Đức cha Eugène-Marie-Joseph Allys sinh ngày 12 tháng 2 năm 1852 tại Paimpont (Rennes, Ille-et-Vilaine). Ngài gia nhập và nhận nghi thức cắt tóc tại Chủng viện Hội Thừa sai vào ngày 27 tháng 9 năm 1872. Được truyền chức linh mục ngày 10 tháng 10 năm 1875, ngài lên đường đến Bắc Đàng Trong vào ngày 16 tháng 12 năm 1875. Ngày 30 tháng 1 năm 1908, ngài được bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa Phacuse kiêm Đại diện Tông Tòa Bắc Đàng Trong. Được Đức Giáo hoàng ban tước Trợ tá Ngai tòa Giáo hoàng, Ngài từ nhiệm năm 1931 và qua đời tại Huế vào ngày 23 tháng 4 năm 1936.

Eugène-Marie-Joseph Allys (1) chào đời ngày 12 tháng 2 năm 1852 tại một thôn nhỏ thuộc giáo xứ Paimpont, gần khu rừng Brocéliande nổi tiếng, nơi từng được các thi sĩ vùng Breton ca ngợi. Cha mẹ ngài là những người có gia cảnh nghèo, nhưng rất sùng đạo. Trong số tám người con làm nên gia đình tốt đẹp này, có hai linh mục. Người anh cả linh mục đã qua đời cách đây vài năm khi đang phục vụ với tư cách là linh mục quản xứ Langon thuộc giáo phận Rennes, và một nữ tu, Sơ Eulalie, qua đời tại Pléchatel.
Eugène bắt đầu việc học tại nhà xứ Paimpont, sau đó được gửi đến Tiểu Chủng viện Saint-Méen, nay đã chuyển về Châteaugiron, và sau một thời gian ngắn theo học tại Đại chủng viện Rennes, ngài gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Hải ngoại.
Được thụ phong linh mục vào ngày 10 tháng 10 năm 1875, cha Allys đã lên đường vào ngày 16 tháng 12 cùng năm để đến làm việc tại Miền Truyền giáo Bắc Đàng Trong.
Đức cha Sohier, khi đó là Đại diện Tông Tòa, đã giao cho vị thừa sai mới này nhiệm sở nhỏ Cô Nhi viện tại Kim Long, gần kinh đô An Nam. Ngài chăm sóc trẻ mồ côi, nhưng bổn phận đầu tiên của ngài là học ngôn ngữ. Đức cha Sohier đã nhanh chóng biết đến và đánh giá cao ngài. Cảm mến những phẩm chất tâm hồn và trí tuệ của ngài, Đức Cha từng nhận xét với một linh mục người An Nam: "Người anh em mới này rồi sẽ trở thành Bề trên của Miền Truyền giáo". Một lời tiên tri đã trở thành hiện thực ba mươi hai năm sau đó.
Vào thời điểm ấy, An Nam đang được hưởng sự bình yên tương đối nhờ vào hiệp ước năm 1874, vốn ban quyền tự do tôn giáo cho thần dân. Đức Đại diện Tông Tòa đã nhân dịp này thực hiện chuyến thăm mục vụ tại Quảng Bình. Mệt mỏi sau những năm tháng của sứ vụ tông đồ đầy gian nan, thời gian mà ngài hầu như luôn buộc phải ẩn núp, ngài đã lâm bệnh kiết lỵ trầm trọng tại Kẻ Sen, một họ đạo lâu đời từng nhiều lần cho Đức Cha ẩn náu trong suốt những cuộc bách hại khốc liệt dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Hay tin, cha Allys lập tức lên đường đến Quảng Bình và đã đến nơi kịp lúc để lãnh nhận phép lành từ Đức Giám mục của mình cũng như ban các Bí tích sau cùng cho Đức Cha. Đức Giám mục Đại diện Tông Tòa qua đời vào ngày 3 tháng 9 năm 1876. Sau khi dự tang lễ, cha Allys trở về Huế và tiếp tục công việc chăm sóc trẻ mồ côi cho đến khi được Đức cha Pontvianne bổ nhiệm làm Bề trên Đại Chủng viện. Thực ra, ngài không mấy mặn mà với trách vụ này, và dù luôn nỗ lực chu toàn nó một cách tận tụy, ngài vẫn mong mỏi được sai đến tại một giáo hạt. Nguyện vọng của ngài đã thành hiện thực không lâu sau khi Đức cha Pontvianne qua đời vào ngày 30 tháng 7 năm 1879.
