Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

ĐCV Huế : Đức Tổng Giuse Đặng Đức Ngân Huấn Đức Các Chủng Sinh

Vào lúc 17h10, ngày 30.3.2026, trong bầu không khí trầm lắng và thánh thiện của những ngày đầu Tuần Thánh, Đức Tổng Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế, đã đến viếng thăm Đại Chủng viện Huế và huấn đức các Chủng sinh với chủ đề: “Sống sứ vụ thương xót qua việc phục vụ người nghèo, theo tinh thần Tông huấn Dilexi Te của Đức Thánh Cha Lêô XIV”.

Đoạn Tin Mừng Mc 10, 17 – 22 thuật lại câu chuyện anh thanh niên giàu có muốn theo Đức Giêsu được Đức Tổng công bố như sứ điệp trung tâm của bài huấn đức. Mở đầu, Đức Tổng khẳng định : Hãy bán tất cả những gì anh có là lời đòi buộc về sự nghèo khó triệt để dành cho những ai muốn theo Đức Giêsu – Thầy nhân lành, và muốn có được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Anh thanh niên trong đoạn Tin Mừng đã buồn rầu bỏ đi” vì anh không thể thực hiện lời đòi buộc triệt để này, dẫu rằng anh là một thanh niên ưu tú và được Đức Giêsu yêu mến. Bởi chưng trước hết anh là người khao khát sống cuộc đời thánh thiện, trọn hảo và nhân lành nên anh tìm đến Đức Giêsu và gọi Ngài bằng một cái tên rất trân trọng và tôn kính – Thầy nhân lành. Khi Chúa Giêsu đề cập đến các giới luật khác trong truyền thống Do Thái, anh thưa đã sống và giữ từ thuở bé. Thật đẹp hình ảnh một thanh niên sống trọn giới răn của Chúa. Đức Tổng nhắc nhớ cả nhà : Ai chúng ta là linh mục và chủng sinh, có đủ can đảm, tự tin để khẳng định rằng từ bé mình đã sống trọn vẹn những giới luật mà Thiên Chúa dạy và Giáo Hội đã truyền không ?

Theo Đức Tổng, việc giàu có hay nhiều của cải ở đây không đặt thành vấn đề bởi phải chăng anh ta giàu có hay nhiều của cải là do cha mẹ để lại. Do đó, những của cải được làm ra từ đôi bàn tay chân chính ấy được coi là sạch”, sẽ làm cho cuộc sống chắc chắn bình an.

Đến đây, Đức Tổng kêu mời anh em lắng nghe bài suy tư mà Đức Thánh Cha Phanxicô từng chia sẻ về đoạn Tin Mừng trên với tựa đề : Ánh mắt yêu thương của Chúa. Khi Chúa đi ngang qua, anh đã chạy đến, quỳ xuống và hỏi thưa Thầy nhân lành tôi phải làm gì để được sự sống đời đời” ? Hãy để ý đến động từ làm gì để có sự sống đời đời”. Dù anh có tuân giữ lề luật, anh vẫn không cảm thấy bình an. Chính vì vậy, anh đã tìm đến Thầy Giêsu, anh chưa hiểu được ngôn ngữ của tình yêu nhưng không, nhưng với anh, mọi thứ đều cần được đổi lấy”. Sự sống đời đời dường như chỉ là phần thưởng cho những người tuân giữ giới răn nhưng nếu mọi sự chỉ dựa trên sự trao đổi thì chỗ nào sẽ dành cho tình yêu ? Bởi vì tình yêu không dựa trên công trạng ! Chúa Giêsu không dừng lại ở vẻ bề ngoài, với một lý lịch đẹp”, nhưng Ngài nhìn sâu vào tấm lòng của anh thanh niên. Cái nhìn đó cho chúng ta thấy Chúa thấy được sự thật nơi cõi lòng con người. Vậy, Ngài đã thấy gì ? Ngài thấy được sự mong manh và nỗi khao khát được yêu thương đúng với con người thật của mình.

