn con An Nam, mỉm cười trước giọng líu lo dịu dàng của họ, che chở họ trong vòng tay hiền mẫu và tuôn đổ những ân phúc ngọt ngào nhất xuống trên họ cùng gia đình họ.

 

Khoảng 5 giờ sáng, chuyến tàu đầu tiên, khoảng 6 giờ sáng, chuyến tàu thứ hai, đã đưa những dòng người hành hương đổ xuống tuyến đường kiểm tra mới, vừa được viên Công sứ Quảng Trị cho xây dựng, nằm không xa con đường dẫn đến La Vang.

 

Khi chuyến tàu thứ hai đến nơi, những người hành hương từ chuyến tàu đầu tiên đã xếp thành hai hàng chờ sẵn để đón đoàn rước khởi hành từ nhà thờ Cổ Vưu. Sau đó, những người hành hương từ chuyến tàu thứ hai lần lượt tiến tới, tay cầm tràng hạt, và xếp hàng vào phía sau nhóm hành hương của chuyến tàu đầu tiên.

 

Trong khi đó, thánh giá, những người mang đèn hầu và bốn người cầm cờ đến từ Cổ Vưu đã tiến đến với nhóm người mới tới và vội vã đi lên trước họ ; cuộc rước tiếp tục diễn ra một cách yên tĩnh và trật tự, với các tín hữu hành hương từ Huế đi đầu, theo sau là các Kitô hữu từ Quảng Trị và các nơi khác, được sắp xếp theo từng họ đạo và do các linh mục của họ chỉ đạo. Vào ngày này, mỗi họ đạo đều hãnh diện phô bày những gì đẹp nhất của mình như cờ đại, cờ đuôi nheo, cờ hiệu, biểu ngữ …. Tiếng trống truyền thống của người An Nam tất nhiên cũng là một phần của buổi lễ, vang lên những âm thanh trầm hùng và uy nghiêm, cứ mỗi năm phút một lần.

 

Đoàn rước trải dài ít nhất ba cây số, tức là khi thánh giá và những người hành hương đi đầu đến đền thánh Đức Mẹ La Vang, thì bức tượng Đức Trinh Nữ cùng đoàn người hành hương vây quanh tượng Mẹ vẫn còn chưa rời khỏi đường quan.

 

Thật sự đầy xúc động khi từ trên đồi cao nhìn đoàn người hành hương khổng lồ đang tiến về, khoảng 8.000 người theo cha Cadière: hàng ngũ nghiêm trang chỉnh tề, chậm rãi bước đi, đồng thời lần hạt Mân Côi hoặc hát thánh ca, cùng muôn vàn cờ đại và cờ đuôi nheo phấp phới dưới luồng gió mạnh từ Lào. Vinh danh Thiên Chúa trên trời, vinh danh Mẹ Thánh của Người, Đấng đã quy tụ biết bao dòng người hành hương cuồn cuộn đổ về nơi hiu quạnh này!

 

Ngay khi đoàn rước bắt đầu tiến vào tầm nhìn của nhà thờ La Vang, âm thanh trầm hùng, của tiếng trống, tiếng chiêng vang vọng khắp không trung, như để chào đón mọi người. Khi vừa đến nơi, những người hành hương liền tiến thẳng vào nhà thờ để chào kính Đức Mẹ, và, trong vài phút, không còn lấy một chỗ trống ; nhưng dù nhà thờ có rộng lớn gấp mười lần đi nữa, thì cũng vẫn không thể nào chứa hết được dòng người đông đảo đến nhường ấy trong ngày này.

 

Hơn nữa, trước nhà nguyện, một trại rộng lớn dài 60 mét đã được dựng lên cho dịp này; ở phía cuối trại là một gò đất nhỏ, nơi người ta cũng đã dựng một lều mái tranh cho lễ này, và chính tại đó, ngay trước mắt mọi người, Hy tế trọng thể trên bàn thờ của chúng ta sẽ được cử hành.

 

Nhưng, trước Thánh lễ, cha Patinier đã có đôi lời đầy cảm động nhắn nhủ các tín hữu hành hương, để khích lệ họ hãy ngày càng yêu mến Đức Mẹ La Vang sâu xa hơn và đặt trọn niềm tin cậy nơi Mẹ.