Quả vậy, vào năm 1880, Đức cha Caspar đã bổ nhiệm cha Allys về nhiệm sở Dương Sơn, một họ đạo lâu đời và cũng là cánh đồng truyền giáo của Chân phước François Jaccard. Dưới sự hướng dẫn của một linh mục người An Nam đáng kính, vị thừa sai trẻ đã nhanh chóng làm quen với phong tục tập quán của xứ sở. Năm 1883, hòa bình lại bị phá vỡ : người Công giáo bị thảm sát ở nhiều nơi, và đến lượt mình, họ đạo Dương Sơn cũng bị đe dọa. Một ngày nọ, cha Allys nhận được một lá thư từ Đức cha Caspar với nội dung như sau: "Một pháp lệnh của Nhiếp chính Tường yêu cầu tất cả nam giới khỏe mạnh của vương quốc phải sẵn sàng cho mọi yêu cầu triệu tập, với đầy đủ vũ khí và lương thực. Chúng ta không còn hy vọng cứu độ nào khác ngoài Thiên Chúa. Ngay khi có hiệu lệnh, cuộc tàn sát sẽ bắt đầu. Tất cả những gì còn lại đối với chúng ta là chuẩn bị cho các Kitô hữu của mình được chết lành." Về sau, Đức cha Allys đã nói: "Thật là những ngày tháng đầy thống khổ đối với các mục tử. Chẳng có gì kinh khủng hơn những lời đe dọa giết chóc cứ liên tục dội đến tai chúng tôi, gieo rắc nỗi hoảng loạn nơi các Kitô hữu của chúng tôi; cũng chẳng có gì làm nản lòng hơn sự bất định triền miên về ngày mai!"
Trong suốt thời gian này, cha Allys đã thực hiện sứ vụ đầy hiệu quả và biết mang lại niềm an ủi thiêng liêng giúp các tín hữu vững vàng vượt qua cơn thử thách. Những người sống sót thuộc thế hệ ấy vẫn muốn ca ngợi thái độ khiêm hạ, sự nhân lành và lòng bác ái của vị thừa sai này, người đã chiếm trọn trái tim của họ. May mắn thay, Dương Sơn đã thoát nạn. Chỉ một số ít họ đạo ở phía nam và phía tây tỉnh Huế bị triệt hạ gần như hoàn toàn. Sau đó, ngài Tricou đã đến Huế với tư cách là Bộ trưởng Đặc mệnh toàn quyền Pháp để can ngăn Nhiếp chính Tường và chính quyền An Nam. Vị Bộ trưởng này đã kiên quyết phủ nhận cả những sự thật hiển nhiên nhất, khăng khăng cho rằng không hề có ai oán hận người Công giáo! Sự can thiệp của đại diện phía Pháp ít nhất cũng mang lại một kết quả tích cực: ngăn chặn được các vụ thảm sát khác. Tiếc thay, khoảng thời gian bình yên nhờ sự can thiệp của Pháp lại chẳng kéo dài được bao lâu.
Quả thực, vào ngày 5 tháng 7 năm 1885, sau khi Tướng de Courcy chiếm được Huế, vị vua trẻ Hàm Nghi cùng quan phụ chính đại thần thứ hai là Tôn Thất Thuyết đã rút về lánh nạn tại thành Cam Lộ, nằm cách Huế khoảng 80 km về phía tây bắc. Quan Phụ chính đại thần thứ nhất không rời kinh đô, nhưng, theo sự thống nhất với đồng sự, ông đã ra lệnh cho các nho sĩ khuấy động cả nước vùng lên chống lại người Pháp và người Kitô hữu. Mệnh lệnh này đã được thi hành triệt để. Tại giáo xứ ở Quảng Trị, nằm ở phía bắc Huế, hậu quả để lại là một thảm kịch kinh hoàng. Một cánh quân Pháp đã xuất phát từ Huế nhằm chiếm giữ thành của tỉnh này, nhưng khi họ đến nơi thì mọi sự đã quá muộn. Chỉ trong vòng vài giờ, hơn một nửa số người Kitô hữu đã bị thảm sát, và mọi họ đạo tại đây đều bị tàn phá. Theo lệnh của Đức cha Caspar, cha Allys đã tháp tùng cánh quân viễn chinh này. Cha Allys viết : "Vào đêm ngày 7 rạng sáng ngày 8 tháng 9 năm 1885, chúng tôi nhìn thấy ngọn lửa đang thiêu rụi họ đạo Kẻ Văn. Sáng ngày mùng 8, chúng tôi đi qua những ngôi làng đã bị thiêu rụi là Ngô Xá và Tri Lễ. Đối diện Cổ Vưu, chúng tôi bắt gặp những thi thể bị hủy hoại của tám đứa trẻ... Tại nhiều nơi, người dân đã bị thiêu sống. Ở họ đạo Dương Lộc, cuộc thảm sát thật kinh hoàng: bốn linh mục bản xứ, khoảng năm mươi nữ tu cùng từ 2.500 đến 3.000 giáo dân thuộc năm giáo xứ đã thiệt mạng tại đó bởi lửa, giáo và gươm."
