Cha Thomas Michelet, Dòng Đa Minh, Giáo sư Thần học Bí tích tại Khoa Thần học Angelicum, giải thích hệ tại điều gì Huynh đoàn Thánh Piô X (FSSPX) thực sự đã phạm tội ly giáo. Ngài cho thấy tại sao sắc lệnh của Bộ Giáo lý Đức tin xác định tự sắc năm 1988, làm sáng tỏ những điểm bị tranh cãi hoặc phủ nhận, đồng thời nêu rõ hơn các hệ quả đi kèm.

Vào ngày 1 tháng 7 năm 2026, Huynh đoàn Thánh Piô X (FSSPX) đã truyền chức bốn vị giám mục mới mà không có ủy nhiệm thư của Đức Giáo hoàng, bất chấp những cảnh báo từ Đức Giáo hoàng Lêô XIV. Hành động này gợi lại hành vi ly giáo từng được giám mục Marcel Lefebvre thực hiện 38 năm trước đó, tại cùng một địa điểm và gần như cùng một ngày trong năm: ngày 30 tháng 6 năm 1988, tại Écône, thuộc bang Valais của Thụy Sĩ. Phản ứng của Giáo hội cũng tương tự, với cùng ngày ban hành là ngày 2 tháng Bảy trong cả hai trường hợp.
Các điều khoản của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II rất rõ ràng
Năm 1988, tự sắc Ecclesia Dei của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thừa nhận rằng mọi nỗ lực của Tòa Thánh nhằm ngăn chặn một sự đoạn tuyệt đều vô hiệu: "Một sự bất tuân như vậy, vốn chính nó là việc chối bỏ quyền tối thượng của Giám mục Rôma, cấu thành một hành vi ly giáo." Cuộc truyền chức giám mục đầu tiên được thực hiện mà không có ủy nhiệm thư của Đức Giáo hoàng đã dẫn đến án phạt vạ tuyệt thông đối với giám mục Lefebvre cùng bốn vị giám mục do giám mục Lefebvre truyền chức. Đức Giáo hoàng cũng đã cảnh báo thêm rằng hình phạt này có thể áp dụng cả đối với giáo dân: "Không ai được phớt lờ rằng việc công khai gắn bó với ly giáo là một tội trọng phạm đến Thiên Chúa và sẽ dẫn đến vạ tuyệt thông theo quy định của luật Giáo hội."
Trong suốt gần bốn mươi năm qua, FSSPX vẫn phủ nhận sự tồn tại của bất kỳ vụ ly giáo hay án phạt vạ tuyệt thông nào, và họ vẫn tiếp tục giữ quan điểm đó. Tuy nhiên, các điều khoản trong tự sắc của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã rất rõ ràng. Dù sao chúng rất rõ ràng đối với các chuyên gia ; chắc chắn chưa đủ rõ ràng đối với công chúng, vốn có thể bị dẫn dắt sai lệch bởi những lý lẽ ngụy biện của FSSPX, bắt đầu ngay từ chính các tín hữu của Huynh đoàn này. Do đó, trong sắc lệnh ban hành ngày 2 tháng Bảy, Bộ Giáo lý Đức tin đã lấy lại các quy định của Tự sắc năm 1988, làm sáng tỏ những điểm từng bị tranh cãi hoặc phủ nhận, đồng thời nêu rõ chi tiết hơn về các hệ quả đi kèm.
Vạ tuyệt thông ipso facto (tức khắc)
Trước hết, đây thực sự là một ly giáo. Sắc lệnh lặp lại điều này một cách dứt khoát: "Một hành vi mang tính chất ly giáo", "sự ly giáo của Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X". Bản Ghi chú giải thích kèm theo sắc lệnh còn bổ sung: "Một tội ly giáo". FSSPX có lẽ sẽ tiếp tục phủ nhận điều này. Tuy nhiên, điều đó dường như không thể chối cãi. Người ta không thể vừa tuyên bố phục tùng Đức Giáo hoàng, vị lập pháp và thẩm phán tối cao, vừa phớt lờ phán quyết của ngài về Tự sắc năm 1988; một phán quyết đã được Bộ lấy lại nguyên văn trong bản Ghi chú giải thích của mình.
Hành vi ly giáo này dẫn đến vạ tuyệt thông latae sententiae (tiền kết). Điều này có nghĩa là "phạm nhân phải chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội" (điều 1314), tức là nó được áp dụng một cách tự động mà không cần chờ đợi được tuyên bố bởi Giáo hội. Điều này khác với vạ tuyệt thông ferendae sententiae (hậu kết), "nghĩa là tội nhân không phải chịu hình phạt bao lâu chưa bị tuyên bố" (id.). Sắc lệnh nhấn mạnh điểm này bằng cách nêu rõ ba lần rằng đương sự phải chịu hình phạt này ipso facto (tức khắc). Nói cách khác, họ không bị Tòa Thánh ra vạ tuyệt thông vào ngày 2 tháng Bảy; nhưng họ đã tự đặt mình vào tình trạng vạ tuyệt thông ngay từ ngày 1 tháng Bảy khi thực hiện hành vi ly giáo đó. Do đó, việc cho rằng sắc lệnh này vô hiệu, như một số người đã bắt đầu tuyên bố, là hoàn toàn vô ích, bởi vì sắc lệnh này chỉ mang tính chất tuyên bố xác nhận, chứ không phải là văn bản thiết lập nên hình phạt vốn đã phải chịu ipso facto (tức khắc).
