Có thể nói rằng ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận là người Việt Nam đầu tiên cùng với thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, là những người duy nhất cho đến nay được các Đức Giáo hoàng đề cập đến trong các Thông điệp hay Tông huấn của mình. Ngài được nhắc đến như là chứng tá cho niềm hy vọng, cho mẫu gương nên thánh giữa đời thường, qua đời sống cầu nguyện, và lòng tín thác vào Chúa bằng cách đón nhận và sống giây phút hiện tại bằng việc theo đuổi những điều thiện hảo vì tình yêu. Điểm lại những lần được đề cập này sẽ thấy rõ hơn những bài học mà Huấn quyền nêu lên cho toàn thể Giáo hội.

(nguồn ảnh: internet)
Chứng nhân cho niềm hy vọng và phẩm giá con người
Văn kiện mới nhất của Huấn quyền đề cập đến Đấng đáng kính Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận là Thông điệp « Magnifica Humanitas » (2026) của Đức Lêô XIV. Khi nói về những gương chứng nhân cho niềm hy vọng và phẩm giá con người, cho điều tốt ngay cả giữa những giới hạn của con người, Đức Thánh Cha đã trích dẫn ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận : « Bên cạnh những dấu hiệu công khai này, còn tồn tại một sợi dây liên kết kín đáo nhưng mang tính quyết định hơn: đó là các cộng đồng tu trì chọn những nơi nghèo khó và nguy hiểm; các vị tử đạo vì tình huynh đệ và công lý như thánh Maximilian Kolbe, thánh Oscar Romero và chân phước Enrique Angelelli; cũng như những chứng nhân, trong những điều kiện khó khăn và thường xuyên vô nhân đạo, đã thể hiện niềm hy vọng của Tin Mừng và phẩm giá con người, như Đấng đáng kính Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Và trên hết, là những “vị tử đạo đời thường” chăm sóc, giáo dục, đồng hành và an ủi mà không phô trương, như cha mẹ, y tá, bác sĩ, tình nguyện viên và những người ở bên cạnh người già hoặc người bị ruồng bỏ. Chứng nhân của họ cho thấy rằng điều tốt không được thực hiện một cách tự động, nhưng nó đòi hỏi sự kiên trì, ký ức và sự hoán cải cho phép bắt đầu lại ngay cả sau những thất bại. » (số 125).
Chứng nhân cho niềm hy vọng qua đời sống cầu nguyện
Lần xuất hiện đầu tiên của ĐHY trong một văn kiện của Huấn quyền là trong Thông điệp « Spe salvi » của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI vào năm 2007. Thậm chí ngài được Thông điệp nhắc đến hai lần trong phần nói về « Những ‘nơi’ để học hỏi và thực hành niềm hy vọng. I. Cầu nguyện như một trường học của niềm hy vọng ».
Ở số 32 của Spe salvi, Đức Bênêđíctô XVI nhấn mạnh : « Nơi thiết yếu đầu tiên để học hỏi niềm hy vọng là cầu nguyện. Nếu không còn ai lắng nghe tôi nữa, thì Thiên Chúa vẫn lắng nghe tôi. Nếu tôi không còn có thể nói chuyện với ai, nếu tôi không còn có thể cầu khẩn ai - tôi vẫn có thể thưa lên với Chúa. Nếu không còn ai có thể giúp tôi - bất cứ nơi nào có nhu cầu hoặc kỳ vọng mà vượt quá khả năng hy vọng của con người, thì Ngài đều có thể giúp tôi. Nếu tôi bị đẩy vào sự cô độc cùng cực…; người cầu nguyện không bao giờ hoàn toàn cô đơn. Từ mười ba năm trong tù, chín năm trong số đó bị biệt giam, Đức cố Hồng y Nguyên Văn Thuận đã để lại cho chúng ta một cuốn sách nhỏ quý giá: Những lời cầu nguyện hy vọng. Suốt mười ba năm trong tù, trong hoàn cảnh dường như hoàn toàn tuyệt vọng, việc lắng nghe Chúa, việc có thể nói chuyện với Người, đã trở thành một sức mạnh hy vọng ngày càng gia tăng đối với ngài, điều mà, sau khi được thả, đã cho phép ngài trở thành một chứng nhân của niềm hy vọng cho mọi người, trên khắp thế giới - của niềm hy vọng lớn lao không bao giờ tắt, ngay cả trong những đêm tối cô đơn. »
Tiếp đó, ở số 34, Thông điệp nói tiếp về chứng tá hy vọng qua đời sống cầu nguyện của Đấng đáng kính Phanxico Xavie như sau : « Để lời cầu nguyện phát triển sức mạnh thanh tẩy này, một mặt, nó phải rất cá vị, một sự đối diện của bản thân tôi với Thiên Chúa, với Thiên Chúa hằng sống. Tuy nhiên, mặt khác, nó phải luôn được hướng dẫn và soi sáng lại bởi những lời cầu nguyện vĩ đại của Giáo hội và các thánh, bởi lời cầu nguyện phụng vụ, trong đó Chúa liên tục dạy chúng ta cầu nguyện đúng cách. Trong cuốn Linh Thao của mình, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã kể lại rằng trong cuộc đời ngài đã có những giai đoạn dài không thể cầu nguyện và làm thế nào ngài bám vào những lời cầu nguyện của Giáo hội: Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và những kinh nguyện của phụng vụ. Trong cầu nguyện, phải luôn có sự kết nối giữa lời cầu nguyện công đoàn và lời cầu nguyện cá nhân. Bằng cách này, chúng ta có thể nói chuyện với Chúa, và Chúa nói chuyện với chúng ta. Bằng cách này, được thực hiện trong chúng ta những sự thanh tẩy nhờ đó chúng ta trở nên có khả năng về Thiên Chúa và có khả năng phục vụ con người. Như thế, chúng ta trở nên có khả năng về niềm hy vọng lớn lao và chúng ta trở thành những thừa tác viên của niềm hy vọng cho người khác: niềm hy vọng theo nghĩa Kitô giáo cũng luôn luôn là niềm hy vọng cho người khác. Và đó là một niềm hy vọng tích cực, nhờ đó chúng ta đấu tranh để mọi việc không đi đến một "kết cục tai hại". Nó cũng là một niềm hy vọng tích cực theo nghĩa là chúng ta giữ cho thế giới rộng mở đối với Thiên Chúa. Chỉ trong viễn cảnh này mà nó cũng vẫn là một niềm hy vọng thực sự của con người ».
Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh cũng được nhắc đến trong Thông điệp này.
Mẫu gương nên thánh giữa đời thường : đón nhận và sống giây phút hiện tại bằng tình yêu
Về phần mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc đến ĐHY Nguyễn Văn Thuận trong hai văn kiện huấn quyền của mình : Tông huấn « Gaudete et Exsultate » bàn về ơn gọi nên thánh trong thế giới ngày nay, năm 2018, và Tông huấn « Christus vivit » gởi cho Giới trẻ và toàn thể Dân Thiên Chúa, năm 2019.
Số 17 của Gaudete et Exsultate nói về Đấng đáng kính Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận như mẫu gương nên thánh giữa đời thường, qua việc đón nhận và sống giây phút hiện tại bằng tình yêu và lòng tín thác vào Chúa : « Đôi khi cuộc sống mang đến những thử thách đáng kể, và qua chúng, Chúa mời gọi chúng ta đến những sự hoán cải mới cho phép ân sủng của Người được biểu hiện tốt nhất trong cuộc sống của chúng ta “để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người” (Dt 12, 10). Những lúc khác, đó chỉ là vấn đề tìm ra một hình thức hoàn hảo hơn để sống những gì chúng ta đang sống: “Có những nguồn cảm hứng chỉ hướng đến sự hoàn thiện phi thường trong những thực hành bình thường của đời sống Kitô hữu”. Khi Đức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận bị giam trong tù, ngài đã từ bỏ việc cố gắng yêu cầu phóng thích mình. Lựa chọn của ngài là sống “giây phút hiện tại bằng cách lấp đầy nó bằng tình yêu”; và đây là cách mà điều đó được thực hiện: “Tôi nắm bắt những cơ hội xuất hiện mỗi ngày để thực hiện những hành động bình thường một cách phi thường” ».
Mẫu gương nên thánh giữa đời thường, qua việc đón nhận và sống giây phút hiện tại bằng tình yêu này, cũng được Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại một lần nữa trong Tông huấn « Christus vivit », ở số 148 : « Theo nghĩa này, Cha muốn nhắc lại rằng Đức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, khi bị giam cầm trong trại tập trung, không muốn những ngày của mình chỉ toàn là chờ đợi và mong chờ tương lai. Lựa chọn của ngài là “sống giây phút hiện tại bằng cách lấp đầy nó bằng tình yêu”; và ngài đã làm như vậy theo cách sau: “Tôi tận dụng những cơ hội xuất hiện mỗi ngày để thực hiện những hành động bình thường một cách phi thường.” Trong khi con nỗ lực hiện thực hóa ước mơ của mình, con hãy sống trọn vẹn ngày hôm nay, lấp đầy mỗi giây phút bằng tình yêu và trao ban nó hết mình. Bởi vì đúng là ngày tuổi trẻ này của con có thể là ngày cuối cùng, và do đó, nó đáng được sống trọn vẹn và nhiệt huyết nhất có thể. »
Số 147 của Tông huấn này lưu ý rằng việc sống trọn vẹn giây phút hiện tại thực sự đã là một lời mời gọi của Chúa (x. Mt 6, 34). Tuy nhiên, « điều này không có nghĩa là lao vào cuộc sống cuồng nhiệt vô trách nhiệm, khiến chúng ta trống rỗng và luôn luôn không thỏa mãn; nhưng là sống trọn vẹn hiện tại, bằng cách sử dụng năng lượng của mình cho những điều tốt đẹp, vun đắp tình huynh đệ, noi theo Chúa Giêsu và trân trọng mọi niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống như một món quà của tình yêu Thiên Chúa ».
Giáo hội Công giáo Việt Nam có rất nhiều tấm gương và chứng nhân anh dũng, kiên cường và thánh thiện như các thánh tử vì đạo Việt Nam, chân phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp…, được Giáo hội chính thức công nhận. Nhưng chắc chắn còn có biết bao nhiêu gương nên thánh thầm lặng của biết bao nhiêu thế hệ Kitô hữu Việt Nam : các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân, các gia đình… đã góp phần vào xây dựng một Giáo hội Việt Nam sống động của ngày nay. Tuy nhiên, một người được Huấn quyền nhắc đến nhiều lần như vậy thật là hiếm có không chỉ với Giáo hội Việt Nam, nhưng còn đối với các Giáo hội khác. Con đường nên thánh của Đấng đáng kính Phanxicô Xavie đã được công nhận, và Giáo hội hoàn vũ nói chung cũng như Giáo hội Việt Nam nói riêng đang chờ đợi ngày Đấng đáng kính người Việt Nam này, nhờ ơn Chúa, được tuyên chân phước và tuyên thánh.
Tý Linh
