Là một chuyên gia giáo luật và là tác giả cuốn « Le Choix de la rupture – Mgr Lefebvre, Rome, les sacres. 1974–2026 » (Cerf, 2026), linh mục Albert Jacquemin phân tích sắc lệnh của Bộ Giáo lý Đức tin vạ tuyệt thông đối với sáu giám mục thuộc Huynh đoàn Thánh Piô X. Sự ly giáo này vốn không mới, nhưng đã trở nên trầm trọng hơn, và các hệ quả giáo luật của nó được mở rộng áp dụng cho cả các linh mục và giáo dân chính thức gắn bó với Huynh đoàn. Các bí tích Hôn phối và Hòa giải không thành sự.

Sắc lệnh của Bộ Giáo lý Đức tin, được công bố vào ngày 2 tháng 7 năm 2026, một ngày sau lễ truyền chức tại Écône, không trừng phạt một cuộc ly giáo mới. Điều này cần được khẳng định rõ ràng để bác bỏ cách truyền thông mô tả sự kiện này như một sự đoạn tuyệt chưa từng có; Huynh đoàn Thánh Piô X đã bị tuyên bố là ly giáo từ năm 1988. Tự sắc Ecclesia Dei (ngày 2 tháng 7 năm 1988) đã xác định hành vi bất tuân nghiêm trọng của Giám mục Lefebvre là một "hành động ly giáo", và việc Đức Bênêđíctô XVI dỡ bỏ án vạ tuyệt thông đối với bốn vị giám mục vào năm 2009 đã không khôi phục sự hiệp thông trọn vẹn. Sắc lệnh của Bộ Giám mục đã làm rõ điều này, phân biệt giữa hình phạt cá nhân, vốn đã được dỡ bỏ, và tình trạng giáo luật của Huynh đoàn, vốn vẫn bất thường. Do đó, những gì văn bản năm 2026 ghi nhận không phải là một sự việc mới, mà là sự trầm trọng thêm của một tình trạng trước đây đã trở thành mang tính cơ cấu.
Việc tái thiết lập tính bất thành sự đối với bí tích Hôn phối và bí tích Hòa giải
Có hai diễn biến đáng được nhấn mạnh. Diễn biến đầu tiên thể hiện sự trở lại trạng thái trước đây, chứ không phải là một sự đổi mới. Sắc lệnh năm 2026 tuyên bố rằng bí tích Hòa giải và việc chứng hôn do các linh mục thuộc Huynh đoàn cử hành là không thành sự. Điều này có thể được coi là sự cứng rắn hơn trong lập trường so với năm 1988. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 2015, ngoại trừ duy nhất trường hợp nguy tử, những bí tích này vốn đã không thành sự, hoặc ít nhất là rất đáng ngờ, do thiếu năng quyền hoặc sự ủy quyền được nhượng bộ bởi Đấng Bản quyền. Theo một số chuyên gia giáo luật, chỉ có giả thuyết giáo thuyết về việc Giáo hội bù trong các trường hợp "nhầm lẫn chung" mới có thể cứu vãn tính thành sự của bí tích Hòa giải trong những trường hợp gây tranh cãi. Chính vì để xóa bỏ sự nghi ngờ đó mà Đức Phanxicô đã can thiệp, đối với bí tích Hòa giải vào năm 2015, rồi đối với bí tích Hôn phối vào năm 2017, do lòng quan tâm đối với các tín hữu có thiện chí, những người, mà bất chấp cả họ, đã bị đặt vào tình trạng bất định về mặt bí tích.
Sắc lệnh năm 2026 đã đóng ngoặt đơn thương xót này. Nó không tạo ra tính bất thành sự mới nào. Nó chỉ đơn thuần khôi phục lại chế độ mặc định vốn đã là chế độ cho Huynh đoàn trước đây. Sự kiện trở lại với sự nghiêm ngặt của giáo luật ban đầu có thể bị coi là một bước leo thang và nó cho thấy rõ rằng, trong vài thập niên, người ta đã quên mất việc thiếu sự hiệp thông trọn vẹn thực sự bao hàm những gì.