Tuy nhiên, giữa bao tai ương ấy, cha Allys cũng nhận được những niềm an ủi rất ngọt ngào. Trên đường đến Cổ Vưu, ngài gặp một cụ bà khoảng bảy mươi tuổi, đang nằm trước ngôi nhà đã bị thiêu rụi; một ngọn giáo đâm xuyên qua hai má bà, và bên cạnh bà là hàng chục thi thể cháy đen. Vị thừa sai tiến lại gần và hỏi xem bà có đau đớn lắm không và liệu bà có muốn xưng tội hay không. Bà giáo dân tội nghiệp này đáp: "Muốn giết tôi thì cứ giết, tôi sẽ không chối bỏ đức tin đâu." Ngài bảo những người An Nam đi cùng hỏi lại bà ; câu trả lời vẫn y như vậy. Người anh em của chúng tôi đã ban phép xá giải cuối cùng cho bà, và bà đã qua đời như một vị tử đạo.
Cha Allys đã lưu lại một thời gian tại Quảng Trị, nơi các sĩ quan Pháp tập hợp những người sống sót sau biết bao vụ thảm sát; sau đó, ngài tiếp tục đến An Ninh, nơi Tiểu Chủng viện, vốn bị quân nổi dậy bao vây suốt ba tuần lễ đằng đẵng, vừa được giải thoát. Ngài đã lưu lại một tháng cùng cha Dangelzer, quyền Đại diện của Miền Truyền giáo, tại Di Loan, một họ đạo gần Tiểu Chủng viện từng bị tàn phá bởi giới nho sĩ và tay sai của họ, trước khi trở về Huế để báo cáo sứ mạng của mình với Đức cha Caspar. Sau đó, ngài được bổ nhiệm làm cha sở Phủ Cam kiêm hạt trưởng hạt Bên Thủy.
Giáo xứ Phủ Cam chỉ có vỏn vẹn 500 giáo dân, còn giáo hạt này bao gồm một vài họ đạo nghèo, trong đó có những họ đạo đã bị tàn phá nặng nề bởi các cuộc bách hại đạo. Cha Allys đã dũng cảm bắt tay vào công cuộc tái thiết từ những đổ nát do các cuộc bách hại để lại. Ngài đã nỗ lực hiệu quả đến mức vào năm 1910, khi rời nhiệm sở, họ đạo Phủ Cam đã có gần 2.400 tín hữu thực hành đức tin, và toàn giáo hạt lên tới hơn 11.000 người. Các cuộc trở lại diễn ra chủ yếu trong tầng lớp nghèo. Cha Allys thích nói : "Lời của Chúa:‘pauperes evangelizantur’ (người nghèo được loan báo Tin Mừng) được chứng thực mỗi ngày". Nhưng không chỉ người nghèo mới trở lại; còn có cả những cuộc trở lại trong tầng lớp thượng lưu của xã hội An Nam, và thậm chí là các thành viên hoàng gia. Chính cháu gái của vua Minh Mạng là người đầu tiên đến xin trở thành Kitô hữu. Chừng nào chỉ có bà công chúa Công giáo này, thì giới chức trách cấp cao vẫn chưa thấy lo ngại. Nhưng khi triều đình hay tin sự trở lại đạo Công giáo của hai vị hoàng tử khác, là anh em họ của bà công chúa đã theo đạo, họ liền thấy đó là một mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với vương quốc. Hai tân tòng này đã bị bắt giữ với cáo buộc mưu phản và bị kết án tử hình. Cha Allys đã lên tiếng can thiệp với Toàn quyền Đông Dương, ngài de Lanessan, và, nhờ sự can thiệp này, án tử hình đã được chuyển thành hình phạt lưu đày vĩnh viễn đến tỉnh Quảng Nam, mà từ nơi đây các hoàng tử được triệu hồi về không lâu sau đó.