Trước khi mời gọi anh thanh niên đi theo mình, Chúa đã yêu thương anh, Ngài nhìn anh thanh niên và đem lòng yêu mến”. Ngài yêu con người hiện tại của anh. Đó chính là một tình yêu nhưng không, trái ngược với ý tưởng sống dựa trên công trạng mà anh vẫn quen thuộc thực hiện.Và chúng ta cũng vậy ! Chúng ta chỉ thật sự hạnh phúc khi nhận ra mình được yêu thương như thế bằng một tình yêu nhưng không được trao ban như một hồng ân. Điều này cũng đúng trong các mối tương quan. Nếu ta cũng mua tình yêu hay tìm kiếm sự chú ý, ta sẽ không giờ thật sự được yêu và cũng không thể hạnh phúc. Bởi vì tình yêu mới ‘gọi đúng tên’ ! Chúa Giêsu đã mời thanh niên ấy thay đổi cách sống và cách tương quan với Thiên Chúa. Như tất cả chúng ta, anh vẫn còn thiếu một điều : khát vọng được yêu thương. Một vết thương nằm sâu trong phận người và chỉ có tình yêu mới có thể chữa lành. Để được chữa lành, không phải là nắm giữ điều gì mà là bán đi những gì khiến lòng chúng ta trở nên nặng nề, không còn tích trữ nhưng là trao ban, sống vì người khác. Sau cùng, Chúa Giêsu mời anh bước vào một tương quan mới bởi trong tương quan này, con người mới thật sự ‘được gọi tên’. Nếu chỉ sống một mình, chúng ta sẽ không bao giờ nghe thấy tên mình được một người yêu thương thốt lên và sẽ mãi là một người nào đó vô danh giữa đời.

Thế nhưng, phải chăng chúng ta cho rằng ‘mình là người đi tu, chỉ một mình, có sống đời gia đình đâu’ ? Nhưng đấy là cái nhìn của cuộc sống hôn nhân. Còn ở đây, chúng ta là những môn đệ trong tương quan với Chúa và tên chúng ta được Chúa yêu thương chọn gọi, như khi xưa 72 môn đệ đi rao giảng về đã tranh nhau kể lại cho Chúa nghe những phép lạ mình đã làm. Chúa mời gọi các ông nghỉ ngơi và đã nói với các ông một câu rất hay : Các con chớ vui mừng vì những điều các con đã làm nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời (x. Lc 10, 20). Do đó, trong tương quan đời sống môn đệ Chúa, nếu chúng ta luôn cảm nhận sự cô đơn một mình giữa đời thì ta mãi là một người vô danh trước mặt Chúa. Ngày nay, trong một thế giới đậm tính cá nhân và đề cao sự tự túc, có biết bao người đang sống trong bất hạnh vì họ không còn nghe thấy tên mình được một người yêu thương gọi lên cách nhưng không, bởi lẽ, chỉ tình yêu mới gọi đúng tên mỗi người chúng ta.

Nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta thấy mình thế nào với Đức Giêsu Kitô, với sự chọn lựa dấn thân, liệu rằng tên chúng ta như lời mời gọi của Ngài đã được viết lên ? Đức Tổng nhắn nhủ anh em, đừng thất vọng mà hãy hy vọng. Thế nhưng, trong niềm hy vọng ấy, Chúa lại để cho chúng ta tự do. Hình ảnh người thanh niên không dám đón nhận lời mời gọi. Anh tiếp tục quay lại cuộc sống một mình vì gánh nặng của cải ràng buộc, giữ chặt anh, không để cho anh được tự do đến với Chúa và tha nhân. Anh chưa sẵn sàng ra khỏi con người, lương tâm, tâm hồn của mình. Có lẽ anh chưa sẵn sàng để rời bến. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chính của cải là gánh nặng khiến anh ta chẳng thể lên đường nhưng chúng ta vẫn kỳ vọng, dù Tin Mừng không nói, trong phận người, một ngày nào đó, anh sẽ thay đổi, dám trỗi dậy và ra khơi.

