Giới Thiệu Thông Điệp Arcanum Về Hôn Nhân Kitô Giáo Của Đức Lêô XIII

Nhằm phục vụ cho việc học tập của môn Luân lý Hôn nhân và Gia đình, một số Chủng sinh của Đại Chủng viện Huế đã dịch Thông điệp này sang tiếng Việt.
Phêrô A Noan (Thần học III)
Gioan Bosco Nguyễn Minh Thuận (Thần học III)
Gioan Maria Viannê Bùi Thiên Tuân (Thần học III)
Phêrô A Noát (Thần học III)
Simon Nguyễn Ngọc Sáng (Thần học IV)
Marcô Trần Thanh Tàu (Thần học IV)
Antôn Lê Thanh Hải (Thần học IV)
Antôn Đoàn Quang Hoàng Lân (Thần học IV)
Gioan Baotixita Hồ Văn Hùng (Thần học IV)
Phêrô Cồ Ngọc Hải (Thần học IV)
Linh mục Phêrô Võ Xuân Tiến hiệu đính.
Bản dịch tạm thời, chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Xin quý độc giả có thể đối chiếu với bản gốc tiếng Anh.
Chúng tôi cũng xin giới thiệu hai bài giới thiệu về Thông điệp Arcanum. Một của giáo sư Ramón García de Haro, linh mục người Tây Ban Nha, thuộc Giám hạt Opus Dei, và một bài giới thiệu được đăng trên Wikipedia.
+ Bài giới thiệu của cha Ramón García de Haro, được chúng tôi trích lại trong cuốn “Hôn nhân và Gia đình trong các tài liệu của Huấn quyền” do linh mục Agostino Nguyễn Văn Dụ chuyển ngữ.
Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Lêô XIII đã bày tỏ mối quan tâm làm sao cho người ta nhận biết và yêu mến sự thật về hôn nhân, để có thể vượt qua cơn khủng hoảng luân lý của xã hội. Kết quả của sự quan tâm này là Thông điệp Arcanum divinae sapientiae (Kế hoạch nhiệm mầu do bởi sự khôn ngoan của Thiên Chúa), được công bố ngày 10.2.1880, mà trong thực tế đã tóm lược và bổ túc những Huấn quyền của những thế kỷ cuối cùng. Chúng ta có thể tóm lược vài nét chính của Thông điệp.
Thiên Chúa đã tái tạo nhân loại trong Chúa Kitô, gồm cả hôn nhân và gia đình, làm cho vợ chồng có thể đạt tới sự thánh thiện ngay trong bậc sống của mình. « Chúa Kitô, Đấng tái tạo phẩm giá con người …, không xem việc chăm sóc hôn nhân là chuyện nhỏ cũng không phải là chuyện sau hết » : Ngài nâng cao hôn nhân bằng sự hiện diện của Ngài ở tiệc cưới Cana, hủy bỏ việc rẫy vợ, thiết lập khế ước hôn nhân thành bí tích, để « các vợ chồng được lãnh nhận và thêm sức mạnh nhờ ân sủng thiêng liêng, mà Chúa Kitô trao ban, ngõ hầu họ có thể đạt đến sự thánh thiện ngay trong chính hôn nhân của họ » (số 9) và sự kết hợp của họ trở nên biểu tượng của sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Ngoài ra, Thiên Chúa còn ban lại những phẩm tính của « sự đơn nhất và bảo đảm trường tồn » của hôn nhân. Ngài làm cho mục đích của hôn nhân nên cao cả hơn bằng cách truyền cho họ không chỉ truyền sinh sự sống con người, nhưng là những người con của Thiên Chúa trong Hội Thánh, và củng cố nâng cao tình yêu hôn nhân và gia đình nhờ đức ái, mà bí tích đã gieo vào trong tâm hồn của vợ chồng.
Ở đây, chúng ta nhận thấy có sự xác nhận rõ ràng rằng Chúa Kitô là Đấng tái tạo duy nhất phẩm giá con người, và một khía cạnh khác khá mới mẻ mà trước đây chưa bao giờ rõ ràng được như thế, hôn nhân là nơi thánh hóa đối với vợ chồng. Hai sự thật này sẽ là đối tượng đặc biệt được khai triển trong Công đồng Vatican II.
Như vậy, hôn nhân đã được Đức Kitô nâng dậy bằng cách phục hồi phẩm giá nguyên thủy và được ủy thác cho Giáo hội chăm sóc. Tiếp đến, Thông điệp đã liệt kê những ân huệ như là thành quả của việc chăm sóc mục vụ : chẳng hạn như sửa lại những lạm dụng của hôn nhân, tái lập phẩm giá của người nữ và sự bình đẳng vợ chồng.
Để bảo đảm phẩm giá của hôn nhân và tránh khỏi những sự xấu thường đe dọa nó, Đức Giáo hoàng mong ước có được sự giao hảo tốt đẹp giữa Giáo hội và Nhà nước: một sự hợp tác đáp lại chính những giáo huấn của Chúa về vai trò rieng biệt của mỗi bên. Nhưng cần phải minh định rằng sự bảo đảm duy nhất cho việc giao hỏa đó là làm sao để các mục tử có thể giữ cho kho tàng của Đức Kitô được sống động trong đời sống của người tín hữu, mà họ biết, và với tư cách là những công dân họ tìm cách bảo vệ, rằng hôn nhân đã được Thiên Chúa thiết lập chứ không phải do con người, và đã được Đức Kitô tái tạo; chỉ qua nỗ lực cá nhân của người tín hữu, hôn nhân mới có thể lấy lại được sự toàn vẹn của mình.
+ Bài giới thiệu được đăng trên Wikipedia tiếng Anh, do chúng tôi chuyển ngữ.
Thông điệp Arcanum
Arcanum (còn được gọi là Arcanum Divinae) là một thông điệp do Đức Giáo hoàng Lêô XIII ban hành vào ngày 10 tháng 2 năm 1880, bàn về hôn nhân Kitô giáo.
Thông điệp này được coi là tiền thân của thông điệp Casti connubii, năm 1930, của Đức Giáo hoàng Piô XI và Thông điệp Humanae vitae, năm 1968, của Đức Giáo hoàng Phaolô VI. Arcanum trình bày các quy tắc về hôn nhân vào cuối thế kỷ XIX, đồng thời đề cập đến những hành vi làm suy yếu bí tích hôn phối, chẳng hạn như chế độ đa thê và ly hôn. Thông điệp cũng khẳng định vai trò của Giáo hội là người bảo vệ hôn nhân, thay vì là một bên can thiệp vào mối quan hệ vợ chồng.
Tóm tắt
Đức Giáo hoàng Lêô XIII mở đầu thông điệp Arcanum bằng cách nhắc lại lịch sử của hôn nhân, vốn được thiết lập từ thời Cựu Ước khi Thiên Chúa tạo dựng người nam và người nữ:
« Ta nhắc lại điều vốn hiển nhiên và không ai có thể nghi ngờ: vào ngày thứ sáu của công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã nắn nên con người từ bụi đất và thổi sinh khí vào lỗ mũi; rồi Ngài ban cho con người một người bạn đời, được rút ra cách lạ lùng từ cạnh sườn Ađam khi ông đang chìm trong giấc ngủ » (số 5).
Theo Đức Lêô XIII, định chế hôn nhân đã bị làm cho biến chất qua thời gian bởi cả dân ngoại lẫn người Do Thái. Chế độ đa thê và việc ly hôn đều trở thành những tập tục được chấp nhận, chẳng hạn, đàn ông được phép vi phạm lời thề hôn nhân bằng cách quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Ngoài ra, các bậc cha mẹ còn được phép mua bán những cô gái đến tuổi kết hôn. (xem số 6).
Sự cao quý của hôn nhân
Trong thông điệp Arcanum, Đức Lêô đã khẳng định rằng tất cả những tập tục này đều bị Đức Kitô lên án; Ngài là Đấng đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích. (xem số 9)
Theo lệnh truyền của Đức Kitô, hôn nhân không chỉ hướng tới việc duy trì nòi giống nhân loại, mà còn hướng tới việc sinh sản con cái cho Giáo hội […] (xem số 10).
Giáo hội, ở mọi nơi và mọi thời, luôn thực thi quyền bính của mình đối với hôn nhân của các Kitô hữu theo cách thức khiến người ta thấy rõ rằng đó là quyền vốn có của Giáo hội; quyền này không phải do con người ban cho, mà được Thiên Chúa trao phó theo ý muốn của Đấng Sáng Lập Giáo hội. (xem số 21)
Tất cả chúng ta đều biết rằng phán quyết của Công đồng Giêrusalem đã lên án tình yêu phóng túng và bừa bãi, cũng như việc kẻ loạn luân tại Côrintô đã bị kết án bởi thẩm quyền của Thánh Phaolô (xem số 13). Hơn nữa, ngay từ thuở sơ khai của Giáo hội Kitô giáo, những nỗ lực của nhiều nhóm người nhằm phá hoại hôn nhân Kitô giáo, chẳng hạn như phái Ngộ đạo (Gnostics), phái Manikê và phái Montanist, đã bị đẩy lùi và đánh bại với cùng một sự kiên quyết không ngừng nghỉ; và trong thời đại của chúng ta, điều này cũng xảy ra với những người theo phái Mormon, phái Saint-Simon, phái Phalanstère và những người cộng sản. (xem số 21 và chú thích số 22)
« Hôn nhân không chỉ được thiết lập để duy trì loài người, mà còn để đời sống của vợ chồng trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn » (số 26).
Gần như ngay từ khởi đầu, Giáo hội đã có quan điểm bất đồng với Nhà nước về tính thánh thiêng của hôn nhân. Đức Lêô XIII tin rằng định chế hôn nhân dân sự không thể thay thế bí tích hôn nhân. Việc đặt hôn nhân dưới quyền kiểm soát của Nhà nước, coi đó chỉ là một định chế dân sự dựa trên khế ước, dường như là một phần trong phong trào thế tục hóa đang diễn ra dưới sự thúc đẩy của Hội Tam Điểm và những người theo chủ nghĩa xã hội vào thời của Đức Lêô XIII.
« […] trong hôn nhân Kitô giáo, khế ước không thể tách rời khỏi bí tích, và vì lý do đó, khế ước ấy không thể là đích thực và hợp pháp nếu không đồng thời là một bí tích ». (số 23)
Việc coi hôn nhân chỉ đơn thuần là một sự kiện mang tính khế ước đã mở đường cho việc dễ dàng chấp nhận ly hôn một cách thiếu cân nhắc. Theo quan điểm của những người theo trào lưu tân thời, điều cần thiết đối với Kitô giáo là "đưa ra một bộ quy tắc nhân văn hơn cho phép ly hôn". (xem số 27)
Những tác hại của ly hôn
Theo Đức Lêô XIII trong thông điệp Arcanum, ly hôn gây ra nhiều tác hại:
+ Khiến cho các cam kết hôn nhân trở nên thiếu bền vững và lòng tử tế lẫn nhau bị suy giảm;
+ Tạo ra những cám dỗ đáng trách dẫn đến sự thiếu chung thủy;
+ Gây tổn hại đến việc giáo dục con cái;
+ Tạo cơ hội dẫn đến sự tan vỡ của các gia đình;
+ Gieo rắc mầm mống bất hòa giữa các gia đình;
+ Làm giảm và hạ thấp phẩm giá người phụ nữ, và người nữ có nguy cơ bị bỏ rơi sau khi đã phục vụ cho khoái lạc của đàn ông.
