Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Tiểu Sử Đức Cha Eugène Marie Joseph Allys (1852-1936)

Đức cha Eugène Marie Joseph Allys (1) sinh ngày 12 tháng 2 năm 1852 tại thôn Cannée, thuộc giáo xứ Paimpont, gần khu rừng Brocéliande vốn được các nhà thơ vùng Breton ca ngợi. Khu vực này thuộc về Giáo phận Rennes (tỉnh Ille-et-Vilaine). Gia đình này, vốn có tám người con, đã dâng hiến cho giáo phận Rennes thêm một linh mục và một nữ tu. Đức cha Eugène bắt đầu việc học tập tại nhà xứ Paimpont và tiếp tục tại Tiểu Chủng viện Saint-Méen; sau đó, ngài theo học một thời gian ngắn tại Đại Chủng viện Rennes, nơi ngài lãnh nhận nghi thức cắt tóc vào ngày 21 tháng 5 năm 1872.

Ngày 27 tháng 9 năm 1872, ngài gia nhập chủng viện của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (MEP). Được lãnh nhận các chức nhỏ vào ngày 20 tháng 12 năm 1873, chức phụ phó tế vào ngày 30 tháng 5 năm 1874, chức phó tế vào ngày 19 tháng 12 năm 1874, ngài được thụ phong linh mục vào ngày 10 tháng 10 năm 1875 và được bổ nhiệm về Vùng Đại diện Tông Tòa Bắc Đàng Trong (Huế). Ngài đã lên đường đến nơi này vào ngày 16 tháng 12 năm 1875.

Việt Nam (1875

Ngay khi mới đến nơi, Đức cha Sohier đã phân công ngài về Kim Long, ngoại ô Huế, để chăm sóc trẻ mồ côi, đồng thời dành thời gian học ngôn ngữ. Sau hiệp ước năm 1874 công nhận quyền tự do tôn giáo, đất nước tương đối yên bình. Vì vậy, vào cuối tháng 6 năm 1876, dù sức khỏe đã suy kiệt, Đức cha Sohier vẫn lên đường đi thăm viếng mục vụ tại tỉnh Quảng Bình. Cuối tháng 8 năm 1876, hay tin Đức Cha lâm bệnh nặng, cha Allys đã đến bên ngài tại Kẻ Sen, một họ đạo lâu đời ở tỉnh này, từng là nơi trú ẩn an toàn trong các cuộc bách hại đạo dưới thời vua Thiệu Trị và Tự Đức. Ngài đã ban các Bí tích sau cùng cho Đức Cha, trợ giúp Đức Cha trong những giây phút cuối đời vào ngày 3 tháng 9 năm 1876. Sau khi an táng Đức Giám mục của mình trong nhà thờ của họ đạo này, cha Allys trở về Kim Long.

Đức cha Pontvianne, người được bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa Bắc Đàng Trong vào ngày 31 tháng 8 năm 1877, đã giao cho cha Allys trọng trách làm Bề trên Đại Chủng viện. Mặc dù cha Allys cẩn thận chu toàn trọng trách này, nhưng ngài vẫn mong muốn được sai đến một giáo hạt.

Vào năm 1880, Đức cha Caspar đã sai cha Allys đến Dương Sơn, một họ đạo lâu đời và cũng là cánh đồng của sứ vụ tông đồ của thánh François Jaccard, đặt ngài dưới sự hướng dẫn của một vị linh mục Việt Nam đáng kính để đào tạo ngài về sứ vụ tông đồ.

Năm 1883, hòa bình lại một lần nữa bị phá vỡ. Khắp nơi, một số người Công giáo bị tàn sát; họ đạo Dương Sơn cũng bị đe dọa. Cha Allys nhận được thư của Đức cha Caspar với nội dung như sau:

"Một pháp lệnh của Nhiếp chính Tường yêu cầu tất cả nam giới khỏe mạnh của vương quốc phải sẵn sàng cho mọi yêu cầu triệu tập, với đầy đủ vũ khí và lương thực. Chúng ta không còn hy vọng cứu độ nào khác ngoài Thiên Chúa. Ngay khi có hiệu lệnh, cuộc tàn sát sẽ bắt đầu. Tất cả những gì còn lại đối với chúng ta là chuẩn bị cho các Kitô hữu của mình được chết lành."