Bất chấp cuộc bách hại này và ngay vào thời điểm nó đang diễn ra khốc liệt nhất, một nhà sư tên là Thuyền, cũng là cháu của vua Minh Mạng, đã xin trở thành Kitô hữu, sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng về đạo Công giáo. Ông cùng toàn thể gia đình đã được Đức cha Caspar rửa tội một cách trang trọng, sau một thời gian được học giáo lý tại Phủ Cam. Ngày nay, ông có đông đảo con cháu; đáng chú ý là một người con trai của ông, ông Ưng Trạo, đã kết hôn với chắt gái của Chân phước Phaolô Bường. Họ có khoảng mười lăm người con: một người là đệ tử của Dòng Phanxicô ở Thanh Hóa, và hai người con gái đã đi tu, một người vào Dòng Kín ở Huế và người kia gia nhập Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm. Kể từ khi ông Thuyền và gia đình theo đạo, nhiều hoàng tử và công chúa cũng đã trở thành Kitô hữu và không còn bị lo lắng nữa. Sự thu hút đến đạo của chúng ta, vốn bắt đầu ở giáo hạt Bên Thủy, đã nhanh chóng lớn mạnh và lan rộng khắp Miền Truyền giáo.
Nhưng thật không may, phong trào này đã bị cản trở bởi một số nhân vật lo sợ viễn cảnh lương dân bị người Công giáo lấn át, cũng như e ngại việc mất đi tầm ảnh hưởng của chính họ vào tay Miền Truyền giáo. Giai đoạn 1898, 1899, 1900 là một thời kỳ thực sự ảm đạm, khi các tân tòng trở thành nạn nhân của những vụ từ chối xét xử trắng trợn nhất. Quá nhiều người, vốn còn non yếu trong đức tin, đã cảm thấy miễn cưỡng buộc phải chối bỏ đức tin. Chính lúc đó, cha Allys, cùng các nhà thừa sai và Giám mục của các ngài, đã nhiều lần vận động chính quyền để bảo vệ các Kitô hữu là nạn nhân của sự bách hại thâm độc; các ngài không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như mong đợi.
Tuy nhiên, chắc chắn rằng nếu một số họ đạo, đặc biệt là tại Thừa Thiên, không bị xóa sổ hoàn toàn trong cơn biến loạn, và nếu các tân tòng thể hiện lòng can đảm phi thường trước các quan tòa, thì tất cả là nhờ vào vị hạt trưởng Bên Thủy. Ngài đã kịp thời đưa ra những lời khuyên bảo trong giai đoạn đầy thử thách ấy và can thiệp đúng mực để bảo vệ những người Kitô hữu bất hạnh này. Khi tình hình đã ổn định trở lại, cha Allys vẫn tiếp tục làm việc để hoán cải lương dân mà không hề nản lòng, đồng thời chăm lo việc xây dựng một ngôi nhà thờ lớn tại Phủ Cam. Ngôi nhà thờ này đã được Đức cha Caspar làm phép trọng thể vào tháng 8 năm 1902 và được Đức cha Chabanon cung hiến ba mươi năm sau đó. Chính tại ngôi nhà thờ này, hiện là nhà thờ quyền chính tòa của Vùng Đại diện Huế, Đức cha Allys đã lãnh nhận chức giám mục, vào ngày 24 tháng 5 năm 1908, từ tay Đức cố Giám mục Mossard, Đại diện Tông Tòa Sài Gòn.