Người Rôma thời xưa được cho là đã vô cùng kinh hãi trước trường hợp ly hôn đầu tiên. (xem số 29 và 30).
Do mối tương quan của hôn nhân với các hoàn cảnh của cuộc sống, nên hôn nhân là vấn đề mà "Nhà nước có quyền thẩm tra nghiêm ngặt và ban hành luật pháp một cách công bằng "(số 35). Mặc dù Nhà nước quan tâm đến hôn nhân, nhưng hôn nhân cũng mang yếu tố tâm linh, và Đức Lêô XIII nhận thấy rằng nhiều vị tiền nhiệm của ngài đã phải đứng lên chống lại các bậc vương hầu và hoàng đế đương thời, những người tìm cách nới lỏng các ràng buộc của hôn nhân:
« […]các sắc lệnh của Đức Nicola I chống lại Lothair; của Đức Urbanô II và Đức Paschal II chống lại Philip I của nước Pháp; của Đức Celestine III và Đức Innocent III chống lại Alphonsus of Leon và Philip II của nước Pháp; của Đức Clement VII và Đức Phaolô III chống lại Henry VIII; và cuối cùng là của Đức Piô VII, vị Giáo hoàng thánh thiện và can đảm, chống lại Napoleon I, ngay khi ông đang ở đỉnh cao của sự thịnh vượng và nắm trọn quyền lực trong tay » (số 34).
Hôn nhân khác đạo
Mặc dù các vị Giáo hoàng sau này sẽ đặt ra những điều kiện đối với các cuộc hôn nhân khác đạo, nhưng trong thế kỷ XIX, những cuộc hôn nhân này, theo Đức Lêô XIII, lại bị coi là một phần trong cuộc tấn công của chủ nghĩa duy lý nhắm vào bí tích này:
« Cũng cần phải cẩn trọng để họ không nên dễ dàng bước vào hôn nhân với những người ngoài Công giáo; bởi vì thật khó mà hy vọng có sự đồng thuận trong các vấn đề khác, khi quan điểm về việc thực hành tôn giáo không đồng thuận. Những lý do khác cho thấy tại sao người ta nên e ngại các cuộc hôn nhân như vậy chủ yêu như sau: chúng tạo cơ hội cho sự kết hợp và hiệp thông bị cấm đoán trong các vấn đề tôn giáo; chúng gây nguy hiểm cho đức tin của người bạn đời Công giáo; chúng là một trở ngại trong việc giáo dục con cái đúng đắn; và chúng thường dẫn đến sự nhầm lẫn giữa chân lý và sai lầm, và niềm tin cho rằng mọi tôn giáo đều tốt như nhau » (số 43).
Bài tóm tắt thông điệp Arcanum của Bách khoa toàn thư Công giáo
Thông điệp Arcanum dạy rằng, vì đời sống gia đình là mầm mống của xã hội, và hôn nhân là nền tảng của đời sống gia đình, nên điều kiện lành mạnh của xã hội dân sự, cũng như của xã hội tôn giáo, đều phụ thuộc vào tính bất khả xâm phạm của khế ước hôn nhân.
Lập luận của thông điệp được trình bày như sau: sứ mạng của Đức Kitô là khôi phục con người trong trật tự siêu nhiên. Điều này cũng mang lại lợi ích cho con người trong trật tự tự nhiên; trước hết là cho cá nhân, và rồi, như một hệ quả tất yếu, là cho xã hội loài người. Sau khi xác lập nguyên tắc này, thông điệp bàn về hôn nhân Kitô giáo vốn thánh hóa gia đình, tức là đơn vị cơ bản của xã hội.
Khế ước hôn nhân do Thiên Chúa thiết lập ban đầu mang hai đặc tính: đơn hôn (một vợ một chồng) và bất khả phân ly. Theo thời gian, do sự yếu đuối và tính cố chấp của con người, khế ước này đã bị biến chất ; chế độ đa thê phá vỡ tính đơn hôn, còn ly hôn phá vỡ tính bất khả phân ly. Đức Kitô đã khôi phục ý niệm nguyên thủy về hôn nhân của con người, và để thánh hóa định chế này một cách trọn vẹn hơn, Người đã nâng khế ước hôn nhân lên hàng bí tích. Các quyền và nghĩa vụ tương hỗ giữa vợ và chồng được bảo đảm; đồng thời, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái cũng được xác lập: đối với cha mẹ là quyền cai quản và nghĩa vụ giáo dục; đối với con cái là quyền được cha mẹ chăm sóc và nghĩa vụ hiếu kính.
Đức Kitô đã thiết lập Giáo hội để tiếp nối sứ mạng của Người đối với nhân loại. Giáo hội luôn khẳng định tính đơn hôn và tính bất khả phân ly của hôn nhân, cũng như các quyền và bổn phận của người chồng, người vợ và con cái. Giáo hội cũng duy trì quan điểm rằng, khi khế ước tự nhiên trong hôn nhân được nâng lên hàng bí tích, thì hai thực tại này từ nay trở thành một; do đó, không thể có một khế ước hôn nhân nào giữa các Kitô hữu mà lại không phải là bí tích.
Do đó, dù thừa nhận quyền của quyền bính dân sự trong việc điều tiết các khía cạnh và hệ quả dân sự của hôn nhân, nhưng Giáo hội vẫn luôn khẳng định thẩm quyền chuyên biệt đối với khế ước hôn nhân và các yếu tố cốt yếu của nó, bởi vì hôn nhân là một bí tích. Thông điệp này minh chứng qua dòng lịch sử rằng, trong suốt nhiều thế kỷ, Giáo hội đã thực thi thẩm quyền này và quyền bính dân sự cũng đã công nhận thẩm quyền đó. Tuy nhiên, sự yếu đuối và tính cố chấp của con người đã bắt đầu chối bỏ kỷ luật Kitô giáo trong đời sống gia đình; các nhà cầm quyền dân sự bắt đầu phủ nhận thẩm quyền của Giáo hội đối với mối dây hôn nhân; và chủ nghĩa duy lý đã tìm cách hậu thuẫn cho họ bằng cách thiết lập nguyên tắc cho rằng khế ước hôn nhân hoàn toàn không phải là một bí tích, hoặc ít nhất là khế ước tự nhiên và bí tích là hai thực thể tách biệt và khác biệt nhau. Từ đó nảy sinh quan điểm về việc hôn nhân có thể bị phân ly và vấn đề ly hôn, thay thế cho tính đơn nhất và bất khả phân của mối dây hôn nhân.
Thông điệp chỉ ra những hệ quả của sự xa rời đó, trong sự phá vỡ đời sống gia đình, và những tác động tai hại của nó đối với toàn xã hội. Thông điệp cũng nêu rõ rằng, khi khẳng định thẩm quyền của mình đối với khế ước hôn nhân, Giáo hội đã chứng tỏ mình không phải là kẻ thù mà là người bạn tốt nhất của chính quyền dân sự và là người bảo vệ xã hội dân sự.
Cuối cùng, thông điệp chỉ thị cho tất cả các giám mục phải phản đối hôn nhân dân sự, đồng thời cảnh báo các tín hữu về những nguy cơ của hôn nhân khác đạo.
-------------------------------

Dưới đây là toàn văn Thông điệp:
ARCANUM, THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊÔ XIII VỀ HÔN NHÂN KITÔ GIÁO
Kính gởi quý Thượng phụ, quý Hồng y, Tổng Giám mục và Giám mục của Thế giới Công giáo, trong Ân sủng và sự Hiệp thông với Tòa Thánh.
1. Kế hoạch nhiệm mầu do bởi sự khôn ngoan của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ loài người, đã đến để thực hiện trên trần gian, hướng đến mục đích này, đó là, bằng chính Người và trong chính Người, theo Thiên ý, Người sẽ canh tân thế giới như đang dần chìm vào suy tàn theo năm tháng. Thánh Phaolô Tông đồ đã tóm lược điều này bằng những lời cao đẹp và trịnh trọng khi viết cho các tín hữu Êphêsô rằng: “Người cho chúng ta được biết thiên ý nhiệm mầu … là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (1).
2. Thật vậy, Đức Kitô, Chúa chúng ta, khi thi hành mệnh lệnh mà Chúa Cha đã trao phó, đã lập tức ban cho vạn vật một hình thức mới mẻ và vẻ đẹp tươi trẻ, xóa đi dấu tích của sự già nua cằn cỗi. Người hàn gắn những vết thương do tội nguyên tổ gây ra nơi nhân loại; Người dẫn đưa những kẻ vốn là con cái của cơn thịnh nộ quay trở lại ơn nghĩa cùng Thiên Chúa; Người soi sáng cho những tâm hồn mệt mỏi vì lầm lạc lâu dài; Người củng cố mọi nhân đức nơi những kẻ suy yếu vì đủ mọi thứ vô luân; và Người ban cho họ gia nghiệp hoan lạc đời đời, cùng niềm hy vọng chắc chắn rằng thân xác hay hư nát này một ngày kia sẽ được thông dự vào vinh quang muôn đời trên thiên quốc.
Để những ân huệ vô song ấy tồn tại bao lâu khi con người còn tồn tại trên mặt đất, Người đã ủy thác cho Hội Thánh sứ mạng tiếp tục công trình của mình; và hướng về tương lai, Người truyền cho Hội Thánh thiết lập lại trật tự có thể đã bị xáo trộn trong xã hội loài người và khôi phục lại những gì đã suy tàn hay đổ nát.
3. Mặc dù cuộc canh tân thần linh mà chúng ta vừa đề cập trước hết và trực tiếp liên hệ đến con người trong trật tự ân sủng siêu nhiên, nhưng một số hoa trái quý giá và sinh ơn cứu độ của nó cũng được trao ban dồi dào trong chính trật tự tự nhiên.
Vì thế, không chỉ từng cá nhân, mà cả toàn thể nhân loại đều được nâng cao phẩm giá một cách đáng kể. Khi trật tự Kitô giáo được thiết lập trong thế gian, con người có thể nhận biết rõ ràng sự quan phòng đầy tình phụ tử của Thiên Chúa và sống trong niềm tín thác vào sự quan phòng ấy. Nhờ đó, họ được nuôi dưỡng bởi niềm hy vọng vững bền vào sự trợ giúp bởi ơn trên - niềm hy vọng không bao giờ làm chúng ta thất vọng. Chính từ nền tảng ấy phát sinh lòng can đảm, sự tự chủ, đức nhẫn nại và sự quân bình của một tâm hồn bình an; cùng với nhiều nhân đức cao đẹp và những hành động cao thượng.
4. Quả thật, phẩm giá, sự bền vững và thiện hảo mà trật tự Kitô giáo đem lại cho cả quốc gia lẫn gia đình là điều kỳ diệu khôn tả. Nhờ đó, quyền bính của những nhà cầm quyền trở nên công chính hơn và đáng được tôn trọng hơn; sự vâng phục của dân chúng trở nên mau mắn và tự nguyện; mối hiệp nhất giữa các công dân thêm bền chặt; và các quyền lợi chính đáng trong xã hội được bảo đảm vững vàng hơn. Thực vậy, Kitô giáo đã quan tâm và tiên liệu những điều được xem là hữu ích cho đời sống quốc gia. Hơn thế nữa, như thánh Augustinô nhận định, người ta khó có thể hình dung rằng tôn giáo này có thể mang lại sự trợ giúp lớn lao hơn cho con người trong việc sống tốt và sống hạnh phúc, cho dù nó chỉ được thiết lập nhằm mục đích duy nhất là củng cố và gia tăng những điều góp phần vào sự thuận tiện và lợi ích của đời sống trần thế này.