Với chủ đề đang nói với nhau – chia sẻ trong tinh thần phục vụ, Đức Tổng gợi nhắc lời dạy của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Tông thư Hồng ân cứu chuộc : Đức Giêsu Kitô Đấng đã sống nghèo là khuôn mẫu cho đời sống nghèo của chúng ta. Người giàu sang đã trở nên nghèo khó ! Đấng chẳng những là Thầy mà còn là người phát ngôn và bảo đảm về sự khó nghèo cứu chuộc tương xứng với sự giàu có vô cùng của Thiên Chúa và với quyền lực vô tận của ân điển Người. Khi nói với chàng thanh niên hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ có một kho tàng trên trời”, Chúa Giêsu đưa ra một lời mời gọi nhằm làm cho kẻ khác được giàu sang bằng chính sự khó nghèo của mình. Nhưng ở đáy sâu thẳm nhất của lời mời gọi này, giấu kín chứng tá về sự giàu sang vô tận của Thiên Chúa. Sự giàu sang vô tận này khi được ban tặng cho linh hồn con người ngang qua mầu nhiệm ân sủng, tạo nên trong chính con người, nhờ sự khó nghèo, một nguồn mạch làm cho kẻ khác được nên giàu sang, không thể sánh ví được với những gì do của cải vật chất sinh ra, một nguồn mạch cung cấp cho người khác theo kiểu cách mà chính Thiên Chúa muốn. Sự sung túc này được thực hiện giữa lòng mầu nhiệm Đức Kitô, Đấng làm cho chúng ta nên giàu sang nhờ sự khó nghèo của Người. Tiến trình của ‘cách làm cho nên giàu có’ này diễn tiến trong các trang Tin Mừng với cao điểm là biến cố Vượt Qua. Đức Kitô, Đấng nghèo khó nhất trong cái chết của Người trên thập giá đồng thời cũng là Đấng làm cho chúng ta nên giàu sang vô tận nhờ sự sung mãn của cuộc sống mới qua sự Phục Sinh của Người.

Cách cụ thể hơn, Đức Tổng dẫn đưa anh em đến những suy tư về sứ vụ thương xót của người môn đệ để phục vụ người nghèo theo tinh thần Tông huấn Dilexi Te : Cha đã yêu thương con, của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV. Trong Tông huấn này, Đức Thánh Cha Lêô mời gọi chúng ta nhìn vào chính Đức Giêsu Kitô – dung mạo của lòng thương xót. Khi chiêm ngắm Tin Mừng, chúng ta nhận ra một điều rất rõ ràng : Đức Giêsu luôn nghiêng về phía người nghèo. Họ không chỉ là đối tượng của lòng thương xót mà là nơi Đức Giêsu mặc khải căn tính của Ngài. Ngài chạm vào người phong cùi, dừng lại nơi người ăn xin mù lòa, đồng bàn với người bị xã hội khinh chê, khóc trước nỗi đau của những kẻ bé mọn. Như vậy, lòng thương xót của Đức Kitô không trừu tượng nhưng mang lấy hình hài, gương mặt, nước mắt của người nghèo. Vì thế, nếu muốn trung thành với Đức Kitô khi là môn đệ của Chúa thì chúng ta không thể đứng ngoài thực tại của người nghèo. Đức Giêsu Kitô là dung mạo hữu hình, sống động và là tột đỉnh của lòng thương xót Chúa Cha, hiện thân qua cuộc đời, việc giảng dạy và cái chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Ngài mang tình thương yêu của Thiên Chúa đến cho mọi người, đặc biệt là kẻ tội lỗi và đau khổ, biến lòng thương xót thành hành động cụ thể.