 

Sau lời phát biểu ngắn gọn ấy, Thánh lễ bắt đầu, do cha Tân cử hành, cùng sự phụ giúp của cha Dụ và cha Úy trong vai trò phó tế và phụ phó tế. Các nhà thừa sai, các linh mục bản xứ và chủng sinh, tề tựu từ khắp mọi nơi, đã hợp thành ca đoàn và hăng say hát Bộ Lễ thứ hai của Dumont.

 

Ngay sau Thánh lễ, và là khoảnh khắc cao điểm của buổi lễ : Chầu Thánh Thể trọng thể ; một bài thánh ca chầu Thánh Thể, bài Magnificat và bài Tantum Ergo được hát lên, và ban phép lành Thánh Thể cho những người hành hương đang quỳ. Buổi lễ kết thúc lúc 9g30.

 

Có một khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn, và đám đông bắt đầu giải tán dần dần. Các chuyến tàu hành hương khởi hành đi Huế, chuyến đầu tiên khoảng 2g30, chuyến thứ hai khoảng 4g30.

 

Không có tai nạn nào xảy đến để làm buồn rầu ngày hôm đó. Mọi người đều trở về nhà, có chút mệt mỏi, nhưng vui mừng vì đã được tham gia một buổi lễ tuyệt vời đến thế ».

 

Theo cha Cadière, một trong những lợi ích to lớn của sự biểu dương như thế, đó là việc các Kitô hữu, khi quy tụ với số lượng đông đảo như vậy, sẽ được củng cố chính mình, ý thức được sức mạnh của mình và nhờ đó cảm thấy đức tin cũng như sự gắn kết với Đạo ngày càng được lớn lên.

 

Nhưng, bên cạnh cuộc hành hương tuyệt vời này, điều mang lại cho chúng con niềm vui đặc biệt trong năm nay, đó là việc ghi nhận sự gia tăng đáng kể ở tất cả các số liệu thống kê trong năm mục vụ 1909–1910. Chẳng hạn, chúng con đã cử hành Bí tích Rửa tội cho 2.237 dự tòng, trong khi con số này của năm trước chỉ là 1.009. Số ca rửa tội cho con em các gia đình lương dân đã tăng lên mức 2.886, tăng 936 trường hợp so với số liệu trước đó. Số lượt xưng tội vượt mức tổng của năm ngoái tới 18.521 lượt, và số lượt rước lễ, vốn ở mức 196.940 trong báo cáo mục vụ kỳ trước, đã đạt 223.744 trong năm nay, tức là tăng thêm 26.804 lượt.

 

Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng hai con số sau cùng này, số liệu về việc xưng tội và rước lễ, lẽ ra phải cao hơn, bởi thật đáng mong mỏi biết bao khi thấy các Kitô hữu của chúng con, kể cả những người kém sốt sắng nhất, sẽ đến Bàn Tiệc Thánh ít nhất mỗi tháng một lần. Dẫu vậy, có lý do để lo ngại rằng sẽ còn phải mất nhiều năm nữa chúng con mới đạt được kết quả như thế; vì, ngoài những trở ngại khác, số lượng các thừa sai hạn chế thường khiến chúng con không thể dành đủ thời gian cho mục vụ giải tội nhằm thu hút tất cả các tín hữu Công giáo thường xuyên đến với tòa giải tội thánh thiêng ấy. Tuy nhiên, hãy hy vọng rằng sự gia tăng hàng giáo sĩ bản xứ sẽ dần giúp hiện thực hóa, ít nhất là phần lớn, mong muốn của Đức Thánh Cha về việc rước lễ thường xuyên cũng như các chỉ dẫn của ngài liên quan đến việc rước lễ của trẻ em; và mong sao chẳng bao lâu nữa, chúng con sẽ được an ủi khi chứng kiến ​​các tín hữu thường xuyên đến lãnh nhận bí tích Hòa giải và Thánh Thể.

 

Trong khi chờ đợi và vẫn tiếp tục nhiệt thành chăm sóc những con chiên đã ở trong đàn, chúng con sẽ không quên những con chiên chưa gia nhập, và chúng con sẽ nỗ lực hết mình để giúp phát triển công cuộc các dự tòng : một công trình có tầm quan trọng hàng đầu, nhưng cũng đầy gian nan hơn nữa, bởi vì để thực hiện nó, cần phải chịu đựng sự hao tổn sức lực to lớn, những nỗi lo âu sâu xa và cả những nỗi thất vọng đau đớn đến mức đôi khi, có thể nói, khiến các người thợ tông đồ cảm thấy nản lòng.

 

[…]