5. Tuy nhiên, mục đích của Ta không phải là trình bày tỉ mỉ những ích lợi thuộc lĩnh vực ấy; điều Ta mong muốn bàn đến chính là sự hiệp nhất gia đình mà hôn nhân là khởi điểm và nền tảng. Quý chư huynh khả kính, nguồn gốc đích thực của hôn nhân vốn là điều ai nấy đều biết rõ. Dẫu những kẻ công kích đức tin Kitô giáo từ chối nhìn nhận giáo huấn liên tục và bất biến của Hội Thánh về vấn đề này, và từ lâu đã cố công xóa bỏ chứng từ của mọi dân tộc và mọi thời đại, thì họ vẫn không những không thể dập tắt ánh sáng hùng mạnh của chân lý, mà còn chẳng thể làm cho ánh sáng ấy suy giảm.
Ta nhắc lại điều vốn hiển nhiên và không ai có thể nghi ngờ: vào ngày thứ sáu của công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã nắn nên con người từ bụi đất và thổi sinh khí vào lỗ mũi; rồi Ngài ban cho con người một người bạn đời, được rút ra cách lạ lùng từ cạnh sườn Ađam khi ông đang chìm trong giấc ngủ.
Trong sự quan phòng khôn dò của mình, Thiên Chúa đã ấn định rằng đôi phu phụ ấy sẽ là khởi nguyên tự nhiên của toàn thể nhân loại, từ đó loài người được sinh sôi và bảo tồn nhờ khả năng truyền sinh không hề suy giảm qua mọi thời đại. Và để sự kết hợp giữa người nam và người nữ đáp ứng cách xứng hợp hơn với ý định khôn ngoan vô biên của Thiên Chúa, ngay từ thuở ban đầu, sự kết hợp ấy đã mang nơi mình hai đặc tính cao quý nhất - như thể được ghi khắc và đóng ấn sâu xa - đó là đơn hôn và vĩnh viễn.
Từ Tin Mừng, chúng ta thấy rõ giáo huấn ấy đã được chính uy quyền thần linh của Đức Giêsu Kitô công bố và xác nhận minh nhiên. Người làm chứng trước người Do Thái và trước các Tông đồ rằng hôn nhân, ngay từ khi được thiết lập, chỉ tồn tại giữa hai người mà thôi, nghĩa là giữa một người nam và một người nữ; rằng từ hai người, họ trở nên như một thân thể duy nhất; và dây liên kết hôn nhân, theo ý muốn của Thiên Chúa, được thiết lập cách chặt chẽ và bền vững đến nỗi không một ai có thể tháo gỡ hay phân ly. “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (2).
6. Tuy nhiên, hình thức hôn nhân cao quý và siêu việt ấy dần dần bị suy thoái và mai một nơi các dân ngoại; và ngay nơi người Do Thái, nó cũng phần nào bị che khuất và lu mờ. Quả vậy, giữa họ đã từ từ du nhập một tập tục phổ biến, theo đó người đàn ông được coi là hợp pháp khi có nhiều hơn một người vợ. Sau cùng, “vì lòng họ chai đá” (3), Môsê đã nhân nhượng cho phép người ta rẫy vợ; và chính từ đó, cánh cửa dẫn đến việc ly dị đã được mở ra.
7. Nhưng sự suy đồi và biến dạng của hôn nhân nơi dân ngoại thật khó diễn tả, vì hôn nhân ở khắp nơi đều bị nhấn chìm trong lầm lạc và dục vọng cách trầm trọng. Hầu như mọi dân tộc đều quên mất đi ý nghĩa thực sự và nền tảng của hôn nhân; và thế là khắp nơi, những đạo luật liên quan đến hôn nhân được ban hành, thoạt nhìn dường như vì lợi ích quốc gia, nhưng chúng lại không hề phù hợp với trật tự tự nhiên. Những nghi thức long trọng do các nhà lập pháp tự đặt ra khiến cho người phụ nữ có thể mang danh nghĩa cao quý là “vợ” hoặc danh xấu hổ là “thứ thiếp”. Thực trạng này đi đến mức mà quyền cho phép hay không cho phép kết hôn lại tùy thuộc hoàn toàn vào ý muốn của những người đứng đầu quốc gia, và các đạo luật của họ nhiều khi trái hẳn lẽ công bằng, thậm chí cực kỳ bất công.
Thêm vào đó, chế độ đa thê và đa phu, cũng như việc ly dị, đã làm cho dây liên kết hôn nhân bị nới lỏng cách nghiêm trọng. Từ đó phát sinh sự rối loạn trầm trọng trong các quyền lợi và bổn phận hỗ tương giữa vợ chồng. Người chồng tự cho mình quyền thống trị trên vợ, tùy ý sai khiến nàng, nhiều khi không có lý do chính đáng; trong khi chính mình lại tự do “lao đầu vào những đam mê trụy lạc, buông thả và không kiềm chế, nơi chốn ăn chơi và giữa các kỹ nữ của mình, như thể phẩm giá của người phạm tội, chứ không phải ý chí của kẻ phạm tội, đã tạo nên tội.”(4) Khi sự buông thả của người chồng biểu lộ như thế, thì không gì đáng thương cho bằng thân phận người vợ: bị hạ thấp đến mức gần như chỉ còn bị coi là phương tiện để thỏa mãn dục vọng hoặc để sinh con nối dõi. Các thiếu nữ đến tuổi kết hôn bị mua bán không chút hổ thẹn, chẳng khác nào một thứ hàng hóa,(5) và đôi khi, người cha hoặc người chồng còn được trao quyền kết án tử hình đối với người vợ. Hệ quả tất yếu là con cái sinh ra từ những cuộc hôn nhân như thế thường bị xem như tài sản phục vụ lợi ích của quốc gia, hoặc bị coi là sở hữu của người cha gia đình;(6) và luật pháp cho phép ông, theo ý riêng mình, quyết định việc cưới gả của các con, thậm chí thực thi trên chúng quyền sinh sát tàn bạo.
8. Giữa muôn vàn tật xấu và ô nhục đã làm hoen ố hôn nhân, cuối cùng một sự nâng đỡ và phương thuốc cứu chữa đã được ban xuống từ trời cao. Đức Giêsu Kitô, Đấng phục hồi phẩm giá con người và kiện toàn lề luật Môsê, đã quan tâm không ít đến vấn đề hôn nhân ngay từ đầu sứ vụ của Người. Người đã làm cho tiệc cưới tại Cana xứ Galilê trở nên cao quý nhờ sự hiện diện của Người, và ghi dấu bằng phép lạ đầu tiên Người thực hiện;(7) vì thế, từ ngày hôm đó, dường như một khởi đầu của sự thánh thiện mới đã được ban cho hôn nhân của con người. Sau này, Người đưa hôn nhân trở lại phẩm giá nguyên thủy bằng việc lên án thói quen của người Do Thái trong việc lạm dụng chế độ đa thê và quyền ly dị; hơn nữa, Người còn truyền dạy nghiêm khắc rằng không ai được phép phá bỏ sự kết hợp mà chính Thiên Chúa đã thánh hiến bằng mối dây vĩnh viễn. Vì thế, gạt bỏ những khó khăn người ta vin vào lề luật Môsê, Người, với tư cách là Đấng Lập Luật tối cao, đã phán quyết về hôn nhân như sau: “Thầy bảo cho anh em: Ai rẫy vợ mình, trừ vì tội ngoại tình, và cưới người khác, là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình.”(8)
9. Nhưng điều đã được Thiên Chúa thiết lập và ấn định về hôn nhân còn được truyền lại cho chúng ta cách trọn vẹn và rõ ràng hơn, qua truyền thống và Thánh Kinh, nhờ các Tông Đồ - những vị rao giảng luật Chúa. Quả thật, giáo huấn mà “các Giáo Phụ, các Công đồng và Truyền Thống của Giáo hội hoàn vũ luôn dạy”(9) đều quy về các Tông đồ như là những bậc thầy của chúng ta: Đức Kitô, Chúa chúng ta, đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích; Người ban cho vợ chồng, được gìn giữ và củng cố bởi ơn thánh mà công nghiệp của Người, khả năng đạt tới sự thánh thiện trong đời sống hôn nhân; và một cách kỳ diệu, khi làm cho hôn nhân trở thành dấu chỉ mầu nhiệm của sự kết hợp giữa chính Người và Hội Thánh, Người không chỉ kiện toàn tình yêu tự nhiên,(10) mà còn làm cho sự kết hợp tự nhiên vốn bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ trở nên hoàn hảo hơn nhờ mối dây yêu thương từ trời. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Êphêsô: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình như chính Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh… Cũng vậy, chồng phải yêu thương vợ như chính thân mình… Vì chẳng ai ghét thân xác mình, nhưng nuôi dưỡng và chăm sóc nó, cũng như Đức Kitô chăm sóc Hội Thánh; vì chúng ta là chi thể của thân thể Người, thuộc xương thịt Người. Bởi thế, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ nên một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật lớn lao; tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.”(11)
Cũng trong giáo huấn của các Tông đồ, chúng ta học được rằng tính đơn hôn và bất khả phân ly vĩnh viễn của hôn nhân - những điều kiện thiết yếu ngay từ khởi đầu - phải được giữ gìn thánh thiện và bất khả xâm phạm, theo lệnh truyền của Đức Kitô. Thánh Phaolô còn nói: “Còn với những người đã kết hôn, không phải tôi, nhưng là Chúa truyền dạy: người vợ không được lìa bỏ chồng; nếu đã lìa, thì phải ở độc thân hoặc làm hòa với chồng.”(12) Và thêm nữa: “Người vợ bị ràng buộc bởi luật cho đến khi chồng còn sống; nhưng nếu chồng qua đời, thì chị được tự do.”(13) Chính vì thế mà hôn nhân là “một bí tích cao cả”(14), “đáng quý trọng nơi mọi người,”(15) thánh thiện, tinh tuyền và đáng được tôn kính như hình mẫu và biểu tượng của những mầu nhiệm cao cả nhất.
10. Hơn nữa, sự hoàn thiện và viên mãn của hôn nhân Kitô giáo không chỉ giới hạn trong những điểm vừa nói. Trước hết, hôn nhân đã được ban cho một mục đích cao cả và cao quý hơn bao giờ hết. Theo lệnh truyền của Đức Kitô, hôn nhân không chỉ nhắm đến việc duy trì nòi giống loài người, mà còn để sinh ra những người con cho Hội Thánh, “đồng công dân với các thánh và người nhà của Thiên Chúa,”(16) để “một dân tộc được sinh ra và dưỡng dục cho việc thờ phượng và tôn thờ Thiên Chúa thật và Đấng Cứu Độ chúng ta, Đức Giêsu Kitô.”(17)
11. Thứ đến, những bổn phận hỗ tương của vợ chồng đã được xác định rõ ràng, và các quyền lợi của mỗi bên cũng được ấn định chính xác. Cả hai buộc phải dành cho nhau một tình yêu lớn lao, luôn trung tín với lời thề hôn phối, và quảng đại nâng đỡ, giúp đỡ lẫn nhau. Người chồng là chủ gia đình và là đầu của vợ. Người vợ, vì là thịt bởi thịt, xương bởi xương của chồng, nên phải vâng phục chồng; không phải như một nô lệ, nhưng như một người bạn đồng hành, để sự vâng phục của nàng không hề thiếu phẩm giá hay danh dự. Bởi vì người chồng là hình ảnh của Đức Kitô, và người vợ là hình ảnh của Hội Thánh, nên cả trong lệnh truyền của chồng lẫn trong sự vâng phục của vợ, luôn phải có một tình yêu phát xuất từ trời cao hướng dẫn cả hai trong bổn phận của mình. Vì “chồng là đầu của vợ, như Đức Kitô là đầu của Hội thánh… Vậy như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng hãy tùng phục chồng trong mọi sự.”(18)
12. Đối với con cái, họ phải tùng phục cha mẹ, vâng lời và kính trọng các ngài vì lương tâm thúc bách; còn cha mẹ có bổn phận chăm sóc và lo lắng trong việc giáo dục, rèn luyện các đức tính của con cái: “Hỡi những người làm cha,… hãy giáo dục và sửa dạy chúng trong kỷ luật và giáo huấn của Chúa.”(19) Từ đây, chúng ta thấy rõ bổn phận của vợ chồng không hề ít hay suy giảm; tuy nhiên, đối với những đôi vợ chồng sống đạo đức, gánh nặng ấy không chỉ có thể chịu đựng, nhưng còn trở nên đáng trân trọng, nhờ sức mạnh mà họ lãnh nhận qua bí tích.