Mặc dù được mời đến với Giám mục của mình, cha Allys vẫn ở lại giữa đoàn chiên của mình; Dương Sơn đã thoát nạn. Sự can thiệp của ông Tricou, Bộ trưởng Đặc mệnh toàn quyền Pháp, đã dẫn đến việc hủy bỏ lệnh tàn sát; tuy nhiên, tại tỉnh Thừa Thiên, vào tháng 12 năm 1883, cha Vinh cùng 135 giáo dân thuộc giáo xứ Nước Ngọt đã bị sát hại.

Vào ngày 5 tháng 7 năm 1885, sau khi Tướng de Courcy chiếm được Huế, vị vua trẻ Hàm Nghi cùng quan phụ chính đại thần thứ hai là Tôn Thất Thuyết đã rút về lánh nạn tại thành Cam Lộ, nằm cách Huế 80 km về phía Tây Bắc. Quan phụ chính đại thần thứ nhất, người vẫn ở lại Huế, đã ra lệnh cho giới nho sĩ phát động cuộc nổi dậy cả nước chống lại người Pháp và người Kitô hữu. Mệnh lệnh này đã được thi hành triệt để. Lúc đó, một cánh quân Pháp đã xuất phát từ Huế để đánh chiếm thành Quảng Trị. Đức cha Caspar đã yêu cầu cha Allys đi cùng đoàn quân này.

Ngài viết : "Vào đêm ngày 7 rạng sáng ngày 8 tháng 9 năm 1885, chúng tôi nhìn thấy ngọn lửa đang thiêu rụi họ đạo Kẻ Văn. Sáng ngày mùng 8, chúng tôi đi qua những ngôi làng đã bị thiêu rụi là Ngô Xá và Tri Lễ. Đối diện Cổ Vưu, chúng tôi bắt gặp những thi thể bị hủy hoại của tám đứa trẻ... Tại nhiều nơi, người dân đã bị thiêu sống. Ở họ đạo Dương Lộc, cuộc thảm sát thật kinh hoàng: bốn linh mục bản xứ, khoảng năm mươi nữ tu cùng từ 2.500 đến 3.000 giáo dân thuộc năm giáo xứ đã thiệt mạng tại đó bởi lửa, giáo và gươm."

Cha Allys đã lưu trú một thời gian tại Quảng Trị, nơi tập trung những người sống sót sau biết bao cuộc tàn sát. Sau đó, ngài tiếp tục hành trình đến An Ninh, nơi Tiểu Chủng viện vừa được giải thoát. Ngài đã ở lại một tháng cùng Cha Dangelzer, quyền đại diện của Miền Truyền giáo tại Di Loan, một họ đạo đã bị tàn phá nặng nề bởi giới nho sĩ và những kẻ theo phe họ. Cuối cùng, ngài trở về Huế để báo cáo sứ mạng của mình cho Đức Giám mục.

Tòa Giám mục Huế tại Kim Long.

Vào cuối năm 1885, Cha Allys được bổ nhiệm làm cha sở Phú Cam và hạt trưởng hạt Bên Thủy.

Giáo xứ Phú Cam khi ấy chỉ có vỏn vẹn 500 giáo dân, còn giáo hạt này bao gồm một vài họ đạo nghèo, trong đó có những nơi đã bị tàn phá nghiêm trọng bởi các cuộc bách hại. Cha Allys nỗ lực dựng lại từ đống đổ nát.