Đức Tổng nhắc đến lời của Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng viết trong Tông sắc khai mở Năm Thánh Lòng Thương Xót: Dung mạo lòng thương xót của Chúa Cha chính là Đức Giêsu Kitô. Mầu nhiệm Đức Tin Kitô giáo như đã được tóm tắt đầy đủ trong mệnh đề này nơi Đức Giêsu Nadarét. Lòng thương xót trở nên sống động, hữu hình và đạt tới tột đỉnh. Chúa Cha – Đấng giàu lòng thương xót, sau khi đã mặc khải cho Môsê biết Danh của Ngài là Thiên Chúa thương xót và nhân hậu, đầy lòng trắc ẩn và trung tín, đã không ngừng mặc khải thần tính của Ngài bằng nhiều cách thế vào nhiều thời điểm khác nhau. Lúc thời gian đến hồi viên mãn khi mọi sự đã được sắp xếp đúng theo dự định cứu độ, Ngài sai Người Con duy nhất của mình đến thế gian, được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, để mặc khải cho chúng ta biết trọn vẹn tình yêu của Ngài. Ai thấy Chúa Giêsu là thấy Chúa Cha. Đức Giêsu Nadarét đã mặc khải lòng thương xót của Thiên Chúa bằng lời nói, hành động và bằng cả bản thân Người. Khi chăm chú nhìn ngắm Chúa Giêsu và dung mạo lòng thương xót của Người, chúng ta có thể cảm nghiệm được tình yêu của Ba Ngôi Chí Thánh. Chúa Giêsu đã lãnh nhận từ Chúa Cha sứ vụ mặc khải trọn vẹn mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa bởi Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu ấy giờ đây trở nên hữu hình, được tỏ bày trong cả cuộc sống của Chúa Giêsu. Bản thân Người không gì khác hơn là tình yêu, một tình yêu được ban tặng vô điều kiện. Các mối liên hệ giữa Người và những ai tìm đến với Người là một tương quan đặc thù duy nhất. Những dấu lạ Người thực hiện, nhất là cho các tội nhân, cho những người nghèo khổ, những ai bị gạt ra bên lề xã hội, cho các bệnh nhân và những người đau khổ, đều mang dấu ấn của lòng thương xót. Mọi sự nơi Người đều tỏ bày cho chúng ta thấy lòng thương xót. Không có gì nơi Người lại thiếu vắng lòng thương xót. Chính vì vậy, trong các dụ ngôn về lòng thương xót (con chiên lạc, đồng xu thất lạc và người cha nhân hậu), Chúa Giêsu đã mặc khải bản tính của Thiên Chúa như một người cha không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi thực hiện được việc tha thứ tội lỗi và chế ngự thái độ cự tuyệt bằng sự cảm thông và lòng thương xót. Thiên Chúa luôn tràn ngập vui mừng khi Ngài tha thứ !

Nơi những dụ ngôn ấy, chúng ta thấy được điểm cốt lõi của Tin Mừng, của đức tin và lòng thương xót tỏ hiện như một sức mạnh vượt thắng tất cả, đong đầy trái tim bằng tình yêu thương, mang lại an ủi bằng ơn tha thứ. Đặc biệt, qua dung mạo Ngôi Lời Nhập Thể, Đức Giêsu đã biểu lộ cụ thể của Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót trong Cựu Ước, để rồi ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha”. Lòng thương xót của Chúa Giêsu cũng thể hiện qua những trang Tin Mừng : cảm thông, tha thứ và mời gọi con người hoán cải. Lòng thương xót đạt đến đỉnh cao khi Chúa Giêsu hy sinh chính tính mạng của mình, chấp nhận chết trên thập giá để hòa giải con người với Thiên Chúa và giải thoát họ khỏi tội lỗi. Chúa nhìn những người đau ốm, nghè khó, bất hạnh bằng ánh mắt yêu thương, trìu mến và khích lệ. Lòng thương xót của Chúa tiếp tục mời gọi chúng ta qua các bí tích, đặc biệt nơi bí tích Truyền chức, để các giám mục, linh mục, phó tế được mời gọi trở nên hiện thân của Ngài.