13. Do đó, Đức Kitô, khi kiện toàn hôn nhân để đạt đến mức cao cả tuyệt vời như thế, đã phó thác toàn bộ nguyên tắc liên quan đến việc này cho Hội Thánh của Người. Hội Thánh, ở mọi nơi và mọi thời, đã thi hành quyền bính của mình đối với hôn nhân Kitô giáo, khiến mọi người thấy rõ quyền ấy là bẩm sinh thuộc về Hội Thánh; không phải do con người ban cho, mà là do ý muốn thần linh của Đấng Sáng lập Hội Thánh. Sự quan tâm bền bỉ và cảnh giác của Hội Thánh trong việc bảo vệ hôn nhân, bằng cách gìn giữ sự thánh thiêng của nó, hiển nhiên đến nỗi không cần chứng minh. Chúng ta đều biết Công đồng Giêrusalem đã lên án tình yêu phóng túng và bừa bãi,(20) cũng như Thánh Phaolô đã nhân danh Thiên Chúa kết án các tín hữu Côrintô loạn luân.(21) Hơn nữa, ngay từ buổi ban đầu của Giáo hội Kitô giáo, với quyết tâm không ngừng nghỉ, những nỗ lực của nhiều kẻ nhắm đến việc phá hoại hôn nhân Kitô giáo đã bị đẩy lùi và đánh bại, như những người theo thuyết Ngộ Đạo, phái Manikê và phái Montanô; và trong thời đại của chúng ta là phái Mặc Môn, phái St. Simon, phái Phalanstere và chủ nghĩa cộng sản.(22)
14. Hơn nữa, tương tự như vậy, một luật hôn nhân công bằng cho mọi người - và như nhau cho tất cả - đã được ban hành khi Hội Thánh xóa bỏ sự phân biệt xưa kia giữa người nô lệ và người tự do; và nhờ thế, quyền của người chồng và người vợ được đặt trên cùng một bình diện. Vì, như thánh Giêrônimô nói, “với chúng ta, điều gì là bất hợp pháp cho người nữ thì cũng bất hợp pháp cho người nam; và sự hạn chế như nhau được áp đặt trong những điều kiện bình đẳng.”(23) Các quyền tương tự cũng được thiết lập cho tình yêu hỗ tương và cho sự trao đổi bổn phận; phẩm giá của người phụ nữ được khẳng định và bảo đảm; và người đàn ông bị cấm áp dụng hình phạt tử hình đối với hành vi ngoại tình,(25) hoặc bị cấm vi phạm lời thề hứa chung thủy của mình một cách dâm đãng và trơ trẽn.
15. Hơn nữa, thật là một ơn phúc lớn lao khi Hội Thánh đã giới hạn, trong mức cần thiết, quyền lực của người cha gia đình, để con cái khi muốn kết hôn không bị tước mất quyền tự do chính đáng;(26) khi, nhằm quảng bá rộng rãi tình yêu siêu nhiên của đôi vợ chồng, Hội Thánh ra sắc lệnh tuyên bố những cuộc hôn nhân trong một số mức độ huyết tộc hay thân tộc là vô hiệu;(27) khi Hội Thánh dốc hết tâm trí bảo vệ hôn nhân khỏi mọi lầm lạc, bạo lực và gian dối, trong mức tối đa có thể;(28) khi Hội Thánh luôn mong muốn giữ gìn sự trong sạch thánh thiện của giường hôn phối, sự an toàn của các nhân vị,(29) danh dự của vợ chồng,(30) và sự thánh thiện của tôn giáo.(31) Sau cùng, với tầm nhìn khôn ngoan trong việc lập luật như thế, Hội Thánh đã bảo vệ định chế thần linh của mình đến mức không ai suy nghĩ ngay chính về những vấn đề này mà lại không nhìn thấy làm thế nào, về mặt hôn nhân, Hội Thánh chính là người bảo vệ và gìn giữ tuyệt hảo của nhân loại; và hơn thế nữa, sự khôn ngoan của Hội Thánh đã chiến thắng vẻ vang qua dòng thời gian, qua những cuộc tấn công của con người và qua muôn vàn biến động của thời cuộc.
16. Thế nhưng, do nỗ lực của kẻ thù muôn thuở của nhân loại, vẫn có những người - vô ơn trước biết bao phúc lành khác của ơn cứu chuộc - lại khinh chê, thậm chí hoàn toàn chối bỏ việc hôn nhân được khôi phục về sự hoàn thiện nguyên thủy. Thật đáng trách khi một số người thời xưa đã thể hiện mình là kẻ thù của hôn nhân theo nhiều cách; nhưng trong thời đại của chúng ta, còn nguy hiểm hơn nhiều là tội lỗi của những kẻ muốn xuyên tạc hoàn toàn bản chất của hôn nhân, dù nó hoàn hảo và trọn vẹn trong mọi chi tiết và khía cạnh. Lý do chính khiến họ hành động như vậy là vì rất nhiều người, thấm nhiễm những tư tưởng của một triết lý sai lạc và suy đồi về luân lý, cho rằng không gì khó chịu hơn việc phải phục tùng và vâng lời. Họ ra sức, với tất cả khả năng, để khiến không chỉ từng cá nhân, mà cả gia đình, thậm chí toàn thể xã hội loài người, trong kiêu căng tự mãn, khinh thường quyền tối thượng của Thiên Chúa.
17. Hiện nay, vì gia đình và toàn thể xã hội loài người nói chung đều phát xuất từ hôn nhân, nên những người này nhất quyết không cho phép hôn nhân trở thành đối tượng thuộc thẩm quyền của Hội Thánh. Trái lại, họ tìm cách tước bỏ mọi tính thánh thiêng của hôn nhân, và do đó thu hẹp nó trong phạm vi những quyền hạn do con người lập ra, chịu sự điều hành và quản lý bởi luật pháp dân sự của cộng đồng. Do đó, họ nhất mực gán mọi quyền hành đối với hôn nhân cho các nhà cầm quyền dân sự, không dành chút nào cho Hội Thánh; và khi Hội Thánh thi hành bất kỳ quyền hành nào, họ cho rằng Hội Thánh chỉ hành động nhờ đặc ân của quyền bính dân sự hoặc là làm tổn hại quyền bính dân sự. Họ nói rằng giờ là lúc các nguyên thủ quốc gia phải kiên quyết bảo vệ quyền của mình, và nỗ lực hết sức để giải quyết mọi sự liên quan đến hôn nhân theo cách mà họ cho là tốt nhất.
18. Từ đó mới nảy sinh cái gọi là “hôn nhân dân sự”; từ đó xuất hiện những luật lệ đặt ra các ngăn trở đối với hôn nhân; từ đó phát sinh những phán quyết của tòa án ảnh hưởng đến khế ước hôn nhân, về việc liệu nó có được lập đúng cách hay không. Sau cùng, như chúng ta thấy, mọi quyền quy định hay phán xét trong loại vụ án này đều nhất định bị chối bỏ đối với Hội Thánh Công giáo, đến nỗi người ta không còn lưu tâm gì đến quyền bính thần thiêng hay các luật lệ khôn ngoan của Hội Thánh. Tuy nhiên, dưới những luật lệ này, suốt nhiều thế kỷ, các quốc gia đã sống dưới ánh sáng văn minh được soi chiếu rực rỡ với sự khôn ngoan của Đức Kitô Giêsu.
19. Thế nhưng, những người theo thuyết tự nhiên cũng như những ai tôn thờ “thần tính của quốc gia” trên hết mọi sự, và cố gắng gây rối loạn toàn bộ cộng đồng bằng những học thuyết nguy hại như vậy, đều không thể thoát khỏi lời buộc tội mê lầm. Hôn nhân có Thiên Chúa là Đấng Thiết Lập, và ngay từ khởi đầu đã là hình bóng tiên báo về mầu nhiệm Nhập Thể của Con Ngài; vì thế, nơi hôn nhân có điều gì đó thánh thiêng và tôn giáo; không phải ngoại lai, nhưng là bẩm sinh; không do con người tạo ra, nhưng do chính bản tính ghi khắc. Vì thế, Đức Innocentê III và Đức Honoriô III, các vị tiền nhiệm của Ta, đã không hề sai lầm hay vội vàng khi khẳng định rằng nơi những người tin cũng như những người không tin vẫn có một bí tích hôn nhân. Ta viện dẫn các chứng tích cổ xưa, cũng như các phong tục và tập quán của những dân tộc văn minh và am hiểu nhất về luật pháp và công bình. Trong tâm thức họ, đã có một kết luận cố định và chắc chắn rằng, nghĩ đến hôn nhân là nghĩ đến nó gắn liền với tôn giáo và sự thánh thiện. Bởi vậy, trong các dân tộc ấy, hôn nhân thường được cử hành với những nghi thức tôn giáo, dưới quyền các thượng tế và qua thừa tác vụ của hàng tư tế. Ngay cả trong tâm hồn những người chưa biết đến giáo lý từ trời, sức mạnh của bản tính tự nhiên, của ký ức về cội nguồn, và của lương tâm nhân loại vẫn rất mạnh mẽ. Do đó, vì hôn nhân là thánh thiêng bởi sức mạnh, bản chất và tự thân của nó, nên nó không cần phải được điều chỉnh và quản trị bởi ý muốn của các nhà cầm quyền dân sự, nhưng bởi quyền bính thần linh của Hội Thánh, là thể chế duy nhất thể hiện chức vụ giảng dạy trong các vấn đề linh thánh.
20. Kế đến, cần phải xét đến phẩm giá của bí tích, bởi nhờ được nâng lên hàng bí tích, hôn nhân Kitô giáo đã trở nên hình thức kết hợp cao quý nhất trong tất cả các hình thức kết hợp hôn nhân. Nhưng việc ban hành và quy định liên quan đến bí tích, theo ý muốn của chính Đức Kitô, là một phần quyền hạn và bổn phận của Hội thánh, đến nỗi thật rõ rang phi lý khi cho rằng ngay cả một phần nhỏ quyền hạn ấy đã được chuyển giao cho nhà cầm quyền dân sự.