Diễn biến thứ hai, tinh tế hơn, là sự mới mẻ thực sự duy nhất về mặt giáo thuyết trong bản văn này. Đây cũng là hệ quả nặng nề nhất trong các hệ quả. Bản Ghi chú giải thích năm 1996 đã cẩn trọng phân biệt, đối với các tín hữu giáo dân, giữa việc tự nguyện và cố ý gắn bó với ly giáo và việc chỉ đơn thuần lui tới các cơ sở thờ tự của Huynh đoàn, vì luật Giáo hội chỉ áp dụng hình phạt đối với những hành vi được thực hiện khi đã nhận thức đầy đủ về sự việc. Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến các linh mục vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Một giáo sĩ thuộc Huynh đoàn, nếu chưa đích thân thực hiện một hành vi ly giáo cụ thể nào, có thể tự cho rằng mình - dù đúng hay sai - không phải chịu bất kỳ trách nhiệm cá nhân trực tiếp nào. Bản ghi chú đi kèm với sắc lệnh năm 2026 đã giải quyết lỗ hổng này. Giờ đây, chỉ riêng việc là thành viên của Huynh đoàn cũng đủ để cấu thành hành vi chính thức gắn bó với ly giáo, mà không cần phải có thêm một hành động riêng biệt nào. Chính sự làm rõ này, chứ không phải việc nêu tên sáu vị giám mục bị vạ tuyệt thông, đã xóa tan sự mơ hồ xoay quanh lập luận về lòng thành được chứa đựng trong đó, hay tình trạng cấp bách chủ quan, vốn được chính Huynh đoàn viện dẫn để biện minh cho sứ vụ của mình.
Chấm dứt chế độ miễn trừ
Từ đó, nổi lên ba khẳng định, thận trọng nhưng kiên quyết. Thứ nhất, tiêu chí được đặt ra vào năm 1996 dành cho giáo dân – phải có sự gắn bó tự nguyện, chứ không chỉ đơn thuần là sự hiện diện -cũng có giá trị đối với các linh mục. Nhưng, đối với linh mục, chỉ tiêu chí này là đầy đủ mà không cần phải chứng minh từng trường hợp cụ thể: một linh mục đã tự nguyện chọn thuộc về và ở lại trong Huynh đoàn thì qua đó cũng chấp nhận các lập trường giáo thuyết vốn làm nền tảng cho Huynh đoàn này. Gần bốn mươi năm sau sự kiện năm 1988, sự lựa chọn này không còn có thể được quy cho sự thiếu hiểu biết nữa : việc một giáo sĩ tán thành gắn bó với ly giáo giờ đây được cho là như vậy, nó được suy ra từ chính việc vị ấy thuộc về Huynh đoàn.
Tiếp đến, trên bình diện bí tích, sắc lệnh năm 2026 không để lại bất kỳ sự mơ hồ nào. Trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 2015, một số chuyên gia giáo luật từng lập luận rằng các bí tích hòa giải và hôn phối do các linh mục thuộc Huynh đoàn cử hành có thể thánh sự, với việc chính Giáo hội bù cho năng quyền còn thiếu nơi họ vì lợi ích của các tín hữu có lòng thành. Sắc lệnh này bác bỏ giả thuyết đó và khẳng định dứt khoát rằng các bí tích này không thành sự.
Cuối cùng, quyết định giao phó cho luật chung việc đưa các giáo sĩ và giáo dân trở lại tình trạng hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội, do các tòa Sứ thần và các Đấng Bản quyền thực hiện, thay vì một cơ chế đặc biệt như Ủy ban Ecclesia Dei, đã đánh dấu sự kết thúc của một chế độ miễn trừ. Tình trạng của Huynh đoàn không còn là một trường hợp bất thường mang tính tạm thời cần được giải quyết bằng các công cụ lâm thời nữ, nhưng giờ đây, vấn đề này thuộc phạm vi các con đường hòa giải thông thường.
-------------------
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn : Aleteia)