Chúng ta biết Đức cha Allys như thế nào khi còn là nhà thừa sai, thì ngài cũng sẽ như thế trên cương vị Giám mục, tức là vị tông đồ tràn đầy lòng nhiệt thành thánh thiện trong công cuộc hoán cải những người chưa tin vào Chúa và tìm kiếm các trẻ em bị bỏ rơi hoặc đang nguy tử. Trong những dịp các linh mục thuộc Vùng Đại diện đến thăm, ngài luôn khích lệ họ trở thành những nhà thừa sai cải đạo đích thực, đồng thời cũng rộng rãi trợ giúp họ, trong phạm vi khả năng cho phép, về việc dạy cho người dự tòng, hình thành các họ đạo mới, xây dựng nhà nguyện, v.v. Nhờ đó, trong suốt 23 năm lãnh đạo Miền Truyền giáo Huế, ngài đã có niềm vui chứng kiến hơn 37.000 người, bao gồm cả người lớn và trẻ em, gia nhập Giáo hội Công giáo.
Thay vì gán cho mình công trạng về những cuộc trở lại đạo này, ngài dâng lời tạ ơn Thiên Chúa nhân lành, Đấng "hết lòng yêu thương Miền Truyền giáo Huế bé nhỏ nghèo nàn". Ngài cũng cảm ơn các cộng sự người Pháp và người An Nam, những người đã làm nên những điều kỳ diệu nhờ lòng nhiệt thành, cùng các tín hữu đạo hạnh, và đặc biệt là các Nữ tu của Thánh Têrêsa, những người đã dùng lời cầu nguyện và sự hy sinh để thu hút phúc lành của Thiên Chúa xuống trên Vùng Đại diện; ngài không nhận công trạng gì cho mình.
Chính vì lòng yêu mến các linh hồn mà vào năm 1921, ngài đã thành lập Dòng Con Đức Bà Chẳng Hề Mắc Tội Tổ Tông (2) tại Huế. Các nữ tu người An Nam này được Đức cha Chabanon, khi đó là Bề trên Đại chủng viện, hướng dẫn về đời sống siêu nhiên, và được các Nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres đào tạo về phương pháp sư phạm. Dưới thời Đức cha Allys làm Giám mục, họ đã mở một số trường sơ cấp và tiểu học, đồng thời quản lý hai cô nhi viện; ngoài ra, họ còn điều hành một bệnh viện và một phòng khám do cha Fasseaux thành lập với sự hỗ trợ của Hội Bảo trợ y tế. Mới đây, họ đã chuyển đến một khu vực đông dân cư tại thành phố Huế, nơi có cả người An Nam và người Hoa sinh sống, để dạy dỗ cho khoảng một trăm trẻ em, mà hầu hết các em là lương dân.
Cùng một lý do đó mà Đức cha Allys đã thành lập Dòng bản xứ Anh Em Hèn Mọn Thánh Tâm Chúa Giêsu (3). Ngài từng mong muốn giao phó việc đào tạo họ cho Dòng Anh Em Huấn giáo Kitô ở Ploërmel. Tiếc thay, các Anh Em tốt lành này đã không thể đáp lại lời kêu gọi của Đức Giám mục. Ngài đã giao phó việc hướng dẫn các giáo-giảng-viên này cho cha Cẩn, người về sau đã trở thành Đại diện Tông Tòa Bùi Chu, ở Đàng Ngoài. Hiện nay, họ đang điều hành bốn ngôi trường, và có cơ sở để hy vọng rằng, trong tương lai gần, họ sẽ có thể được dùng vào công việc giảng dạy cho các dự tòng, đúng theo ước nguyện của vị sáng lập họ.
Trường Thiên Hựu (Providence) tại Huế, trường trung học Công giáo đầu tiên ở Đông Dương, cũng là công trình của Đức cha Allys. Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế người Canada gốc Pháp đến từ Sainte-Anne-de-Beaupré, khi đặt chân tới Đông Dương vào năm 1925, đã luôn tìm thấy nơi vị Giám mục đáng kính này một người cha thân thương và một người bảo trợ trung thành. Tuy nhiên, ngài đã không đợi đến khi các tu sĩ này sang mới bắt đầu đáp ứng nguyện vọng của những thanh niên An Nam mong muốn sống đời chiêm niệm.