Đến năm 1908, khi cha Allys rời khỏi nhiệm sở này, Phủ Cam đã lên tới gần 2.400 người, và giáo hạt có hơn 11.000 người. Mặc dù phần lớn các tân tòng xuất thân từ tầng lớp nghèo khó, nhưng cũng có những người thuộc tầng lớp thượng lưu Việt Nam, thậm chí cả thành viên hoàng gia, đã cải đạo. Chẳng hạn, một cháu gái của vua Minh Mạng và hai hoàng tử anh em họ của cháu gái này đã trở thành Kitô hữu. Vì quyết định này, các hoàng tử đã bị kết án tử hình. Cha Allys đã can thiệp với ông de Lanessan, Toàn quyền Đông Dương. Án tử hình được giảm xuống thành hình phạt lưu đày đến tỉnh Quảng Nam, và từ nơi đây, các hoàng tử này đã được triệu hồi về không lâu sau đó. Đức cha Caspar đã rửa tội cho nhà sư Thuyền, cựu tu sĩ Phật giáo và là cháu trai của vua Minh Mạng, đã trở thành dự tòng và được cha Allys dạy giáo lý tại Phủ Cam, cũng như toàn thể gia đình ông. Kể từ cuộc trở lại này, nhiều hoàng tử và công chúa đã trở thành Kitô hữu và không còn lo lắng gì nữa.

Thế nhưng, trong khoảng thời gian từ năm 1898 đến 1900, phong trào trở lại này đã bị chặn lại bởi một số nhân vật mang nặng định kiến ​​chống tôn giáo mà họ đã tiếp thu từ Pháp, và họ khuyến khích việc bội giáo. Nhưng có một điều chắc chắn là tại tỉnh Thừa Thiên, nhiều họ đạo đã không bị hủy diệt nhờ vào ảnh hưởng của vị Hạt trưởng hạt Bên Thủy.

Nhà thờ Phủ Cam do Đức cha Allys cho xây dựng.

Tại Phủ Cam, cha Allys đã khởi công xây dựng một ngôi nhà thờ rộng lớn với kết cấu ba gian. Ngôi nhà thờ được Đức cha Caspar làm phép vào ngày 27 tháng 8 năm 1902, và được Đức cha Chabanon cung hiến ba mươi năm sau đó. Vào năm 1907, sau khi Đức cha Caspar từ nhiệm, chính tại ngôi nhà thờ quyền chính tòa này, cha Allys, Giám mục hiệu tòa Phacusa, đã được truyền chức giám mục vào ngày 24 tháng 5 năm 1908, bởi Đức cha Mossard, Đại diện Tông Tòa Sài Gòn.

Tòa Giám mục do Đức cha Allys cho xây dựng.

Canh tân ​​đầu tiên của Đức cha Allys là dời Tòa Giám mục từ Kim Long sang Phủ Cam, nằm bên bờ kênh, cạnh thành phố Huế. Những công trình yêu thích của ngài là công trình dự tòng và trẻ em bị bỏ rơi. Trong suốt 23 năm thi hành sứ vụ giám mục, ngài đã có niềm vui chứng kiến ​​hơn 37.000 người lớn và trẻ em dự tòng gia nhập Giáo hội. Ngài không ngừng khuyến khích các linh mục của mình đi đến với lương dân, và giúp đỡ họ thành lập các họ đạo mới.

Trường Thiên Hựu.

Năm 1921, ngài thành lập Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Huế để điều hành các trường sơ cấp và tiểu học, các trại trẻ mồ côi, một bệnh viện và các phòng khám. Ngài cũng thành lập Dòng Anh Em Hèn Mọn Thánh Tâm mà ngài giao phó việc đào tạo Dòng này cho cha Cẩn, vị Đại diện Tông Tòa Bùi Chu tương lai. Ngài là người sáng lập trường "Providence" (2), tên gọi của trường trung học Công giáo đầu tiên tại Đông Dương.

Trường Thiên Hựu.

Năm 1925, ngài đã đưa các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế người Canada từ Sainte-Anne-de-Beaupré đến Huế. Ngài khuyến khích và nâng đỡ cha Denis thành lập đan viện Xitô đầu tiên, trên những ngọn đồi cằn cỗi ở Phước Sơn, đồng thời cử cha Mendiboure, một trong những nhà thừa sai xuất sắc nhất của ngài, đến hỗ trợ vị linh mục này.

Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Tất cả những phẩm chất của ngài - sự giản dị, sự cởi mở đón tiếp và tinh thần tận tụy phục vụ - cùng với những công trình của ngài đã thu hút sự chú ý của chính quyền. Vào ngày 5 tháng 2 năm 1921, ngài được phong tước Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh; vinh dự này được chính thức trao cho ngài vào ngày 14 tháng 7 cùng năm, ngay tại nơi mà vào ngày 30 tháng 11 năm 1835, thánh Joseph Marchand Du từng bị giải đến trước mặt Vua Minh Mạng. Ngày 16 tháng 4 năm 1921, Vua Khải Định đã trao tặng ngài huy chương "Kim Khánh" ngoại hạng, phần thưởng cao quý nhất của vương quốc. Năm 1925, nhân dịp kỷ niệm kim khánh linh mục, ngài được phong tước Đại Quan Đại Nam Long Tinh và được Đức Giáo hoàng ban tước Trợ tá Ngai tòa Giáo hoàng.

8 tập sinh đầu tiên của Dòng Anh Em Hèn Mọn Thánh Tâm. Đức cha Allys ngồi giữa.

Năm 1930, khi thị lực suy giảm nhanh chóng, vàtheo thỉnh cầu của ngài, Rôma đã ban cho ngài một giám mục phó, đó là Đức cha Chabanon. Đến năm 1931, khi đã gần như mù lòa, ngài xin từ nhiệm. Ngài đã chịu đựng căn bệnh rất đau đớn này một cách kiên cường, vui vẻ và mạnh mẽ. Cánh cửa phòng ngài luôn rộng mở cho tất cả các khách thăm, các linh mục, các nhân vật lớn hay người dân thường. Ai cũng thích nghe ngài kể về cuộc đời truyền giáo của mình, đặc biệt là về những năm tháng gian nan từ năm 1883 đến 1885, giai đoạn mà ngài là một trong số chứng nhân hiếm hoi còn lại.

Vào đầu tháng 4 năm 1936, ngài tỏ ra mệt mỏi hơn thường lệ. Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, 9 tháng 4 năm 1936, Đức cha Chabanon đã ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho ngài. Sáng ngày 26 tháng 4 năm 1936, ngài đã có thể trò chuyện vài phút với Đức cha Marcou, bạn học cũ và cũng là bạn thân của ngài; và đến khoảng 11 giờ trưa, ngài đã qua đời nhẹ nhàng, bên cạnh là Đức cha Marcou, cha Lemasle, quyền Đại diện Tông Tòa, và cha Etchebarne (Quản lý Miền Truyền giáo). Đức cha Chabanon, lúc bấy giờ đang lâm bệnh nặng, đã lên đường về Pháp vào ngày 24 tháng 4 năm 1936.

Tang lễ của ngài được cử hành vào thứ Hai, ngày 27 tháng 4 năm 1936. Đó là một tang lễ giản dị, như ngài đã yêu cầu, và được cử hành trước sự hiện diện của 5 Giám mục, là các Đức cha Marcou, Gouin, Tardieu, Jannin và Cẩn, cùng đông đảo linh mục và các nhà thừa sai, các quan chức dân sự và quân sự, toàn thể các vị đại thần trong triều đình, nhiều nhân vật Việt Nam có uy tín và một đám đông dân chúng rất lớn.

Thi hài của ngài an nghỉ tại nghĩa trang của giáo xứ Phủ Cam (3).

-------------------------------------------

Tý Linh chuyển ngữ

(nguồn : irfa.paris; hình ảnh từ kho văn khố của MEP)

--------------------------------------------------

(1) Tên tiếng Việt của ngài là Lý.

(2) Trường Thiên Hựu.

(3) Ngày 6 tháng 8 năm 1986, thi hài của ngài được cải táng và đưa về nghĩa trang giáo sĩ của Tổng Giáo phận Huế, tại Thiên Thai.

------------------------------------------------------

Đọc thêm các bài viết về Đức cha Allys:

+ "Đức Cha Allys, Tông Đồ Bằng Sự Chịu Đựng" ở đây.

+ "Có một vị Mục tử như thế" ở đây.