Việc chính thức gắn bó với ly giáo
Đâu là những người được nhắm đến? Tự sắc năm 1988 không chỉ giới hạn ở các giám mục, nhưng nó còn cảnh báo rằng các tín hữu cũng sẽ phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông latae sententiae (tiền kết) ; không phải vì hành vi truyền chức giám mục mà không có ủy nhiệm thư (điều luật 1382), nhưng vì việc chính thức gắn bó với ly giáo (điều luật 1364). Tuy nhiên, người ta nhận thấy thường nhất là chỉ các giám mục mới bị vạ tuyệt thông, trong khi việc đề cập đến giáo dân lại hầu như không được chú ý. Cần phải nói rằng, trong trường hợp của họ, tính chất ly giáo không bắt nguồn từ một hành động phụng vụ nào, nhưng đòi hỏi một sự gắn bó chính thức, một yếu tố khó xác định hơn nhiều. Trong một Ghi chú giải thích đề ngày 24 tháng 8 năm 1996, Hội đồng Tòa Thánh về các Văn bản Pháp luật đã làm rõ rằng việc thỉnh thoảng tham gia vào các hoạt động phụng vụ và các sinh hoạt của FSSPX là chưa đủ cơ sở để kết luận: điều đó phải được xem xét theo từng trường hợp (số 7). Ngược lại, Hội đồng đã coi hoạt động thừa tác vụ của các phó tế và linh mục thuộc phong trào Lefebvre trong khuôn khổ FSSPX là dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ đã gắn bó với ly giáo (số 6). Điều này cuối cùng muốn nói rằng tất cả họ đều phải chịu vạ tuyệt thông, bởi vì toàn bộ nhóm này bị coi là ly giáo.
FSSPX có thể dễ dàng phủ nhận điều này, vì các văn bản đó, dù được giới chuyên môn biết đến, lại xa lạ với đa số giáo dân. Bản Ghi chú giải thích kèm theo sắc lệnh ngày 2 tháng Bảy vừa qua đã nhắc lại sự tồn tại của các văn bản này và đón nhận những kết luận trong đó. Ghi chú này hiện xác định cách rõ ràng tất cả các thừa tác viên, được FSSPX truyền chức giám mục, không còn có thể không biết về tình trạng ly giáo của mình cũng như hình phạt vạ tuyệt thông đi kèm. Ngược lại, các giáo sĩ và tu sĩ nam nữ không thuộc về FSSPX thì không bị nhắm đến vào ngày này. Tuy nhiên, các trường học do các nữ tu điều hành mà cố ý chỉ dựa vào thừa tác vụ của các giáo sĩ của FSSPX dường như qua đó thể hiện sự gắn bó chính thức với ly giáo. Dù vậy, điều này vẫn cần được xác định theo từng trường hợp.
Các bí tích không hợp pháp và các bí tích không thành sự
Vấn đề còn lại là việc cử hành các bí tích. Không ai phủ nhận rằng các giám mục được giám mục Lefebvre truyền chức vào ngày 30 tháng 6 năm 1988, cũng như những vị được truyền chức sau đó vào ngày 1 tháng 7 năm 2026, đều là những giám mục đích thực, những người kế vị các Tông đồ. Hành vi ly giáo không làm cho việc truyền chức trở nên vô hiệu. Tương tự, các linh mục được những giám mục ly giáo này truyền chức cũng là những linh mục đích thực, nhưng họ cũng phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông do việc công khai theo nhóm ly giáo, biểu hiện rõ ràng qua tư cách thành viên của họ trong nhóm cố chấp này. Hệ quả là, họ bị cấm cử hành các bí tích và á bí tích, cũng như cấm "thi hành các giáo vụ, các thừa tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào, hoặc thực hiện những hành vi lãnh đạo" (điều 1331). Bản Ghi chú giải thích ngày 2 tháng Bảy chỉ rõ rằng các bí tích do họ cử hành là bất hợp pháp; hai bí tích trong đó thậm chí còn vô hiệu: bí tích Hòa giải (trừ trường hợp nguy tử) và bí tích Hôn phối. Quả thực, hai bí tích này đòi hỏi việc thực thi quyền thánh thẩm mà họ không có. Đối với Hôn phối, theo các quy định trong sắc lệnh Tametsi của Công đồng Trentô (khóa họp thứ 24, ngày 11 tháng 11 năm 1563), các cuộc hôn nhân bị coi là vô hiệu nếu được cử hành "không có sự hiện diện của linh mục quản xứ hoặc một linh mục khác được linh mục quản xứ hay Đấng Bản quyền ủy quyền" (Denz. 1816). Đối với bí tích Hòa giải, vì bí tích này liên quan đến một quyền bị ràng buộc, nên linh mục, ngoài năng quyền có được qua bí tích Truyền chức, còn phải có năng quyền giải tội và ban phép xá giải (điều 966–976).