21. Cuối cùng, cần ghi nhớ sức nặng to lớn và sự thử thách quan trọng của lịch sử, qua đó chứng minh rõ ràng rằng quyền lập pháp và tư pháp, mà Ta đang nói đến, đã được Hội Thánh sử dụng cách tự do và liên tục, ngay cả trong những thời điểm mà một số người ngây thơ cho rằng người đứng đầu Nhà nước đã đồng ý hoặc nhắm mắt làm ngơ cho điều đó. Chẳng hạn, thật khó tin và hoàn toàn phi lý khi cho rằng Đức Kitô, Chúa chúng ta, đã lên án tục đa thê và ly dị đã tồn tại từ lâu bằng quyền bính được ủy thác cho Người bởi quan tổng đốc tỉnh, hoặc thủ lãnh của người Do Thái. Cũng sẽ thật phi lý nếu nghĩ rằng thánh Phaolô đã dạy rằng ly dị và hôn nhân loạn luân là bất hợp pháp, đó là vì Tiberius, Caligula và Nero đồng ý với ngài hoặc bí mật ra lệnh cho ngài dạy như vậy. Không một người nào tỉnh táo có thể bị thuyết phục rằng Giáo hội đã đưa ra rất nhiều luật lệ về tính thánh thiện và tính bất khả phân ly của hôn nhân,(34) và hôn nhân của nô lệ với người tự do,(35) bằng quyền lực nhận được từ các hoàng đế Rôma, những người thù địch nhất với danh Kitô hữu, mà mong muốn mạnh mẽ nhất của họ là phá hoại bằng bạo lực và tiêu diệt Giáo hội đang trỗi dậy của Chúa Kitô. Càng không ai có thể tin điều này là đúng, khi luật của Giáo hội đôi khi khác biệt với luật dân sự đến mức thánh Inhaxiô Tử đạo,(36) thánh Justinô,(37) Athenagoras,(38) và Tertullianô(39) đã công khai tố cáo một số cuộc hôn nhân bị trừng phạt bởi luật hoàng đế, là bất công và ngoại tình.
22. Hơn nữa, sau khi mọi quyền bính được trao cho các hoàng đế Kitô giáo, các Giáo hoàng và các Giám mục quy tụ ở công đồng vẫn giữ vững sự độc lập và ý thức về quyền hạn của mình trong việc ban hành hoặc ngăn cấm, về hôn nhân, bất cứ điều gì các ngài cho là có lợi hoặc thích hợp vào thời điểm đó, cho dù điều đó có vẻ trái ngược với luật pháp của Nhà nước đến đâu. Người ta biết rõ rằng, liên quan đến những trở ngại phát sinh từ mối ràng buộc hôn nhân, do lời thề, sự khác biệt về tín ngưỡng, quan hệ huyết thống, một số hình thức tội phạm và từ lời hứa đã cam kết trước đó, nhiều sắc lệnh đã được các nhà cầm quyền của Giáo hội ban hành tại Công đồng Granada,(40) Công đồng Arles,(41) Công đồng Chalcedon,(42) Công đồng Milevum II,(43) và những nơi khác, thường rất khác với các sắc lệnh được luật pháp của đế chế phê chuẩn. Hơn nữa, các vị vua Kitô giáo không hề tự ý nắm giữ bất kỳ quyền lực nào trong vấn đề hôn nhân Kitô giáo, trái lại, họ thừa nhận và tuyên bố rằng quyền đó thuộc về Hội Thánh một cách trọn vẹn. Trên thực tế, Honorius, Theodosius trẻ và Justinian,(44) cũng không ngần ngại thừa nhận rằng quyền lực duy nhất thuộc về họ liên quan đến hôn nhân là quyền hành động với tư cách người giám hộ và người bảo vệ giáo luật thánh thiêng. Nếu bất cứ khi nào họ ban hành một sắc lệnh nào đó liên quan đến ngăn trở hôn nhân, thì họ luôn tự nguyện giải thích lý do, khẳng định rằng họ hành động như thế với sự cho phép và thẩm quyền của Hội Thánh, (45) mà họ luôn cung kính chấp nhận trong mọi vấn đề liên quan đến tính hợp pháp (46) và vấn đề ly dị; (47) cũng như trong tất cả những điểm nào đó có mối liên hệ thiết yếu với mối dây ràng buộc hôn nhân. (48) Do đó, Công đồng Trentô hoàn toàn có quyền khi định nghĩa rằng “Hội Thánh có quyền thiết lập các ngăn trở tiêu hôn” (49) và “các vụ việc liên quan đến hôn nhân thuộc thẩm quyền các thẩm phán của Hội Thánh.” (50)
23. Vậy, đừng ai để mình bị lừa dối bởi sự phân biệt mà một số luật gia dân sự đã kiên quyết nhấn mạnh, cụ thể là sự phân biệt theo đó họ tách rời khế ước hôn nhân ra khỏi bí tích, với ý định trao ban khế ước ấy cho quyền lực và ý muốn của các nhà cầm quyền của Nhà nước, trong khi chỉ giữ lại những vấn đề liên quan đến bí tích cho Hội Thánh. Sự phân biệt, hay đúng hơn là sự tách rời như thế, không thể nào được chấp nhận; bởi vì chắc chắn rằng trong hôn nhân Kitô giáo, khế ước không thể tách rời khỏi bí tích, và vì lý do đó, khế ước ấy không thể là đích thực và hợp pháp nếu không đồng thời là một bí tích. Bởi vì chính Đức Kitô, Chúa chúng ta, đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích, nhưng hôn nhân, tự bản chất chính là khế ước, miễn là khế ước đó được thiết lập một cách hợp pháp.
24. Hơn nữa, hôn nhân là một bí tích, bởi vì chính nó là một dấu chỉ thánh thiêng ban phát ân sủng, diễn tả hình ảnh về cuộc hôn ước nhiệm mầu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Nhưng hình thức và hình ảnh của cuộc hôn ước ấy được thể hiện cách rõ ràng nơi mối dây kết hợp mật thiết nhất, trong đó người nam và người nữ được liên kết nên một; và mối dây liên kết ấy không gì khác là chính hôn nhân. Do đó, thật rõ ràng rằng, đối với các Kitô hữu, mỗi cuộc hôn nhân đích thực, tự bản chất và tự chính nó, đều là một bí tích; và không có gì xa rời chân lý hơn việc nói rằng bí tích chỉ là một sự trang trí hay một ân huệ bên ngoài thêm vào, mà có thể tách rời hay xé bỏ khỏi khế ước hôn nhân theo ý muốn tùy tiện của con người. Vì vậy, không thể dựa vào lý luận nào để diễn tả, cũng không thể căn cứ vào chứng cứ lịch sử nào để chứng minh, rằng thẩm quyền về các cuộc hôn nhân Kitô giáo đã từng được trao một cách hợp pháp cho nhà cầm quyền của Nhà nước. Trong vấn đề này, nếu quyền lợi của ai đó bị xâm phạm, thì không ai có thể thực sự nói rằng nó đã bị Hội Thánh xâm phạm. Ước mong những giáo thuyết của các nhà tự nhiên luận, ngoài việc đầy dẫy sự dối trá và bất công, không còn là nguồn cội sản sinh ra biết bao tai hại và thảm họa! Nhưng thật dễ dàng để nhận thấy sự dữ nghiêm trọng mà những cuộc hôn nhân bất chính đã, đang và sẽ gây ra cho toàn thể xã hội loài người.
25. Thật vậy, lúc khởi đầu thế giới, theo sự sắp đặt của Thiên Chúa, những điều do Ngài và tự nhiên thiết lập sẽ càng được chúng ta chứng minh là hữu ích và tốt lành hơn, khi chúng càng được giữ nguyên trong sự toàn vẹn của chúng. Vì Thiên Chúa, Đấng dựng nên muôn loài, thấu suốt điều tốt đẹp cho việc thiết lập và duy trì từng thụ tạo của Ngài, đã sắp đặt theo ý muốn và trí tuệ của Ngài để mỗi tạo vật có thể đạt được cùng đích mà nó được dựng nên. Nếu sự liều lĩnh hay lòng dạ xấu xa của con người cả gan thay đổi hoặc làm xáo trộn trật tự đã được thiết lập với sự quan phòng trọn vẹn, thì những kế hoạch khôn ngoan vô biên và đầy hữu ích ấy bắt đầu trở nên có hại hoặc mất đi tính hữu ích, một phần vì qua sự thay đổi, chúng đã làm mất đi khả năng mang lại lợi ích; và một phần, vì Thiên Chúa chọn cách trừng phạt sự kiêu căng và sự cả gan của con người. Giờ đây, những ai phủ nhận hôn nhân là thánh thiện và hạ thấp nó, tước bỏ mọi thánh thiện để xếp nó vào hàng những thực tại thuần túy trần thế, thì chính họ đã phá bỏ nền tảng của tự nhiên, không chỉ chống lại kế hoạch của Thiên Chúa Quan Phòng, mà còn hủy hoại trật tự mà Thiên Chúa đã thiết lập, bao lâu họ có thể. Vì thế, đừng có ai ngạc nhiên khi từ những nỗ lực điên rồ và bất kính như vậy, phát sinh muôn vàn điều tai hại, gây tổn hại nghiêm trọng nhất cho phần rỗi các linh hồn cũng như cho an ninh xã hội.
26. Vậy nên, nếu chúng ta xét đến mục đích của định chế hôn nhân do Thiên Chúa thiết lập, chúng ta sẽ thấy rõ ràng rằng Thiên Chúa đã muốn hôn nhân trở thành nguồn mạch phong phú cho lợi ích cá nhân và cho phúc lợi chung xã hội. Thật vậy, hôn nhân không chỉ được thiết lập để duy trì loài người, nhưng còn để đời sống của vợ chồng trở nên tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Điều này được thể hiện qua nhiều cách: bằng việc vợ chồng cùng nhau san sẻ gánh nặng qua sự trợ giúp lẫn nhau; bằng tình yêu thủy chung và bền vững; bằng việc chung hưởng mọi của cải; và nhờ ân sủng từ trời tuôn đổ qua bí tích. Hôn nhân cũng có thể làm rất nhiều điều cho thiện ích gia đình, bởi vì, bao lâu phù hợp với tự nhiên và theo đúng các chỉ dẫn của Thiên Chúa, hôn nhân có sức mạnh củng cố sự hiệp nhất tâm hồn nơi cha mẹ; bảo đảm sự giáo dục thánh thiện cho con cái; điều hòa quyền bính của người cha bằng cách noi theo quyền bính của Thiên Chúa; làm cho con cái biết vâng lời cha mẹ và người tôi tớ biết vâng phục ông chủ. Từ những cuộc hôn nhân như thế, Nhà nước có thể mong đợi một cách chính đáng vào một thế hệ công dân, được thúc đẩy bởi một tinh thần tốt đẹp và tràn đầy lòng sùng kính cũng như yêu mến Thiên Chúa, nhận biết bổn phận vâng lời những người cai trị một cách công chính và hợp pháp, biết yêu thương mọi người và không gây tổn hại cho ai.