Đức Tổng nhấn mạnh, với tinh thần nền tảng của Tông huấn Dilexi Te, chúng ta cùng trở về với căn tính của người môn đệ, được tóm gọn trong một mặc khải rất đơn sơ nhưng vô cùng sâu thẳm : con đã được Ta yêu. Không phải vì mỗi người chúng ta xứng đáng hay hoàn hảo nhưng chỉ vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Hình ảnh chàng thanh niên được Chúa Giêsu nhìn chăm chú và đem lòng yêu thương là một hình ảnh thật đẹp – con đã được Ta yêu. Tuy nhiên, việc không cảm nhận được tình yêu đó của chàng thanh niên cũng chất vấn chúng ta : tôi có còn sống kinh nghiệm được Thiên Chúa yêu thương không ? Hay chỉ sống bằng bổn phận, vai trò, là thời gian ‘nín thở qua cầu’ ? Chàng thanh niên cứ ngỡ khi đến với Đức Giêsu sẽ tìm được một suối nguồn bình an và ân sủng nhưng khi nghe lời mời của Chúa để tên chàng từ nay được viết trong lòng thương xót của Ngài, chàng đã không chấp nhận. Mỗi chúng ta cũng vậy ! Chỉ khi nào chúng ta còn ở lại trong tình yêu ấy, trong lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta mới không nhận thấy đó là gánh nặng nhưng là hoa trái của ân sủng. Nhiều khi chúng ta tưởng rằng trong tư cách là chủng sinh, chúng ta có thể giúp gì cho người nghèo ? Chúng ta không có tiền và những phương tiện cần thiết ! Không phải thế ! Ngay cả các Đức Giám Mục cũng đâu thể giúp đỡ người nghèo đúng nghĩa trong những những dịp được đến với họ ! Do đó, trong bất cứ ơn gọi nào, chúng ta đều có thể sẻ chia, đồng hành với người nghèo, bởi vì chúng ta cũng là những người nghèo.

Đức Tổng nói thêm : lòng thương xót của Chúa thật sâu đậm vì Chúa không chỉ xuống thế viếng thăm, giúp sức nhưng Ngài đến để chia sẻ trọn vẹn phận người, kể cả tự nguyện bước vào khổ nạn và chịu chết – chỉ vì Ta đã yêu con”. Lòng thương xót nhân loại lầm lỗi của Thiên Chúa quả là ngoài sức tưởng tượng của loài người. Không ai trong chúng ta bị gạt ra ngoài lòng thương xót ấy trừ khi chúng ta không đón nhận. Chúng ta vui mừng và được an ủi vì biết rằng chính mình là đối tượng của lòng thương xót ấy. Tuy nhiên, khi đối diện với sứ vụ làm môn đệ của Chúa mà mỗi người đang được mời gọi, chúng ta cũng tự hỏi liệu rằng chúng ta đã có thái độ và tâm tư như Chúa khi đối diện với tha nhân hay không ? Mầu nhiệm lòng thương xót đó của Chúa thật sâu thẳm đến độ tâm hồn nào được chạm tới phải thốt lên như thánh Phaolô Tông đồ ‘ôi sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào, quyết định của Người ai dò cho thấu, đường lối của Người ai theo dõi được’.