Chấm dứt quy chế đặc biệt
Trong khuôn khổ Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ban sắc lệnh cho phép các tín hữu tìm đến các linh mục thuộc Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X để lãnh nhận "sự xá giải thành sự và hợp pháp" (Thư ngày 1 tháng 9 năm 2015). Quy chế đặc biệt này sau đó đã được gia hạn (Tông thư Misericordia et misera, ngày 20 tháng 11 năm 2016, số 12). Cũng trong tinh thần đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cho phép các Đấng Bản quyền địa phương cấp phép cử hành hôn phối (Ủy ban Tòa Thánh Ecclesia Dei, Thư ngày 27 tháng 3 năm 2017). Đương nhiên, tất cả các quy định này nay đã vô hiệu do hành vi ly giáo mới và việc vạ tuyệt thông đối với tất cả các thừa tác vụ chức thánh của FSSPX. Sự bất thành của hai bí tích này vốn đã bắt nguồn từ hoàn cảnh ly giáo năm 1988, mà không cần thiết phải tuyên bố điều đó; do đó, không cần thiết phải chờ đợi một văn bản đặc biệt từ Đức Giáo hoàng để hủy bỏ quy chế đặc biệt này, bởi vì việc tái diễn tình trạng ly giáo đã khiến hai bí tích này trở nên bất thành một lần nữa. Trong trường hợp này cũng vậy, Ghi chú giải thích của sắc lệnh chỉ nhằm mục đích cảnh báo điều đó cho Dân Thánh của Thiên Chúa. Đây không phải là hệ quả do sắc lệnh, càng không phải là do Ghi chú giải thích của sắc lệnh, nhưng là hậu quả trực tiếp của hành vi ly giáo.
Vì các tín hữu chính thức gắn bó với ly giáo sẽ bị vạ tuyệt thông ipso facto (tức khắc), nên họ không còn được phép rước lễ (điều 915) hay lãnh nhận bất kỳ bí tích nào khác (điều 1331), cũng như không thể lãnh nhận các ân xá (điều 996). Trái lại, các á bí tích, chẳng hạn như các phép lành, lại không bị loại trừ một cách đích danh. Dù vậy, những người chính thức gắn bó với ly giáo thường sẽ không đến các nhà thờ được gọi là "thuộc công đồng" để lãnh nhận những bí tích mà chính họ thường chẳng công nhận tính thành sự (điều này một cách lôgic dẫn đến chủ thuyết sedevacantism (cho rằng Tòa Thánh trống ngôi). Ngược lại, liệu chính hành động xin lãnh nhận các bí tích ấy có thể được xem là dấu hiệu cho thấy họ không chính thức gắn bó với ly giáo hay không, bởi vì, nếu có, hẳn họ đã không làm như vậy?
Còn quá sớm để nói về một Giáo hội song song
Do đó, sự ly giáo này dẫn đến việc hình thành một hàng giáo phẩm song song, tách biệt khỏi đấng kế vị Thánh Phêrô và các Giáo hội địa phương. Tuy nhiên, còn quá sớm để nói về một Giáo hội song song thực sự tách biệt khỏi Giáo hội Công giáo, mặc dù tình hình đang ngày càng diễn tiến theo hướng đó và sự đối đầu đang trở nên gay gắt hơn. Thực hành của Tòa Thánh là chờ đợi một thế kỷ trước khi coi họ là những người anh em ly khai và thực thi đối thoại đại kết. Khi đó, các tín hữu này sẽ không còn bị coi là mang lỗi cá nhân về tội ly giáo (sự dữ do phạm lỗi/mal de faute), mà chỉ đơn thuần gánh chịu hậu quả từ sự lựa chọn của cha ông họ, mà chính họ không muốn (sự dữ do gánh chịu hậu quả/mal de peine). Hiện tại, họ vẫn là những tín hữu Công giáo chịu sự kỷ luật nội bộ của Giáo hội. Vì hình phạt vạ tuyệt thông không nhằm mục đích biểu thị sự vĩnh viễn ra khỏi Giáo hội, nhưng là để bắt phải chịu tội ly giáo và dẫn đưa đến sự sám hối chân thành. Thủ tục tái hòa nhập do Bộ quy định sẽ có sự tham gia của các Đấng Bản quyền (giám mục giáo phận, bề trên dòng tu, v.v.) ở mức độ cao hơn so với quá khứ. Bản Ghi chú giải thích kết thúc bằng niềm hy vọng này: "Giáo hội, như một người mẹ ân cần, sẽ đón nhận với tình cảm chân thành và sự quan tâm sâu xa tất cả những ai mong muốn trở lại hiệp thông trọn vẹn."
---------------------------------
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn : Aleteia)