27. Những hoa trái phong phú và rực rỡ này luôn là thành quả của hôn nhân, miễn là nó duy trì những ân huệ về sự thánh thiện, hiệp nhất và bất khả phân ly, từ đó phát sinh mọi sức mạnh sinh hoa kết trái và cứu độ. Không ai có thể nghi ngờ rằng hôn nhân sẽ luôn sinh ra những hoa trái ấy ở mọi thời đại và mọi nơi, nếu nó được đặt dưới năng quyền và sự bảo trợ của Hội Thánh, người gìn giữ và bảo vệ trung thành các ân huệ ấy. Thế nhưng, hiện nay một xu hướng muốn thay thế luật tự nhiên và Thiên luật bằng nhân luật đang lan rộng; và do đó, lý tưởng tuyệt vời nhất của hôn nhân, vốn được chính tự nhiên khắc ghi vào tâm hồn con người và như thể được đóng ấn bởi chính dấu ấn của tự nhiên, đang dần bị mai một; hơn thế nữa, ngay cả trong các cuộc hôn nhân Kitô giáo, sức mạnh mang lại biết bao điều tốt lành này cũng đã bị suy yếu bởi tội lỗi của con người. Có ích lợi gì khi một quốc gia thiết lập hôn nhân tách rời Kitô giáo, vốn là cội nguồn của mọi điều tốt lành, gìn giữ vun đắp các nhân đức cao thượng, khơi dậy và thúc đẩy chúng ta hướng tới những gì vốn là vinh quang của một tâm hồn cao cả và quảng đại? Khi Kitô giáo bị hạ giá và loại trừ, hôn nhân tất yếu rơi vào cảnh nô lệ cho bản tính tội lỗi và những đam mê thấp hèn của con người, và hôn nhân ấy chỉ nhận được ít sự bảo vệ từ sự thiện hảo tự nhiên. Một dòng xoáy tội lỗi đã tuôn chảy từ nguồn này, không chỉ vào riêng các gia đình, mà còn và cả các quốc gia. Bởi vì, khi lòng kính sợ Chúa đầy ích lợi bị loại bỏ, và khi không còn tìm thấy sự nâng đỡ tinh thần trong những gian lao vất vả, điều vốn dĩ dồi dào hơn cả trong Kitô giáo, thì thường xảy ra, và cũng đúng là lẽ tự nhiên, rằng những bổn phận và phục vụ lẫn nhau trong đời sống hôn nhân dường như không thể chịu nổi; và do đó, rất nhiều người ao ước được tháo bỏ mối dây hôn nhân, mà họ tin rằng chỉ do luật lệ loài người và ý muốn của riêng họ tạo nên, bất cứ khi nào sự bất đồng tính khí, hoặc những cuộc cãi vã, hoặc sự vi phạm lời thế hứa hôn nhân, hoặc sự đồng thuận chia tay, hoặc những lý do khác khiến họ nghĩ rằng tốt hơn là được giải phóng. Cho nên, nếu họ bị luật ngăn cản không thực hiện được ước muốn này, thì họ lại cho rằng các luật đó là bất công, vô nhân đạo và trái với quyền lợi của công dân tự do; đồng thời họ kêu gọi phải nỗ lực hủy bỏ những đạo luật ấy và ban hành một bộ luật nhân đạo hơn cho phép ly hôn.
28. Tuy nhiên, dù nhiều nhà lập pháp ngày nay mong muốn tự bảo vệ mình khỏi sự vô đạo của những con người như đã đề cập, nhưng họ không thể làm được điều đó, bởi vì họ tuyên bố giữ gìn và bảo vệ chính những nguyên tắc pháp luật tương tự; do đó, họ phải hòa theo xu thế thời đại, và làm cho việc ly hôn trở nên dễ dàng hơn. Chính lịch sử cũng đã chứng minh điều này; bởi vì, để lấy một ví dụ điển hình, chúng ta nhận thấy rằng, vào cuối thế kỷ trước, việc ly hôn đã được luật pháp cho phép trong cuộc chính biến hay, đúng hơn, trong cái người ta có thể gọi là cuộc đại họa ở Pháp, khi xã hội hoàn toàn suy đồi vì lìa bỏ Thiên Chúa. Ngày nay, nhiều người mong muốn những luật lệ ấy được tái lập, vì họ muốn Thiên Chúa và Hội Thánh hoàn toàn bị trục xuất và loại bỏ khỏi đời sống xã hội loài người, điên rồ nghĩ rằng chính trong những luật lệ đó sẽ tìm thấy phương thuốc cuối cùng cho sự suy đồi đạo đức đang tiến triển nhanh chóng.
29. Thật vậy, khó có thể diễn tả hết được những tai họa nghiêm trọng phát sinh từ ly hôn. Khế ước hôn nhân do đó bị biến đổi, sự tử tế đối với nhau bị suy yếu; những cám dỗ đáng thương dẫn đến sự thiếu chung thủy được tạo ra; việc giáo dục và dạy dỗ con cái bị tổn hại; cơ hội cho sự tan vỡ gia đình được mở rộng; những mầm mống bất hòa được gieo rắc trong các gia đình; phẩm giá của người nữ bị hạ thấp và coi rẻ, và phụ nữ có nguy cơ bị bỏ rơi sau khi đã phục vụ cho thú vui của đàn ông. Vì không gì có sức phá hoại các gia đình và hủy hoại nền tảng của các vương quốc bằng sự suy đồi đạo đức, nên dễ dàng nhận thấy rằng ly hôn là mối đe dọa lớn nhất đối với sự thịnh vượng của gia đình và quốc gia, bởi vì nó xuất phát từ sự suy đồi luân lý của con người, và như kinh nghiệm cho chúng ta thấy, mở đường cho mọi sự dữ trong đời sống công cộng cũng như đời sống riêng tư.
30. Hơn thế nữa, nếu cân nhắc kỹ lưỡng, ta sẽ nhận thấy những tai họa này càng trở nên đặc biệt nguy hiểm, bởi vì, một khi ly hôn được dung túng, sẽ không có một giới hạn nào đủ mạnh để giữ cho nó nằm trong phạm vi được vạch ra hay dự liệu ban đầu. Thật vậy, việc làm gương có sức mạnh rất lớn, nhưng lòng đam mê còn mạnh mẽ hơn nữa. Với những tác động thúc đẩy đó, việc mong muốn ly hôn, ngày càng lan rộng theo những con đường lắt léo, sẽ xâm nhập vào tâm trí nhiều người như một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, hoặc như một trận lũ tràn qua mọi rào cản. Đây là những sự thật không thể nghi ngờ, vốn đã rõ ràng, nhưng sẽ càng rõ ràng hơn nếu ta nhớ lại những bài học kinh nghiệm. Một khi con đường dẫn đến ly hôn được pháp luật trải rộng, ngay lập tức những cuộc cãi vã, ghen tuông và các cuộc ly thân theo pháp lý ngày càng gia tăng; và một lối sống phóng túng lan tràn đến mức những người từng ủng hộ ly hôn cũng phải hối hận về việc mình đã làm, và lo sợ rằng nếu không mau chóng tìm cách sửa đổi bằng việc bãi bỏ luật pháp, thì chính quốc gia có thể sẽ bị hủy hoại. Người Rôma xưa đã từng kinh sợ trước cặp đôi đầu tiên ly hôn, nhưng chẳng bao lâu, mọi ý thức về sự đoan trang đã bị ăn mòn trong tâm hồn họ; sự tiết chế của đam mê cũng biến mất, và lời thề hôn nhân bị phá vỡ đến nỗi những gì một số nhà văn từng khẳng định dường như đúng, cụ thể là, phụ nữ thời đó thường tính năm tháng không phải dựa vào sự thay đổi của các quan chấp chính, nhưng dựa vào sự thay đổi của những người chồng. Tương tự như vậy, ban đầu, người Tin Lành cho phép ly hôn hợp pháp trong vài trường hợp, thế nhưng do những hoàn cảnh tương tự, con số ly hôn ngày càng gia tăng như tại Đức, Mỹ và nhiều nơi khác, khiến cho các nhà thông thái phải than thở về sự suy đồi đạo đức nghiêm trọng, và phê phán sự thiếu thận trọng của luật lệ là điều không thể chấp nhận được.
31. Ngay cả trong các quốc gia Công giáo, sự xấu ấy cũng đã tồn tại. Bởi vì bất cứ khi nào ly hôn được đưa vào, thì sự khốn khổ dồn dập kéo theo sau đó vượt xa mọi điều mà những người soạn thảo luật có thể đã lường trước. Thực tế, nhiều người đã nghĩ ra đủ mọi mưu mô và thủ đoạn, bằng cách cáo buộc sự tàn nhẫn, bạo lực và ngoại tình để ngụy tạo lý do cho việc giải gỡ mối dây ràng buộc hôn nhân mà họ đã cảm thấy chán nản mệt mỏi; và tất cả những điều đó gây ra một sự hỗn loạn rất lớn cho đạo đức đến mức việc sửa đổi luật lệ được xem là vô cùng cần thiết.
32. Vì thế, liệu có ai còn nghi ngờ rằng những luật lệ ủng hộ ly hôn sẽ mang lại hậu quả tai hại và thảm khốc tương tự nếu chúng được thông qua vào thời đại chúng ta ngày nay? Thật vậy, trong các hoạch định và đạo luật của con người, không hề tồn tại bất kỳ quyền lực nào có thể thay đổi bản chất và khuynh hướng mà vạn vật đã nhận lãnh từ tự nhiên. Do đó, những ai cho rằng bản chất vốn có của hôn nhân có thể bị bóp méo mà không phải gánh chịu hậu quả, đồng thời coi thường sự thánh thiêng của tôn giáo và bí tích, dường như muốn hạ thấp và làm hoen ố hôn nhân một cách tồi tệ hơn cả những gì mà luật lệ của dân ngoại từng làm, thì đã thể hiện sự thiếu khôn ngoan trong quan niệm của họ về sự an thịnh của cộng đồng xã hội. Thật vậy, nếu họ không thay đổi quan điểm, thì không chỉ các gia đình mà cả toàn thể xã hội đều sẽ có lý do không ngừng lo sợ rằng mình sẽ bị đẩy vào sự hỗn loạn chung và sự sụp đổ của trật tự, điều mà ngay cả bây giờ cũng là mục tiêu xấu xa của xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng thật là ngu dại và vô lý khi mong đợi bất kỳ lợi ích chung nào từ ly hôn, trong khi thực tế, nó chỉ dẫn đến sự suy thoái chắc chắn của xã hội.
33. Do đó, phải thừa nhận rằng Hội Thánh đã có công lao to lớn đối với mọi dân tộc nhờ sự quan tâm canh chừng trong việc bảo vệ sự thánh thiêng và tính bất khả phân ly của hôn nhân. Cũng vậy, Hội Thánh còn đáng được biết ơn không nhỏ vì trong suốt một trăm năm qua, vì đã công khai lên án những luật lệ nặng nề đã gây tổn thương nghiêm trọng về vấn đề này;(51) đồng thời vì đã tuyên án tuyệt thông đối với dị giáo tai hại đang lan truyền trong giới Tin Lành liên quan đến vấn đề ly hôn và ly thân; (52) cũng như, vì đã lên án bằng nhiều hình thức việc giải gỡ hôn nhân theo thói quen xảy ra trong Chính Thống giáo Hy Lạp; (53) vì đã tuyên bố vô hiệu tất cả các cuộc hôn nhân được lập nên với ý định có thể bị giải gỡ vào một lúc nào đó trong tương lai; (54) và cuối cùng, từ những thời kỳ đầu, Hội Thánh đã bác bỏ các luật hoàng đế vốn tạo điều kiện thuận lợi cho ly hôn một cách tai hại.(55)
34. Thật vậy, như thường thấy, mỗi khi các Giáo hoàng kiên quyết chống lại các nhà cầm quyền, trong những mệnh lệnh đang đe dọa các vụ ly hôn do họ thi hành phải được Hội Thánh xác nhận, thì chúng ta thường phải coi các ngài là những người đã đấu tranh vì sự an toàn, không chỉ của tôn giáo, mà còn của cả nhân loại. Vì lý do này, mọi thế hệ con người sẽ khâm phục lòng can đảm kiên cường được chứng minh rõ ràng trong các sắc lệnh của Đức Nicola I chống lại Lothair; của Đức Urbanô II và Đức Paschal II chống lại Philip I của nước Pháp; của Đức Celestine III và Đức Innocent III chống lại Alphonsus of Leon và Philip II của nước Pháp; của Đức Clement VII và Đức Phaolô III chống lại Henry VIII; và cuối cùng là của Đức Piô VII, vị Giáo hoàng thánh thiện và can đảm, chống lại Napoleon I, ngay khi ông ta đang ở đỉnh cao của sự thịnh vượng và nắm trọn quyền lực trong tay. Vì vậy, tất cả các nhà cầm quyền và người điều hành Nhà nước, những người mong muốn tuân theo lý trí và sự khôn ngoan, đồng thời lo lắng cho lợi ích của dân chúng, cần kiên quyết giữ gìn luật thánh thiêng của hôn nhân một cách nguyên vẹn, và tận dụng sự hỗ trợ mà Hội Thánh đề nghị nhằm bảo vệ đạo đức và hạnh phúc của các gia đình, thay vì nghi ngờ Hội Thánh về ý đồ thù địch hay buộc tội Hội Thánh vi phạm luật dân sự một cách sai trái và ác ý.