Đến đây, Đức Tổng nhấn mạnh một trong những chiều kích hoán cải mà Tông huấn Dilexi Te mời gọi là việc nhận ra chính mình cũng là người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta nghèo trong đức tin, trong lòng nhiệt thành, sự trung tín và trong khả năng yêu thương đến cùng. Chỉ người nào đã được xót thương mới có thể thương xót người khác cách chân thật, bởi Thiên Chúa luôn là niềm hy vọng, sự an ủi và niềm hạnh phúc. Mỗi khi ta đối diện với người thân, với tha nhân, đó là mỗi lần ta được mời gọi luyện tập, như được tóm lại trong tâm tình của thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philípphê : những gì xưa kia tôi cho là có lợi thì nay vì Đức Kitô tôi cho là thiệt thòi. Vì Người, tôi đành mất hết và tôi coi tất cả như rác để được Đức Kitô và để được kết hợp với Người. Để có thể cảm thông và đón nhận tha nhân với các tật xấu của họ, đồng thời dám hiến mình vì hạnh phúc của họ, ta cần coi nhẹ tất cả, thoát ra khỏi chính mình, khỏi các định kiến và không để mình bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì : của cải, tình cảm, danh vọng và ngay cả những công việc được che đậy bằng danh xưng ‘bác ái với tha nhân’.

Đức Tổng cũng kể cho anh em một vài mẫu chuyện về việc một số Đức Cha, các linh mục trẻ bị lừa gạt, dụ dỗ rồi mắc bẫy về tiền bạc. Qua các phương tiện xã hội với những cách thức tinh vi, kẻ gian đã đe dọa, thao túng tâm lý nhằm lợi dụng lòng tin rồi chiếm đoạt tài sản. Và rõ ràng, những kẻ ấy không phải những ‘người nghèo’ đúng nghĩa ! Họ lợi dụng chính sự tham lam và sợ hãi trong sâu thẳm tâm hồn, rồi cuối cùng, chúng ta sẽ gục ngã.

Như thế, tâm tình của Đức Thánh Cha Lêô muốn gửi đến các anh em đại chủng sinh là gì ?

Đức Tổng khẳng định, Đức Thánh Cha mong muốn anh em hãy có một trái tim hiền lành và khiêm nhường như trái tim của Chúa Giêsu, trưởng thành về mặt nhân bản, đặc biệt về mặt tình cảm và các mối tương quan. Hãy loại bỏ mọi sự ngụy trang của đạo đức giả. Khi hướng nhìn về Chúa, cần học cách gọi tên và lên tiếng trước tất cả nỗi buồn, sự sợ hãi, đau khổ, phẫn uất và mang mọi thứ vào trong mối tương quan với Thiên Chúa. Những sự khủng hoảng, sự mong manh, sự giới hạn không phải là điều cần che giấu mà là những cơ hội ân sủng và sống kinh nghiệm Phục Sinh. Trong một thế giới vô ơn và khát khao quyền lực, nơi mà logic loại trừ dường như chiếm ưu thế, anh em được kêu gọi làm chứng cho lòng biết ơn và sự cho đi cách vô vị lợi như Chúa Kitô. Hãy thực hành lối sống chào đón, gần gũi, phục vụ, quảng đại, vị tha để Chúa Thánh Thần xức dầu cho nhân tính của anh em ngay cả trước khi anh em được thụ phong phó tế và linh mục.

Đức Thánh Cha khuyên bảo thêm rằng sự khôn ngoan của Mẹ Hội Thánh được Chúa Thánh Thần trợ giúp theo dòng thời gian luôn tìm kiếm những phương pháp thích hợp nhất để đào tạo các thừa tác viên thánh chức tùy theo nhu cầu từng nơi. Như vậy, anh em cam kết điều gì ? Đó là không bao giờ chấp nhận sống tầm thường, không an phận, không bao giờ chỉ là người đón nhận cách thụ động nhưng là người đam mê đời sống linh mục, biết sống trọn vẹn giây phút hiện tại hướng tới tương lai với một trái tim ngôn sứ. Đức Thánh Cha hy vọng anh em sẽ luôn đào sâu cuộc đối thoại cá nhân với Chúa, trở nên đồng hình đồng dạng với những tâm tình của Đức Kitô bởi vì trái tim đó luôn đập vì tình yêu dành cho anh em và cho nhân loại.