Sau một thời gian dài thử thách cha « thánh » Denis mà Thiên Chúa nhân lành đã chọn cho công trình đầy công đức này, cuối cùng, Đức Cha đã cho phép ngài định cư tại những ngọn đồi hoang vu ở Phước Sơn và thành lập đan viện Xitô đầu tiên tại Đông Dương. Ngài luôn là người nâng đỡ cho đan viện trong cả những lúc thuận lợi lẫn gian nan; và, để đảm bảo sự ổn định cho cơ sở mới hình thành này, ngài đã không ngần ngại ban cho họ một trong những nhà thừa sai xuất sắc nhất của mình, cha Mendiboure, giờ đây là cha Bernard, Bề trên đan viện. Sự phát triển thịnh vượng của nhánh dòng Xitô này giữa chốn hoang sơ chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy rằng nó là do Thiên Chúa muốn.
Những phẩm chất tốt đẹp của Đức nguyên Giám mục của chúng tôi, sự cuốn hút trong cách trò chuyện của ngài, sự đơn sơ giản dị đầy tử tế, nhã nhặn và đáng mến, lòng tận tụy hết mực đối với người dân An Nam cũng như đồng bào mình, cùng những phục vụ to lớn mà ngài đã dành cho chính quyền cả hai nước trong nhiều dịp đã thu hút sự chú ý của giới chức trách của An Nam và Pháp. Theo đề nghị của ông Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương, Đức cha Allys đã được trao tặng tước Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh theo sắc lệnh đề ngày 5 tháng 2 năm 1921. Vào ngày 14 tháng Bảy cùng năm đó, ông Pierre Pasquier, khi ấy là Khâm sứ Trung Kỳ, đã long trọng trao tặng ngài huân chương này trước hàng ngũ quân đội đồn trú, trước sự hiện diện của Hoàng đế An Nam cùng triều đình, ngay tại cổng chính của hoàng cung, chính là nơi mà chín mươi năm trước, vào ngày 30 tháng 11 năm 1835, Chân phước Joseph Marchand, người bị kết án chịu khổ hình tàn khốc bá đao, đã bị giải đến trước mặt Vua Minh Mạng trước khi bị đưa lên ngọn đồi gần kinh thành để hành quyết vài giờ sau đó. Cùng năm 1921 này, vào ngày 16 tháng Tư, Vua Khải Định đã trao tặng Đức cha Allys huy chương Kim Khánh ngoại hạng, phần thưởng cao quý nhất của vương quốc dành cho những nhân vật cấp cao. Bốn năm sau, vào năm 1925, nhân dịp kỷ niệm Kim khánh Linh mục, Đức Giám mục khả kính này đã được phong tước Đại Quan Đại Nam Long Tinh và được Đức Giáo hoàng ban tước Trợ tá Ngai tòa Giáo hoàng.
Lễ Kim Khánh diễn ra thật rực rõ. Tinh thần "cor unum et anima una" (một lòng một ý) trong sách Công vụ Tông đồ đã được cộng đồng người Pháp và người An Nam cùng thể hiện khi họ dành tặng những tình cảm quý mến rất xứng đáng cho Đức Cha mừng kim khánh. Ông Pasquier, Khâm sứ, đã tận dụng dịp này để khắc họa, qua một bài phát biểu đầy cuốn hút, chân dung đích thực của vị Đại diện Tông Tòa. Ông nói: "Khi Chính phủ Cộng hòa cài huy hiệu hoa hồng đỏ của Bắc đẩu Bội Tinh lên chiếc áo tím của ngài, đó là họ muốn tưởng thưởng nơi ngài những đức tính mạnh mẽ và vững chắc của đất nước chúng ta. Ngài thể hiện những đức tính ấy theo phong cách Pháp, với khí chất đầy can đảm mà không bao giờ đánh mất nụ cười của mình, với sự mạnh mẽ đến mức hăng say, với tinh thần lạc quan đang thổi bùng lên những ngọn lửa chập chờn..."
Trong bài tường thuật về các cuộc lễ này được đăng trên tập san Bulletin des Missions-Étrangères vào tháng 12 năm 1925, người viết đã bày tỏ mong ước rằng Miền Truyền giáo có thể tổ chức lễ Ngân khánh Giám mục của vị Bề trên đáng kính của mình vào năm 1935. Mong ước này đã được thực hiện, nhưng lúc đó, Đức cha Allys không còn là người lãnh đạo chúng tôi nữa. Gần như bị mù, ngài buộc phải từ nhiệm chức Đại diện Tông Tòa vào năm 1931 và bàn giao quyền điều hành Miền Truyền giáo cho Giám mục phó của mình là Đức cha Chabanon. Tình trạng suy yếu này đã khiến ngài rất khó nhọc, như Ngài nói, "Chúa nhân lành đã không thể gửi đến cho tôi một thập giá nào nặng hơn", nhưng ngài đã chịu đựng nó một cách kiên cường, vui vẻ và mạnh mẽ.