35. Họ càng nên làm như vậy một cách sẵn lòng hơn, vì Hội Thánh Công giáo, dù không thể nào từ bỏ các bổn phận thuộc sứ vụ hay việc bảo vệ thẩm quyền của mình, vẫn luôn nghiêng về lòng nhân từ và khoan dung khi chúng phù hợp với việc bảo vệ quyền lợi và sự thánh thiện của nhiệm vụ của mình. Vì thế, Hội Thánh không ban hành sắc lệnh liên quan đến hôn nhân mà không xem xét tình trạng của thể chế chính trị và điều kiện của công chúng; và bên cạnh đó, Hội Thánh đã nhiều lần giảm nhẹ các quy định nơi các luật lệ của mình ở mức tối đa khi có những lý do chính đáng và hệ trọng. Hơn nữa, Hội Thánh nhận thức rõ và không bao giờ nghi ngờ rằng bí tích hôn nhân, được thiết lập để duy trì và phát triển loài người, có liên quan thiết yếu đến những hoàn cảnh sống, dù có nối kết với hôn nhân, nhưng lại thuộc về trật tự dân sự, mà Nhà nước có quyền thẩm tra nghiêm ngặt và ban hành luật pháp một cách công bằng.
36. Tuy nhiên, không ai nghi ngờ rằng Đức Giêsu Kitô, Đấng thiết lập Hội Thánh, đã mong muốn có sự phân biệt giữa thần quyền và thế quyền, và mỗi quyền lực được tự do và không bị trói buộc trong phạm vi của mình: tuy nhiên, với điều kiện – một điều kiện tốt đẹp cho cả hai và có lợi cho tất cả mọi người - là phải duy trì sự hiệp nhất và hòa hợp giữa hai quyền lực đó; đồng thời, đối với những vấn đề thuộc về quyền hạn và thẩm quyền chung, dù theo những cách thức khác nhau, thì quyền bính phụ trách các vấn đề trần thế cần phải lệ thuộc một cách tốt đẹp và thích hợp vào quyền bính kia vốn đảm trách những lợi ích thiên quốc. Trong sự sắp đặt và hài hòa như vậy, người ta tìm thấy không chỉ phương hướng hành động tối ưu cho mỗi quyền bính, mà còn cả phương pháp thích hợp và hiệu quả nhất để hỗ trợ con người trong mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống hiện tại cũng như niềm hy vọng về sự cứu rỗi mai sau. Do đó, như Ta đã trình bày trong các thông điệp trước đây, (56) trí tuệ con người được nâng cao rất nhiều nhờ đức tin Kitô giáo, và được củng cố khả năng tránh né và loại bỏ mọi sai lầm, trong khi đức tin cũng nhận được sự hỗ trợ không nhỏ từ trí tuệ; tương tự như vậy, khi quyền bính dân sự duy trì mối quan hệ thân thiện với quyền bính thánh thiêng của Giáo hội, thì cả hai đều gặt hái được những lợi ích to lớn. Phẩm giá của bên này được nâng lên, và chừng nào tôn giáo còn là kim chỉ nam của nó, thì nó sẽ không bao giờ cai trị một cách bất công; trong khi bên kia nhận được sự bảo vệ và che chở vì lợi ích chung của các tín hữu.
37. Vì vậy, được thúc đẩy bởi những suy nghĩ này, như Ta đã khuyên các nhà lãnh đạo vào những thời điểm khác, giờ đây Ta càng tha thiết hơn nữa kêu gọi họ đoàn kết và duy trì mối quan hệ thân thiện; và chính Ta là người đầu tiên dang rộng vòng tay với lòng nhân từ của một người cha, và trao ban cho họ sự giúp đỡ của quyền tối thượng của Ta, một sự giúp đỡ cần thiết hơn trong thời điểm hiện tại, khi mà uy quyền của các nhà lãnh đạo trong dư luận công chúng bị tổn thương và suy yếu. Giờ đây, khi tâm trí của rất nhiều người bị thổi bùng bởi tinh thần tự do thái quá, và người ta đang ác ý cố gắng để loại bỏ mọi sự ràng buộc của quyền bính, dù đó là quyền bính chính đáng, thì sự an toàn chung đòi hỏi cả hai quyền lực phải liên kết sức mạnh để ngăn chặn những điều tai hại đang treo lơ lửng, không chỉ trên Hội Thánh mà còn trên cả xã hội dân sự.
38. Tuy nhiên, trong khi tha thiết kêu gọi tất cả mọi người hãy hợp nhất ý chí, và cầu xin Thiên Chúa, Hoàng Tử hòa bình, truyền tình yêu hòa thuận vào mọi trái tim, thì thưa chư Huynh khả kính, Ta không thể ngừng thúc giục chư Huynh càng ngày càng thêm nhiệt thành, sốt sắng và cảnh giác, mặc dù Ta biết rằng những điều này là rất lớn lao. Với mọi nỗ lực và bằng tất cả thẩm quyền, hãy cố gắng hết sức mình để gìn giữ cho trọn vẹn và tinh tuyền, giữa đoàn dân được giao phó cho chư Huynh, giáo thuyết mà Đức Kitô, Chúa chúng ta, đã dạy; mà các Tông Đồ, những người giải thích ý muốn của Thiên Chúa, đã lưu truyền; và chính Hội Thánh Công giáo đã cẩn trọng gìn giữ, và truyền dạy cho các tín hữu của Đức Kitô phải tin nhận qua mọi thời đại.
39. Hãy đặc biệt quan tâm giáo dục dân chúng về các giới răn của sự khôn ngoan Kitô giáo, để họ luôn nhớ rằng hôn nhân không phải do ý muốn của con người thiết lập, nhưng ngay từ khởi đầu đã được thiết lập bởi thẩm quyền và mệnh lệnh của Thiên Chúa; rằng hôn nhân không chấp nhận đa thê hay đa phu; rằng Đức Kitô, Tác Giả của Giao ước Mới, đã nâng hôn nhân từ một nghi lễ tự nhiên lên hàng bí tích, và ban cho Hội Thánh quyền lập pháp và tư pháp liên quan đến mối dây liên kết hôn nhân này. Về điểm này, cần hết sức cẩn trọng khi hướng dẫn họ, để tâm trí họ không bị dẫn dắt vào sai lầm bởi những kết luận sai lạc của đối thủ muốn tước bỏ quyền bính đó của Hội Thánh.
40. Tương tự như vậy, mọi người cần phải hiểu rõ rằng, nếu có bất kỳ sự kết hợp nào giữa một người nam và một người nữ trong số các tín hữu của Đức Kitô mà không phải là một bí tích, thì sự kết hợp đó không có sức mạnh và bản chất của một cuộc hôn nhân thực sự; rằng, dù được ký kết theo luật pháp của Nhà nước, nó cũng không thể là gì hơn ngoài một nghi lễ hoặc tập tục do luật dân sự ban hành. Hơn nữa, luật dân sự chỉ có thể giải quyết và quyết định những vấn đề mà phát sinh từ hôn nhân trong trật tự dân sự, và không thể tồn tại nếu không có một lý do đích thực và hợp pháp, tức là mối dây ràng buộc hôn nhân. Điều này rất quan trọng đối với vợ chồng, nên cả hai cần biết rõ và hiểu thấu tất cả những điều này nhằm tuân thủ luật pháp Nhà nước, nếu Hội Thánh không có phản đối nào; bởi vì Hội Thánh mong muốn mọi hiệu quả của hôn nhân được bảo vệ bằng mọi cách có thể, đồng thời không để cho con cái phải gánh chịu thiệt hại nào.
41. Tuy nhiên, với sự nhầm lẫn lớn của các quan điểm ngày càng lan rộng, cần biết rằng không có quyền bính nào có thể giải gỡ mối dây ràng buộc của hôn nhân Kitô giáo một khi nó đã được chuẩn nhận và hoàn hợp; và do đó, những người chồng, người vợ nào có ý định kết hôn lần hai vì bất cứ lý do gì trước khi cuộc hôn nhân đầu tiên chấm dứt do cái chết, thì họ phạm một tội lỗi rõ ràng. Thật vậy, khi mọi vấn đề đã đến mức không thể sống chung với nhau được nữa, thì Hội Thánh cho phép họ sống ly thân, đồng thời cố gắng làm dịu bớt những điều tai hại của việc ly thân bằng những phương pháp và sự giúp đỡ phù hợp với hoàn cảnh của họ; tuy nhiên, Hội Thánh không bao giờ ngừng nỗ lực để mang lại sự hòa giải, và không bao giờ tuyệt vọng làm việc đó. Nhưng đây là những trường hợp cùng cực; và chúng sẽ hiếm xảy ra nếu người nam và người nữ bước vào bậc sống hôn nhân với tâm thế đúng đắn, không bị ảnh hưởng bởi dục vọng, nhưng có những lý tưởng đúng đắn về bổn phận của hôn nhân và mục đích cao quý của nó; cũng không phạm phải những tội lỗi trước hôn nhân vốn chuốc lấy cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.
42. Tóm lại, hôn nhân sẽ có sự bình an và bền vững nếu đôi vợ chồng biết kín múc sức mạnh và sự sống từ nhân đức của tôn giáo, vốn là nguồn mạch ban cho chúng ta lòng quyết tâm và sự can đảm; vì tôn giáo sẽ giúp họ có thể đón nhận cách thanh thản và thậm chí là vui vẻ khi đối diện với những thử thách gắn liền với bậc sống của họ, chẳng hạn như những khuyết điểm họ nhận thấy ở nhau, sự khác biệt về tính tình hay tính cách, gánh nặng lo toan của người mẹ, nỗi lo âu dai dẳng về việc giáo dục con cái, những thăng trầm về kinh tế, và những nỗi đau khổ phiền muộn trong cuộc đời.