Đức Tổng nhắc lại lời Đức Thánh Cha Lêô: sẽ là nghịch lý khi nói về Thiên Chúa mà không có Người trong chiều sâu cuộc sống. Sẽ là nghịch lý khi một chủng sinh nói về Chúa cách quen thuộc nhưng sống như thể chính Chúa chỉ hiện diện trong lời nói chứ không phải trong chiều sâu cuộc sống. Không gì nguy hiểm hơn khi quen với những thực tại thánh thiêng mà không thực sự sống nhờ Thiên Chúa. Mọi sự luôn khởi đi và trở về với mối tương quan cá vị với Đấng đã chọn gọi chúng ta. Hơn thế nữa, mỗi người cần nhận ra bàn tay Thiên Chúa trong từng biến cố cụ thể và giữ cho tâm hồn mình luôn tỉnh thức. Cần lưu ý rằng nền tảng của việc đào tạo linh mục là ở lại với Chúa và để cho bản thân được uốn nắn trong nội tâm, nhìn thấy Chúa hành động và nhận ra cách thế Người làm việc trong đời sống của chính mình và dân Người. Chính Chúa Thánh Thần là nhân vật chính trong hành trình đào tạo. Người uốn nắn tâm hồn, chuẩn bị đời sống phong phú cho các chủng sinh để phục vụ Giáo Hội mai sau.

Như vậy, theo lời Đức Tổng Giuse, các Đức Thánh Cha đều mời gọi chủng sinh sống tình môn đệ, tình bạn thân thiết với Chúa Giêsu, để tránh sự tầm thường và sự cô lập, xây dựng sự hiệp thông và dấn thân trọn vẹn trong tình yêu thương đối với tha nhân. Tình bạn với Chúa là nền tảng cốt lõi của đời sống linh mục tương lai và hiện tại đối với chủng sinh để anh em tìm thấy niềm vui trong ơn gọi và sự bền vững trong phục vụ. Sự cô lập sẽ khiến đời sống dâng hiến chúng ta bị tổn thương.

Ở đoạn kết, Đức Tổng Giuse nhắc lại sứ điệp mùa Chay năm nay của Đức Thánh Cha Lêô khi mời gọi chúng ta biết lắng nghe, biết ăn chay và cùng nhau bước đi. Lắng nghe được Lời Chúa, nghe được tiếng gọi của Chúa qua những người nghèo và lắng nghe được tiếng Chúa qua anh em của mình. Đức Thánh Cha mời gọi mỗi người phải hoán cải từ việc lắng nghe Lời Chúa bởi nguy cơ lớn của đời chủng sinh là học nhiều về Kinh Thánh nhưng ít để Lời Chúa đánh động con tim của mình. Điều quan trọng nhất của đời chủng sinh không phải là biết nhiều về Chúa mà là nghe được tiếng Thiên Chúa. Ngài còn mời gọi chúng ta theo một cách thế đặc biệt : kiêng bớt những lời nói gây tổn thương và đau lòng người khác, từ bỏ những lời cay nghiệt, những xét đoán vội vàng, nói xấu người vắng mặt không thể tự bảo vệ mình, tránh những lời vu khống. Đó cũng là tâm tình của chúng ta trong cuộc sống chung bởi chúng ta đang cùng nhau bước đi trên hành trình sứ vụ ơn gọi, của công cuộc đào tạo và tự đào tạo.