Trong suốt 5 năm nghỉ hưu, ngài là tấm gương đạo đức sâu xa cho tất cả các linh mục thuộc Miền Truyền giáo Huế. Cũng như trong quá khứ, cánh cửa phòng ngài luôn rộng mở cho tất cả các khách đến thăm. Những lúc rảnh rỗi, ngài thường đến nhà nguyện để chầu Chúa Giêsu Thánh Thể và dâng lên Người những nhu cầu của Hội cũng như của Miền Truyền giáo.
Đến đầu tháng 4 năm 1936, Đức Giám mục khả kính trông mệt mỏi hơn thường lệ, và hành trình dương thế của ngài dường như đang dần đi đến hồi kết. Vì vậy, vào Thứ Năm Tuần Thánh, ngày 9 tháng Tư, Đức cha Chabanon đã ban Bí tích Xức dầu Bệnh nhân cho ngài. Sau khi các lời nguyện kết thúc, bệnh nhân rất đáng kính này đã xin tất cả các linh mục tha thứ cho nhiều thiếu sót mà ngài đã phạm đối với họ.
Mười bốn ngày sau, ngay vào buổi sáng ngày qua đời, ngài đã được an ủi khi nhận ra người bạn cũ là Đức cha Marcou, mà ngài còn có thể trò chuyện trong chốc lát. Sáu giờ sau, vào lúc 11 giờ, ngài đã thanh thản ra đi trước sự hiện diện của Đức nguyên Đại diện Tông Tòa Phát Diệm, cùng linh mục Lemasle, quyền Đại diện Tông Tòa, và linh mục Etchebarne, Quản lý Miền Truyền giáo. Đức cha Chabanon, bản thân cũng bệnh nặng, đã lên đường đến Tourane (4) vào ngày 24 để đáp tàu Cap Varella, chấp nhận hy sinh việc không thể tham dự tang lễ của vị tiền nhiệm.
Tang lễ đã diễn ra vào thứ Hai, ngày 27 tháng Tư. Tang lễ được tổ chức giản dị như ngài yêu cầu: "Không vòng hoa, không diễn văn, không đội danh dự". Nhưng sự hiện diện của năm vị Giám mục (Marcou, Gouin, Tardieu, Jannin và Cẩn) cùng đông đảo các nhà thừa sai và linh mục bản xứ, trong đó có những vị đến từ các Vùng Đại diện khác của An Nam, cũng như sự hiện diện của giới chức dân sự và quân sự, toàn thể các quan đại thần trong triều đình và nhiều chức sắc người An Nam, đã mang lại cho tang lễ một dấu ấn rất trang nghiêm và thành kính, thực sự xứng đáng với "vị Giám mục vĩ đại và một người Pháp tuyệt vời mà Đông Dương luôn cúi đầu tưởng nhớ với lòng kính trọng", ông Robin, Toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp, đã viết như thế cho vị Bề trên của Hội Thừa sai.
Thi hài ngài hiện an nghỉ tại một nghĩa trang khiêm tốn nằm dưới bóng nhà thờ quyền chính tòa Phủ Cam (5), mà chính ngài đã xây dựng, giữa các tín hữu của giáo xứ mà ngài yêu mến rất nhiều. Các tín hữu này hằng ngày vẫn đến cầu nguyện bên mộ phần của ngài để xin cho linh hồn ngài được an nghỉ, hoặc thậm chí để cầu xin những ơn lành từ người mà họ tôn kính như một vị thánh.
----------------------------------------------------------
(1) Tên tiếng Việt của ngài là Lý.
(2) Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm ngày nay.
(3) Dòng Thánh Tâm ngày nay.
(4) Đà Nẵng ngày nay.
(5) Ngày 6 tháng 8 năm 1986, thi hài của ngài được cải táng và đưa về nghĩa trang giáo sĩ của Tổng Giáo phận Huế, tại Thiên Thai.
----------------------------------------------------
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn : irfa.paris)
Xem Tiểu sử bản ngắn ở đây.