43. Cũng cần phải cẩn trọng để họ không nên dễ dàng bước vào hôn nhân với những người ngoài Công giáo; bởi vì thật khó mà hy vọng có sự đồng thuận trong các vấn đề khác, khi quan điểm về việc thực hành tôn giáo không đồng thuận. Những lý do khác cho thấy tại sao người ta nên e ngại các cuộc hôn nhân như vậy chủ yêu như sau: chúng tạo cơ hội cho sự kết hợp và hiệp thông bị cấm đoán trong các vấn đề tôn giáo; chúng gây nguy hiểm cho đức tin của người bạn đời Công giáo; chúng là một trở ngại trong việc giáo dục con cái đúng đắn; và chúng thường dẫn đến sự nhầm lẫn giữa chân lý và sai lầm, và niềm tin cho rằng mọi tôn giáo đều tốt như nhau.
44. Sau cùng, vì Ta biết rõ rằng không ai bị loại trừ khỏi lòng bác ái của Ta, nên thưa chư Huynh khả kính, Ta xin phó thác cho lòng trung thành và long đạo đức của chư Huynh những con người bất hạnh, những người vì bị cuốn theo sự thôi thúc của dục vọng và hoàn toàn thờ ơ với phần rỗi linh hồn mình, đang sống chung một cách tội lỗi mà không có mối dây ràng buộc của hôn nhân hợp pháp. Xin chư Huynh hãy hết sức lưu tâm trong việc đưa những người ấy trở lại với bổn phận của họ; đồng thời, bằng nỗ lực của chính chư Huynh cũng như sự nỗ lực của những người thiện chí sẵn lòng giúp đỡ chư Huynh, hãy dùng mọi phương thế để họ nhận ra họ đã hành động sai lầm như thế nào, và để họ có thể ăn năn sám hối và được thôi thúc bước vào hôn nhân hợp pháp theo nghi thức Công giáo.
45. Thưa chư Huynh khả kính, chư Huynh sẽ nhận thấy ngay rằng giáo lý và những huấn lệnh liên quan đến hôn nhân Kitô giáo, mà Ta thấy cần thiết phải chia sẻ với chư Huynh trong thông điệp này, không chỉ góp phần vào ơn cứu độ đời đời của các linh hồn, mà còn quan trọng không kém đối với việc gìn giữ xã hội dân sự. Vì tính chất nghiêm trọng và tầm quan trọng của chúng, nguyện xin Thiên Chúa ban cho mọi người ở khắp mọi nơi đều có trí tuệ ngoan ngoãn và sẵn sàng tuân theo chúng! Vì mục đích này, chúng ta hãy khiêm tốn dâng lời cầu xin, thiết tha khẩn nài sự phù giúp của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc và Vô Nhiễm, để khi tâm hồn chúng ta được khơi dậy lòng vâng phục đức tin, Người sẽ tỏ mình là Mẹ và là Đấng phù trợ của chúng ta. Với lòng nhiệt thành không kém, chúng ta cũng hãy cầu khẩn hai vị thủ lãnh của các Tông Đồ, là thánh Phêrô và thánh Phaolô, những người đã phá đổ các lạc giáo và gieo vãi hạt giống chân lý, cứu vớt nhân loại khỏi cơn hồng thủy của những sai lầm đang trỗi dậy mạnh mẽ, nhờ vào sự bảo trợ đầy quyền năng của các ngài. Thưa chư Huynh khả kính, trong khi chờ đợi, như một bảo chứng cho các ân huệ thiên quốc và là dấu chứng lòng ưu ái đặc biệt của Ta, từ đáy lòng mình, Ta ban phép lành Tông Tòa cho tất cả chư Huynh cùng đoàn dân được giao phó cho chư Huynh chăm sóc.
.Ban hành tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma, ngày 10 tháng 02 năm 1880, năm thứ ba triều đại giáo hoàng của Ta.
LÊÔ XIII
-----------------------------------------------
1. Êp 1, 9-10.
2. Mt 19, 5-6.
3. Mt l9, 8.
4. Jerome Epist. 77, 3 (PL 22, 691).
5. Arnobius, Adversus Gentes, 4 (sic, perhaps l, 64).
6. Dionysius Halicarnassus, lib. Il, chs. 26-27 (see Roman Antiquities, tr. E. Cary, Loeb Classical Library, Harvard University Press, 1948, Vol. I, pp. 386-393).
7. Ga 2.
8. Mt 19, 9.
9. Trid., sess. xxiv, in principio (that is, Council of Trent, Canones et decreta; văn bản được chia thành các khóa họp, các đề tài, và các điều khoản, chẳng hạn, các sắc lệnh ).
10. Trid., sess. xxiv, cap. 1, De reformatione matrimonii.
11. Ep 5, 25-32.
12. 1Cr 7, 10-11.
13. 1Cr 7, 39.
14. Ep 5, 32.
15. Dt 13, 4.
16. Ep 2,19.
17. Catech. Rom., ch. 8.
18. Ep 5, 23-24.
19. Ep 6, 4.
20. Cv 15, 29.
21. 1Cr 5, 5.
22. Phái Ngộ đạo (Gnostics): tên gọi chung cho một số giáo phái sơ khai chủ trương một loại tri thức Kitô giáo (gnosis) cao hơn đức tin. Phái Manikê (Manichaeans): các môn đồ của Mani (hay Manes, khoảng năm 216-276) người Ba Tư; ông dạy rằng mọi sự vật đều bắt nguồn từ hai nguyên lý đầu tiên: ánh sáng và bóng tối, hay thiện và ác. Phái Montanus (Montanists): các môn đồ của Montanus (tại Phrygia, vào giai đoạn cuối thế kỷ thứ hai) lên án hôn nhân là một định chế tội lỗi. Phái Mặc Môn (Mormons): giáo phái do Joseph Smith thành lập năm 1830, ủng hộ chế độ đa thê. Phái Saint-Simon (Saint-Simonians): các môn đồ của triết gia người Pháp Saint-Simon (1760-1825), người sáng lập một "nền Kitô giáo mới" dựa trên cơ sở khoa học thay vì đức tin. Phái Phalanstère (Phalansterians): các thành viên của phalanstère, tức một cộng đồng xã hội chủ nghĩa vận hành theo các nguyên tắc của Charles Fourier (1772-1837). Những người Cộng sản (Communists): những người ủng hộ chế độ trong đó tài sản thuộc về cộng đồng xã hội, mỗi thành viên được kỳ vọng sẽ làm việc tùy theo năng lực và được hưởng tùy theo nhu cầu; chủ nghĩa cộng sản thường gắn liền với tên tuổi của Karl Marx (1818-1893).
23. Cap. l, De conjug. serv. Corpus juris canonici, ed. Friedberg (Leipzig, 1884), Part 2, cols. 691-692.
24. Jerome, Epist. 77 (PL 22, 691).
25. Can. Interfectores and Canon Admonere, quaest. 2 Corpus juris canonici (Leipzig, 1879), Part 1, eols. 1152-1154.
26. Saus. 30, quaest. 3, cap. 3, De cognac. spirit. (op. cit., Part 1, col. 1101).
27. Cap. 8, De consang. et affin. (op. cit., Part 2, col. 703); cap 1, De cognac. Iegali (col. 696).
28. Cap. 26, De spousal. (op. cit., Part 2, col. 670); cap. 13 (col. 665); cap. 15 (col. 666); cap. 29 (col. 671); De spon salibus et matrimonio et alibi.
29. Cap. 1, De convers. infid. (op. cit., Part 2, col. 587); cap. 5, 6, De eo qui duxit in marrim. (cols. 688-689).
30. Cap. 3, 5, 8, De spousal. et matr. (op. cit., Part 2, cols. 661, 663). Trid., sess. xxiv, cap. De reformatione matrimonii.
31. Cap. 7, De divort. (op. cit., Part 2, col. 722).
32. Chủ trương tính độc lập của trật tự tự nhiên.
33. Liên quan đến Đức Innocent III, xem Corpus juris canonici, cap. 8, De divort., ed. cit., Part 2, col. 723. Innocent III refers to 1 Cor. 7:13. Liên quan đến Đức Honoriô III, xem cap. ii, De transact., (op. cit., Part 2 col. 210).
34. Canones Apostolorum, 16 17, 18, ed. Fr. Lauchert, J. C. B. Mohr (Leipzig, 1896) p. 3.
35. Philosophumena (Oxford, 1851), i.e., Hippolytus, Refutation of All Heresies, 9, 12 (PG 16 3386D-3387A).
36. Epistola ad Polycarpum, cap. 5 (PG 5, 723-724).
37. Apolog. Maj., 15 (PG 6, 349A, B).
38. Legal. pro Christian., 32, 33 (PG 6, 963-968).
39. De coron. milit., 13 (PL 2, 116).
40. De Aguirre, Conc. Hispan., Vol. 1, can. 11.
41. Harduin, Act. Conch., Vol. 1, can. 11.
42. Ibid., can. 16.
43. Ibid., can. 17.
44. Novel., 137 (]ustinianus, Novellae, ed. C. E. Z. Lingenthal, Leipzig, 1881, Vol. 2, p. 206).
45. Fejer, Matrim. ex instit. Chris. (Pest, 1835).
46. Cap. 3, De ord. cogn. (Corpus juris canonici, ed. cit., Part 2, col. 276).
47. Cap. 3, De divort. (ed. cit., Part 2, col. 720).
48. Cap. 13, Qui filii sint legit. (ed. cit., Part 2, col. 716).
49. Trid., sess. xxiv, can. 4.
50. Ibid., can. 12.
51. Piô VI, Epist. ad episc. Lucion., 20/5/1793; Piô VII, Thông điệp, 17/2/1809, và tông hiến được ban hành ngày 19/7/1817; Piô VIII, Thông điệp, 29/5/1829; Grêgôriô XVI, tông hiến được ban hành ngày 15/8/1832; Piô IX, diễn văn, 22/9/1852.
52. Trid., less. xxiv, can. 5 7.
53. Công đồng Florence và các chỉ thị của Đức Eugene IV gửi người Armenia; Bênêđíctô XIV, Tông hiến Etsi Pastoralis, 6/5/1742.
54. Cap. 7, De condit. appos. (Corpus juru canonici, ed. cit., Part 2, col. 684).
55. Jerome, Epist. 69, ad Oceanum (PL 22, 657); Ambrose, Lib. 8 in cap. 16 Lucae, n. 5 (PL 15, 1857); Augustine, De nuptiis, 1, 10-11 (PL 44, 420). Năm mươi năm sau khi thông điệp Arcanum được công bố, Đức Giáo hoàng Piô XI đã ban hành thông điệp Casti Connubii (ngày 31 tháng 12 năm 1930); bản dịch thông điệp này, kèm chú giải và thư mục, có thể tìm thấy trong J. Husslein, S. J., Social Wellsprings, Vol. II, pp. 122-173; hoặc dưới dạng ấn phẩm nhỏ do Kinh sĩ G. D. Smith dịch, Catholic Truth Society, London; Paulist Press, New York, kèm đề cương thảo luận của Gerald C. Treacey, S.J., National Catholic Welfare Conference, Washington, 1939. Các văn kiện giáo hoàng này cần được bổ sung bằng hai bài diễn văn của Đức Giáo hoàng Piô XII (ngày 29 tháng 10 năm 1951 và ngày 26 tháng 11 năm 1951); bản dịch tiếng Anh của các bài diễn văn này được National Catholic Welfare Conference phát hành dưới dạng ấn phẩm nhỏ với tựa đề Moral Questions Affecting Married Life (Các vấn đề luân lý ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân), kèm đề cương thảo luận của Edgar Schmiedeler, O.S.B.
56. Aeterni Patris, above, pp. 38-39.
--------------------------------------------------------------------
Đại Chủng viện Huế, ngày 10 tháng 7 năm 2026