Trở lại bài Tin Mừng, Đức Tổng nhắc lại việc chàng thanh niên đã khước từ tình yêu khởi xuất từ Thiên Chúa. Đức Tổng căn dặn anh em cũng phải hết sức cẩn trọng trong cuộc sống của mình. Tưởng rằng một con tim trọn vẹn với Chúa, với Hội Thánh và với nhau trong tâm thế một chủng sinh đạo đức khi gìn giữ nội quy, giờ giấc một cách đầy đủ như chàng thanh niên vậy nhưng khi Chúa mời gọi bước vào một không gian mới, một tình yêu mới với Chúa thì chàng đã ‘buồn rầu bỏ đi’. Bởi đó, lòng thương xót không bắt nguồn từ kỹ năng, học tập giỏi giang mà từ trái tim hiến dâng. Noi gương Chúa Giêsu Mục Tử, trái tim của mỗi chủng sinh cũng như các linh mục không được phép ngủ yên mà phải biết rộng mở để chia sẻ, cảm nhận, đón nhận mà Kinh cầu Trái tim mời gọi chúng ta – xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa. Xin cho mỗi người biết ở lại trong Tình Yêu đã gọi chúng ta và qua người nghèo, giúp chúng ta hoán cải và trở nên dấu chỉ sống động của lòng thương xót. Nguyện xin lời của Dilexi Te vang vọng trong lòng chúng ta : con đã được yêu, thì con hãy đi và yêu, như Ta đã yêu con.

Cuối cùng, Đức Tổng và cả nhà cùng dâng lên Chúa lời cầu nguyện :

Lạy Chúa Giêsu Kitô vị Mục Tử Nhân Lành đang cúi xuống những phận người bé nhỏ, Đấng đã yêu chúng con đến cùng. Trong giờ phút này, chúng con đặt tâm hồn trước nhan thánh Chúa, không mang theo thành tích hay công trạng của cuộc đời mà chỉ mang theo những trái tim mong manh của những người đã được yêu.

Lạy Chúa chúng con tạ ơn Chúa vì đã mời gọi chúng con làm môn đệ của Ngài. Không phải vì chúng con thánh thiện hơn người khác nhưng vì Chúa muốn tỏ bày lòng thương xót của Ngài qua chính sự nghèo khó của mỗi người chúng con. Xin tha thứ cho chúng con nhiều khi sống bổn phận nhưng thiếu tình yêu, những lúc trái tim chúng con chai đá trước nỗi đau của anh chị em mình. Xin cho chúng con luôn nhớ rằng chúng con chỉ có thể yêu vì trước hết chúng con đã được yêu. Xin đặt trái tim chúng con vào trong Thánh Tâm Chúa để trái tim mệt mỏi của chúng con được nghỉ ngơi, chữa lành và thắp lại ngọn lửa ban đầu của tiếng gọi. Xin dạy chúng con biết nhận ra Chúa nơi những người bị lãng quên, bị bỏ rơi bên lề xã hội, những phận người không có tiếng nói và kể cả nơi những anh em đang sống bên cạnh chúng con. Xin cho chúng con đừng chỉ làm việc cho người nghèo nhưng còn biết lắng nghe những người bên cạnh để cùng nhau đến gần Chúa hơn mỗi ngày. Xin cho chúng con trở nên những chứng nhân của lòng thương xót. Xin cho Lời Chúa trong Dilexi Te vang vọng trong lòng chúng con : con đã được Ta yêu thì hãy đi và yêu, như Ta đã yêu con.

Xin phó thác đời chủng sinh chúng con trong tay Mẹ Maria La Vang. Xin Mẹ dạy chúng con biết yêu bằng trái tim khiêm hạ và trung tín, để chúng con nhận ra Chúa luôn yêu thương và mời gọi mỗi người thực hiện và sống tình yêu đó trong mỗi phút giây cuộc đời.

Ước mong rằng qua bài huấn đức của Đức Tổng Giuse Đặng Đức Ngân, quý Thầy của Đại Chủng viện Huế kín múc được những ơn ích thiêng liêng cho Tuần Thánh 2026, để cùng bước đi với Chúa Kitô trên con đường Thập giá, và sẵn sàng tâm hồn để hướng đến niềm vui Đại lễ Phục Sinh sắp tới.

Thực hiện: Ngọc Sáng - Tường Phụng

Ảnh: Thiện Tâm